Tạ Thị Mai Hương, Nguyễn Vân Thịnh, Nguyễn Thị Hạnh Hồng - Tác động của việc sử dụng hồ sơ bài tập lên sự phát triển kĩ năng nghe hiểu của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại trường Đạ[r]
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Bùi Hoàng Tân - Tình hình sở hữu ruộng đất công ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên qua nghiên cứu tư liệu địa bạ
Đoàn Thị Yến - Vua Tự Đức với vấn đề Công giáo trước và sau năm 1862 9 Trần Minh Thuận - Vấn đề ruộng đất và các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân ở tỉnh Bạc Liêu thời
Đồng Văn Quân - Các kiểu chế độ dân chủ trong lịch sử và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 21
Lê Thị Giang, Lê Thị Hương - Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng
con người 27 Cao Thị Phương Nhung, Ngô Thị Quang - Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về công tác học tập lí luận trong tác
phẩm “Diễn văn khai mạc lớp học lí luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” 33 Lưu Thu Trang - Bi kịch của nhân vật Grigori Melekhov qua mối quan hệ với hai nhân vật nữ Aksinia và
Hoàng Thị Tuyết Mai - Thế giới trăng trong thơ Nguyễn Huy Oánh 45 Nguyễn Diệu Linh - Cá sỉnh trong văn hóa ẩm thực của người Thái trắng ở xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh
Nguyễn Thị Tân Tiến, Hà Thị Hằng - Sự khác biệt về kết quả chuẩn đầu ra tin học của sinh viên học học phần
Tin học đại cương với sinh viên đạt chứng chỉ IC3 ở trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên 55 Đầu Thị Thu - Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế nghề nghiệp 61 Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh - Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn bóng
chuyền cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên 67 Lưu Quang Sáng - Một số phương pháp dạy học chữ Hán cho người Việt 73 Hoàng Thị Hải Yến - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức, lối sống cho
sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên hiện nay 79
Phùng Thị Tuyết, Nông Hồng Hạnh - Đánh giá trong dạy học qua đề án ở bộ môn tiếng Trung Quốc - Khoa
Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 85 Trần Hoàng Tinh - Thực trạng và biện pháp xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện giáo dục tính kỷ luật cho
Hoàng Thị Lý - Vai trò của hoạt động giàn giáo trong việc làm tăng khả năng đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên
Dương Thị Hồng An, Đặng Phương Mai - Đánh giá phần mềm hỗ trợ học tập và giảng dạy tiếng Anh tại
trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 103
Tạ Thị Mai Hương, Nguyễn Vân Thịnh, Nguyễn Thị Hạnh Hồng - Tác động của việc sử dụng hồ sơ bài tập
lên sự phát triển kĩ năng nghe hiểu của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị
Trần Tuấn Anh, Đỗ Văn Hải, Trần Thị Thu Thủy, Hoàng Văn Hùng - Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu
đất đai đa mục tiêu phục vụ công tác quản lý tại phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai 115 Nguyễn Thị Gấm, Đào Thị Hương - Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ ngân hàng tới sự thỏa mãn của khách
Nguyễn Thị Thanh Thủy - Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 129
Journal of Science and Technology
175 (15)
N¨m 2017
Trang 3Chu Thị Hà, Đỗ Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Giang, Lin Xiao Wu - Nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm
Trần Viết Khanh, Đỗ Thúy Mùi - Một số giải pháp phát triển nông nghiệp vùng Tây Bắc 141 Nguyễn Thị Lan Anh - Tăng cường quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung
Nguyễn Thị Giang, Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Hồ Lương Xinh - Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nấm
Đỗ Thị Vân Hương - Phân tích hiệu quả mô hình trồng cây cà phê chè (Arabica), cây mắc ca (Macadamia) tại
Đặng Ngọc Huyền Trang, Dương Thị Thùy Linh - Xác định mối quan hệ giữa nguồn đầu tư trực tiếp nước
Dương Thị Tình - Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước năm 2016 và giải pháp cho những năm tiếp theo 171 Phạm Thị Thanh Mai, Nghiêm Thị Ngoan - Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè mang chỉ dẫn
Nguyễn Thị Thảo - Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 183 Nguyễn Thị Lan Anh, Đào Thị Hương - Phát triển mối liên kết các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng chè
Trần Thùy Linh, Đỗ Hoàng Yến - Hoàn thiện các quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Ngô Thị Quỳnh Trang, Phạm Thị Thu Phương, Hoàng Thị Lan Hương - Các rào
cản trong việc áp dụng tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN tại Hà Nội 201 Phan Thị Vân Giang, Phạm Bảo Dương - Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm liên kết kinh tế trong
Trang 4Nguyễn Thị Thanh Thủy Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 129 - 134
129
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM
Nguyễn Thị Thanh Thủy*
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Việt Nam muốn thực hiện được các mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại đất nước thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
mà còn giúp nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới Nhiều cơ hội phát triển kinh tế đã mở ra như: hiệp định FTA với Hàn Quốc; hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương, Bài báo này đi từ việc phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài; phát triển; kinh tế-xã hội; Việt Nam; nền kinh tế; vai trò
Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới,
kinh tế Việt Nam đã gặt hái được những thành
công to lớn, trở thành một nước có tốc độ tăng
trưởng kinh tế tương đối cao và ổn định Quy
mô nền kinh tế phát triển, mức sống của người
dân được nâng cao và có nhiều bước tiến
trong hội nhập kinh tế thế giới Để đạt được
những thành công đó có sự đóng góp không
nhỏ của khu vực kinh tế FDI Trong bối cảnh
tích lũy không đáp ứng nhu cầu đầu tư, FDI
thực sự là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho
đầu tư phát triển Ngoài ra, FDI còn góp phần
đáng kể vào thu ngân sách; chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công
nghiệp; tạo việc làm, tăng năng suất lao động;
đổi mới và chuyển giao công nghệ; Khu vực
kinh tế FDI đóng góp vào nguồn thu ngân
sách với giá trị ngày càng tăng Giai
lên 14,2 tỷ USD trong giai đoạn 2001-2010
và 23,7 tỷ USD trong giai đoạn 2011-2015 [8]
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
Trong bài báo này, tác giả tiếp cận vấn đề
nghiên cứu theo phương pháp quy nạp Đầu
tiên, tác giả quan sát tình hình phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn gần đây
Tiếp theo, tác giả tìm hiểu những yếu tố ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt
*
Tel: 0917505676, Email: nttthuy.thkt@ictu.edu.vn
Nam Yếu tố quan trọng mang tính quyết định được tác giả tập trung nghiên cứu đó chính là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Sau
đó, tác giả tiến hành phân tích, tổng quát hóa
về những vấn đề đang thực tế xảy ra: thực trạng FDI vào Việt Nam, vai trò của FDI, đánh giá những tồn tại và hạn chế của các doanh nghiệp FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Từ đó, rút ra kết luận làm thế nào để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu Tác giả tiến hành thu thập số liệu về nguồn vốn FDI vào Việt Nam từ Niên giám thống kê Việt Nam và Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch & Đầu tư trong giai đoạn 1997- 2016 Trên cơ sở đó tổng hợp số liệu cần thiết phục
vụ quá trình nghiên cứu
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Tác giả áp dụng các phương pháp đồ thị và bảng thống kê để tổng hợp, phân tích số liệu Ngoài ra tác giả còn ứng dụng phần mềm tin học Microsoft Excel và các công cụ máy tính
để xử lý dữ liệu
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Khái niệm FDI Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt
Trang 5Nguyễn Thị Thanh Thủy Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 129 - 134
được những lợi ích lâu dài trong một doanh
nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền
kinh tế khác nền kinh tế chủ đầu tư, mục đích
của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự
doanh nghiệp [10]
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO):
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi
một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)
có được một tài sản ở một nước khác (nước thu
hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty
nước này vào nước khác bằng cách thiết lập
cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công
ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở
sản xuất kinh doanh này [9]
Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước
ngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội
FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế
thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp
mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một
phần nạn thất nghiệp, giúp khắc phục được
tình trạng thiếu vốn kéo dài, giúp tiếp cận với
khoa học - kỹ thuật mới Quá trình đưa công
nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm được chi phí
và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị
trường quốc tế FDI góp phần nâng cao kiến thức quản lý đối với các doanh nghiệp trong nước FDI giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài Từ đó các nước đang phát triển
có nhiều khả năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển [10] Các hình thức FDI tại Việt Nam
- Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
- Thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế
- Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (gọi tắt là hợp đồng PPP): được thực hiện trên cơ
sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BCC): hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế [3] THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
Bảng 1 Số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2007-2016
Năm Số dự án Vốn đăng ký
(triệu USD)
Vốn thực hiện (triệu USD)
Vốn thực hiện/Vốn đăng ký(%)
Quy mô bình quân 1 dự án (triệu USD)
2007 1.544 21.348 8.030 37,62 13,83
2008 1.171 71.700 11.500 16,04 61,23
2009 839 23.100 10.000 43,29 27,53
2010 1.240 19.764 11.000 55,66 15,94
2011 1.191 15.618 11.000 70,43 13,11
2012 1.287 16.348 10.460 63,98 12,70
2013 1.530 22.352 11.500 51,45 14,61
2014 1.843 21.922 12.500 57,02 11,89
2015 2.013 22.757 14.500 63,72 11,31
2016 2.556 24.373 15.800 64,83 9,54
Tổng số 15.214 259.282 116.290 44,85 17,04
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư [1] và tính toán của tác giả
Trang 6Nguyễn Thị Thanh Thủy Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 129 - 134
131
Kể từ khi Luật đầu tư năm 1987 (sửa đổi các
năm 2005, 2014) có hiệu lực, Việt Nam đã đạt
được những kết quả khả quan trong thu hút
nguồn vốn FDI Theo thống kê của Cục Đầu tư
nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy,
giai đoạn 2007-2016 đã có 15.214 dự án FDI
được cấp phép đăng ký đầu tư tại Việt Nam
với tổng số vốn đăng ký 259.282 triệu USD
Trong đó số vốn thực hiện là 116.290 triệu
USD chiếm 44,85% số vốn đăng ký Trong
giai đoạn 2007-2016 quy mô bình quân 1 dự
án có xu hướng giảm đi Nếu như năm 2008
quy mô bình quân 1 dự án đạt 61,23 triệu USD
nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 16,04% vốn đăng
ký thì đến năm 2016 quy mô bình quân 1 dự
án giảm xuống còn 9,54 triệu USD nhưng vốn
thực hiện tăng lên 64,83% vốn đăng ký Như
vậy, chúng ta thấy rằng 10 năm trở lại đây mặc
dù quy mô bình quân 1 dự án giảm nhưng tỷ lệ
số vốn thực hiện so với vốn đăng ký có xu
hướng tăng lên rất nhiều Nguyên nhân là do
trước đây FDI chỉ chú trọng đầu tư vào các
ngành trọng điểm, vốn lớn như công nghiệp
chế biến, chế tạo hay bất động sản nên việc
giải ngân gặp nhiều khó khăn
Về đối tác đầu tư, theo số liệu thống kê của
Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu
tư), tính đến hết năm 2016 có 116 quốc gia và
vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, trong
đó Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 5.747
dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50,7
tỷ USD (chiếm 17,3% tổng vốn đầu tư); đứng
thứ 2 là Nhật Bản với 3.280 dự án còn hiệu
lực, tổng vốn đăng ký hơn 42 tỷ USD (chiếm
14,3% tổng vốn đầu tư)
Riêng trong năm 2016 đã có 95 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng
ký cấp mới, vốn tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần là 7.036,3 USD, chiếm 28,8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam Nhật Bản đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần là 2.589,86 triệu USD, chiếm 10,62% tổng vốn đầu tư; Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua
cổ phần là 2.419,09 triệu USD, chiếm 9,9% tổng vốn đầu tư
Như vậy, chúng ta thấy rằng tính đến hết năm
2016, Hàn Quốc luôn là nước dẫn đầu đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM FDI trong tổng đầu tư xã hội, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế
Trước hết, FDI là nguồn vốn bổ sung đáng kể vào tổng đầu tư xã hội FDI đã có đóng góp quan trọng vào GDP với tỷ trọng ngày càng cao Đồng thời FDI còn đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho một bộ phận lao động Nếu như giai đoạn 1997-2006, vốn FDI trung bình hàng năm chiếm tỷ trọng 18,1% vốn đầu tư toàn xã hội thì giai đoạn 2007-2016 con số này lên đến 24,3% Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trong GDP năm sau cao hơn năm trước Năm
1992, tỷ lệ này là 2% thì đến năm 2005 đạt khoảng 15%, năm 2015 là trên 17% [7] Điều này khẳng định vị trí, vai trò của khu vực FDI trong nền kinh tế quốc dân
Nguồn: Niên giám thống kê giai đoạn 1997-2016 [5]
Biểu đồ 1 FDI đóng góp vào tổng đầu tư xã hội giai đoạn 1997-2016 (%)
Trang 7Nguyễn Thị Thanh Thủy Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 129 - 134
Nguồn: Tổng cục Hải quan giai đoạn 2007-2016 [4]
Biểu đồ 2 Khu vựcFDI đóng góp trong kim ngạch xuất khẩu (%)
FDI nâng cao giá trị xuất khẩu
Trong giai đoạn 2007-2016, cùng với tốc độ
tăng trưởng trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Việt Nam có sự đóng góp rất lớn từ các doanh
nghiệp khu vực FDI, trung bình hàng năm
khu vực FDI đóng góp 53,6% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nước Nếu như năm 2007
giá trị xuất khẩu hàng hóa khu vực FDI chỉ
đạt 19,3 tỷ USD chiếm 39,7% kim ngạch xuất
khẩu của cả nước thì đến năm 2016 giá trị
xuất khẩu hàng hóa khu vực FDI đạt tới
123,93 tỷ USD chiếm 70,2% kim ngạch xuất
khẩu của cả nước
FDI tạo việc làm, phát triển nguồn nhân
lực và giúp các doanh nghiệp trong nước
học hỏi được kinh nghiệm quản lý
FDI có vai trò rất lớn về mặt xã hội như tạo
việc làm, tạo thu nhập, tăng năng suất lao
động và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực
Nếu năm 1990 tỷ lệ lao động trong khu vực
này chỉ chiếm 0,04% lực lượng lao động cả
nước, thì đến năm 2007 tỷ lệ này là 1,6%
Năm 2010, khu vực FDI đã thu hút trên 1,7
triệu lao động trực tiếp, trong đó lao động
trực tiếp làm việc trong khu vực công nghiệp
chiếm gần 80%, năm 2015 là 2,2 triệu lao
động, chiếm 4,2% so với cả nước Ngoài ra,
FDI còn tạo việc làm cho khoảng 2,5 triệu lao
động gián tiếp [8] Nhiều dự án FDI tập trung
vào những ngành sử dụng nhiều vốn và lao
động có trình độ cao Mức thu nhập trung
bình của lao động khu vực này cao gấp hai
lần so với các doanh nghiệp khác cùng ngành
Số lao động này được tiếp cận công nghệ hiện
đại, kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức lao động tiên tiến
Việc quản lý, điều hành hoạt động của các doanh nghiệp FDI giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm thực tiễn để tiếp tục hình thành các yếu tố của nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp FDI đã giúp cho các doanh nghiệp trong nước nắm rõ các quyền của mình như: quyền tự do kinh doanh; quyền
tự chủ, tự quyết các công việc của mình; quyền được bình đẳng trước pháp luật khi gia nhập thị trường
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
FDI tác động đến cơ cấu kinh tế được thể hiện chủ yếu thông qua cơ cấu vốn đầu tư Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực của nước ta có sự chuyển dịch ngày càng phù hợp với xu thế công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Hiện nay, nguồn vốn FDI chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp (64,3%) và dịch vụ (30,5%) [6] FDI là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm mới, tạo
ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân nhờ có cơ cấu kinh tế tiến bộ hơn
TỒN TẠI VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội Việt Nam là rất lớn nhưng chúng ta không thể phủ nhận một số tồn tại và hạn chế của các doanh nghiệp FDI như:
Trang 8Nguyễn Thị Thanh Thủy Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 129 - 134
133
- Hiệu quả của nguồn vốn FDI chưa cao Các
dự án FDI mới chủ yếu tập trung vào lắp ráp,
giá trị gia tăng thấp; còn quá ít dự án về kết
cấu hạ tầng; tỷ trọng dự án trong nông - lâm -
ngư nghiệp rất thấp và ngày càng giảm dần
trong khi đây là những ngành Việt Nam có
thế mạnh [2]
- Các dự án FDI hiện chỉ tập trung nhiều tại
các địa bàn có điều kiện thuận lợi về hạ tầng,
nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm,
do đó gây mất cân đối trong sự phát triển kinh
tế - xã hội giữa các vùng miền nước ta
- FDI chưa giúp Việt Nam có những bước
tiến sâu về công nghệ Trên 80% doanh
nghiệp có vốn FDI sử dụng công nghệ trung
bình của thế giới, chỉ có 5% - 6% sử dụng
công nghệ cao [1] Một số doanh nghiệp FDI
từ Châu Á như Trung Quốc, Đài Loan,… sử
dụng công nghệ kỹ thuật lạc hậu, gây ô nhiễm
môi trường: công ty Vedan, Miwon, Formosa,
Lee&Men…
- Tỷ lệ vốn thực hiện còn thấp so với vốn
đăng ký Nhiều dự án FDI chậm triển khai,
giãn tiến độ, chưa bảo đảm tính bền vững
- Một số doanh nghiệp FDI có hiện tượng
chèn ép các doanh nghiệp trong nước, nâng
khống giá trị vốn góp,…
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT FDI VÀO
VIỆT NAM
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư
trực tiếp nước ngoài: Ban hành thêm nhiều
chính sách ưu tiên thu hút các dự án FDI có
công nghệ tiên tiến hiện đại, thân thiện với môi
trường, tăng cường liên kết với các doanh
nghiệp trong nước Tập trung thu hút FDI vào
các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp
phục vụ nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế, có
hàm lượng tri thức cao, phát triển kết cấu hạ
tầng Mở rộng địa bàn đầu tư trực tiếp nước
ngoài để tạo nên sự cân đối trong phát triển
kinh tế - xã hội giữa các vùng miền Kiểm soát
chặt chẽ tiến độ giải ngân của các dự án FDI
Quy định các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối
với các dự án FDI sử dụng lãng phí năng
lượng, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô
nhiễm môi trường; chèn ép các doanh nghiệp
trong nước, nâng khống giá trị vốn góp,…
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ lâu nay cần được chuyển sang nguồn nhân lực chất lượng cao hơn, chuyên môn hóa hơn để đáp ứng được yêu cầu của FDI trong thời gian tới Chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp FDI Nhà nước nên thành lập một số cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI
Cải cách thủ tục hành chính: Thực hiện cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài theo cơ chế một cửa nhằm rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục giấy tờ,… Nâng cao năng lực kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp FDI, tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công chức làm nhiệm vụ liên quan đến quản lý FDI
Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư: Xúc tiến đầu tư là hoạt động nhằm quảng cáo cơ hội đầu tư Chúng ta cần tăng cường hoạt động này bằng nhiều hình thức như: tổ chức nhiều hội thảo khoa học, các diễn đàn đầu tư; tham quan khảo sát và thông qua các phương tiện thông tin; thành lập các văn phòng ở nước phát triển,…
KẾT LUẬN Thu hút FDI là một trong những vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia bởi vai trò to lớn của
nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước Với Việt Nam, FDI đóng góp đáng kể trong tổng đầu tư xã hội, tăng trưởng kinh tế, nâng cao giá trị xuất khẩu, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, giúp các doanh nghiệp trong nước học hỏi được nhiều kinh nghiệm quản lý, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,… Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong những năm gần đây, chúng ta có thể thấy vẫn còn tồn tại một số hạn chế của các doanh nghiệp FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước Để có thể phát huy tối đa vai trò của
Trang 9Nguyễn Thị Thanh Thủy Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 129 - 134
nguồn vốn FDI và khắc phục được những hạn
chế do các doanh nghiệp FDI mang lại, Việt
Nam cần áp dụng một số giải pháp hiệu quả
như: hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư
trực tiếp nước ngoài, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, cải cách thủ tục hành chính,
nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư,…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Cục Đầu tư nước ngoài (2007-2016), Tình hình
thu hút Đầu tư nước ngoài từ năm 2007 đến năm
2016, http://fia.mpi.gov.vn
2 Nguyễn Minh Hạnh, Phạm Mai Ngọc (2013), “Để
nguồn vốn FDI đóng góp nhiều hơn cho phát triển
nền kinh tế”, Tạp chí Cộng sản điện tử,
http://www.tapchicongsan.org.vn
3 Luật Đầu tư (2014)
4 Tổng cục Hải quan (2007-2016), Tình hình xuất
nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và 12 tháng, https://www.customs.gov.vn
5 Tổng cục Thống kê (1997-2016), Niên giám
thống kê từ năm 1997 đến năm 2016,
http://www.gso.gov.vn
6 Tổng cục Thống kê (2016), Hiệu quả của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2005-2014, Nxb Thống kê, Hà Nội
7 Phạm Thanh Thảo (2015), “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong tình hình mới”,
Tạp chí Tài chính, số 609, tr 16-18
8 Nguyễn Tấn Vinh (2017), “Nhìn lại giá trị của
FDI ở Việt Nam sau gần 30 năm”, Tạp chí Kinh tế
và Dự báo, số 01, tr 31-35
9 https://vi.wikipedia.org
10 https://voer.edu.vn
SUMMARY
FOREIGN DIRECT INVESTMENT WITH THE SOCIO-ECONOMIC
DEVELOPMENT OF VIETNAM
Nguyen Thi Thanh Thuy*
TNU University of Information and Communication Technology
Vietnam wants to achieve the objectives of industrialization - modern country, the most important issue is to mobilize and effectively use foreign direct investment capital Foreign direct investment (FDI) not only plays an important role in socio-economic development but also helps Vietnam's economy integrate deeply into the world economy Many economic development opportunities have opened up: the FTA with Korea; The Trans-Pacific Economic Partnership Agreement, This article goes from analyzing the current status of foreign direct investment in Vietnam and the role
of foreign direct investment in our country's socio-economic development Thence suggesting some solutions to attract foreign direct investment into Vietnam
Keywords: Foreign direct investment; development; socio-economic; Vietnam; economy; role
Ngày nhận bài: 28/7/2017; Ngày phản biện: 10/8/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
*
Tel: 0917505676, Email: nttthuy.thkt@ictu.edu.vn
Trang 10oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS
Bui Hoang Tan - Ownership situation public field-land in Ha Chau district, Ha Tien province through studying
Doan Thi Yen - Tu Duc king’s attitude towards Catholicism before and after 1962 9 Tran Minh Thuan - The land problems and spontaneous fights of farmers in Bac Lieu province under the
French domination 15
Dong Van Quan - Types of democratic regime in the history and the present socialist democratic regime in our
Le Thi Giang, Le Thi Huong - The original of formation of Ho Chi Minh thought on human beings, human
Cao Thi Phuong Nhung, Ngo Thi Quang - Ho Chi Minh’s talk about the study of theoretics in “the orientation
speech at the opening ceremony of the first theoretics class at Nguyen Ai Quoc Institute” 33
Luu Thu Trang - The tragedy of Grigori Melekhov reflected in the relationship between Aksinia and Natalia in
Quietly Flows the Don (M Sholokhov) 39
Nguyen Dieu Linh - Onychostoma laticeps in culinary culture of white Thai people in Son A commune, Van
Nguyen Thi Tan Tien, Ha Thi Hang - The diffrences of learning outcomes of students having taken the
general informatics course with students obtaining the IC3 certicate at Thai Nguyen University of Medicine and
Dau Thi Thu - Training pedagogical profession for students through real professional activity experience 61
Nguyen Ngoc Binh, Duong To Quynh - Testing and assessing the learning outcome of the volleyball subject
for students at Thai Nguyen University of Economics and Business Administration 67
Luu Quang Sang - Some suggestions of teaching Chinese characters for Vietnamese students 73
Hoang Thi Hai Yen - Applying Ho Chi Minh’ ideology about morality in building morals, lifestyle of students
in Thai Nguyen University of Technology currently 79
Phung Thi Tuyet, Nong Hong Hanh - Assessment of the project-based teaching and learning of the students
major in Chinese at School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 85
Tran Hoang Tinh - Situation and measures for planning and directing the implementation of disciplined
education for students at centers for national defense and security education 91
Hoang Thi Ly - role of scaffolding activities in enhancing english reading skills among first year college
students 97
Duong Thi Hong An, Dang Phuong Mai - Evaluating the EFL courseware at Thai Nguyen University of
Ta Thi Mai Huong, Nguyen Van Thinh, Nguyen Thi Hanh Hong - Effects of portforlios on improving listening
comprehension skill for students: a case study at Thai Nguyen University of Economics and Business
Tran Tuan Anh, Do Van Hai, Tran Thi Thu Thuy, Hoang Van Hung - Research building multipurpose
database to service land mangement in Coc Leu ward, Lao Cai city 115
Nguyen Thi Gam, Dao Thi Huong - Influence of service quality on customer satisfaction at Vietinbank- Thai
Nguyen Thi Thanh Thuy - Foreign direct investment with the socio-economic development of Vietnam 129
Journal of Science and Technology
175 (15)
N¨m 2017