1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

VUA TỰ ĐỨC VỚI VẤN ĐỀ CÔNG GIÁO TRƯỚC VÀ SAU NĂM 1862

11 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 801,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể: Trước năm 1862 - năm triều đình Huế ký với thực dân Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất - Tự Đức có những chính sách đối xử gay gắt, không khoan nhượng với Công giáo; sau năm 1862, lại mềm[r]

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Bùi Hoàng Tân - Tình hình sở hữu ruộng đất công ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên qua nghiên cứu tư liệu địa bạ

Đoàn Thị Yến - Vua Tự Đức với vấn đề Công giáo trước và sau năm 1862 9 Trần Minh Thuận - Vấn đề ruộng đất và các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân ở tỉnh Bạc Liêu thời

Đồng Văn Quân - Các kiểu chế độ dân chủ trong lịch sử và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 21

Lê Thị Giang, Lê Thị Hương - Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng

con người 27 Cao Thị Phương Nhung, Ngô Thị Quang - Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về công tác học tập lí luận trong tác

phẩm “Diễn văn khai mạc lớp học lí luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” 33 Lưu Thu Trang - Bi kịch của nhân vật Grigori Melekhov qua mối quan hệ với hai nhân vật nữ Aksinia và

Nguyễn Diệu Linh - Cá sỉnh trong văn hóa ẩm thực của người Thái trắng ở xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh

Nguyễn Thị Tân Tiến, Hà Thị Hằng - Sự khác biệt về kết quả chuẩn đầu ra tin học của sinh viên học học phần

Tin học đại cương với sinh viên đạt chứng chỉ IC3 ở trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên 55 Đầu Thị Thu - Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế nghề nghiệp 61 Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh - Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn bóng

chuyền cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên 67 Lưu Quang Sáng - Một số phương pháp dạy học chữ Hán cho người Việt 73 Hoàng Thị Hải Yến - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức, lối sống cho

sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên hiện nay 79

Phùng Thị Tuyết, Nông Hồng Hạnh - Đánh giá trong dạy học qua đề án ở bộ môn tiếng Trung Quốc - Khoa

Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 85 Trần Hoàng Tinh - Thực trạng và biện pháp xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện giáo dục tính kỷ luật cho

Hoàng Thị Lý - Vai trò của hoạt động giàn giáo trong việc làm tăng khả năng đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên

Dương Thị Hồng An, Đặng Phương Mai - Đánh giá phần mềm hỗ trợ học tập và giảng dạy tiếng Anh tại

trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 103

Tạ Thị Mai Hương, Nguyễn Vân Thịnh, Nguyễn Thị Hạnh Hồng - Tác động của việc sử dụng hồ sơ bài tập

lên sự phát triển kĩ năng nghe hiểu của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị

Trần Tuấn Anh, Đỗ Văn Hải, Trần Thị Thu Thủy, Hoàng Văn Hùng - Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu

đất đai đa mục tiêu phục vụ công tác quản lý tại phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai 115 Nguyễn Thị Gấm, Đào Thị Hương - Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ ngân hàng tới sự thỏa mãn của khách

Nguyễn Thị Thanh Thủy - Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 129

Journal of Science and Technology

175 (15)

N¨m 2017

Trang 3

Chu Thị Hà, Đỗ Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Giang, Lin Xiao Wu - Nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm

Trần Viết Khanh, Đỗ Thúy Mùi - Một số giải pháp phát triển nông nghiệp vùng Tây Bắc 141 Nguyễn Thị Lan Anh - Tăng cường quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung

Nguyễn Thị Giang, Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Hồ Lương Xinh - Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nấm

Đỗ Thị Vân Hương - Phân tích hiệu quả mô hình trồng cây cà phê chè (Arabica), cây mắc ca (Macadamia) tại

Đặng Ngọc Huyền Trang, Dương Thị Thùy Linh - Xác định mối quan hệ giữa nguồn đầu tư trực tiếp nước

Dương Thị Tình - Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước năm 2016 và giải pháp cho những năm tiếp theo 171 Phạm Thị Thanh Mai, Nghiêm Thị Ngoan - Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè mang chỉ dẫn

Nguyễn Thị Thảo - Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 183 Nguyễn Thị Lan Anh, Đào Thị Hương - Phát triển mối liên kết các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng chè

Trần Thùy Linh, Đỗ Hoàng Yến - Hoàn thiện các quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Ngô Thị Quỳnh Trang, Phạm Thị Thu Phương, Hoàng Thị Lan Hương - Các rào

cản trong việc áp dụng tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN tại Hà Nội 201 Phan Thị Vân Giang, Phạm Bảo Dương - Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm liên kết kinh tế trong

Trang 4

Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14

9

VUA TỰ ĐỨC VỚI VẤN ĐỀ CÔNG GIÁO TRƯỚC VÀ SAU NĂM 1862

Đoàn Thị Yến*

Trường Đại học Khoa học - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Công giáo có mặt ở Việt Nam cho đến nay xấp xỉ là 500 năm Khoảng thời gian gần nửa thiên niên kỷ

đó, lịch sử Công giáo đã trải qua nhiều biến đổi, thăng trầm, nhất là ở thế kỷ XIX, dưới thời trị vì của vua Tự Đức (1847 - 1883) Lên ngôi trong bối cảnh lịch sử đất nước phức tạp cùng với áp lực nội triều,

Tự Đức lúng túng trong việc ứng xử với Công giáo Cụ thể: Trước năm 1862 - năm triều đình Huế ký với thực dân Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất - Tự Đức có những chính sách đối xử gay gắt, không khoan nhượng với Công giáo; sau năm 1862, lại mềm mỏng và hoà hợp với tôn giáo này Tuy nhiên, do không lường được âm mưu của kẻ thù nên dù có cố gắng như thế nào, Tự Đức cũng không thể cứu vãn được nguy cơ mất nước

Từ khoá: Vua Tự Đức, chỉ dụ cấm đạo, triều đình Nguyễn, Công giáo, truyền giáo

Công giáo được truyền bá vào Việt Nam từ thế

kỷ thứ XVI Người Việt Nam ban đầu không

quan tâm nhiều đến tôn giáo này vì trong giáo

lý của nó có những đặc điểm không phù hợp

với đạo đức, truyền thống của người Việt

Nhưng do sự hoạt động tích cực của các giáo sĩ

ở Đàng Trong và Đàng Ngoài nên Công giáo đã

có được vị trí nhất định

Đến thế kỉ XIX, nhà Nguyễn trị vì đất nước Bối

cảnh lịch sử Việt Nam có nhiều biến động theo

chiều hướng phức tạp nên Công giáo trải qua

những bước phát triển thăng trầm, nhất là thời

kì trị vì của vua Tự Đức (1848 - 1883) Lên

ngôi đúng lúc Việt Nam phải đối diện trực tiếp

với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, cùng

với những áp lực nội tại đã khiến cho vua Tự

Đức không sáng suốt, linh hoạt trong ứng xử

với Công giáo để rồi mắc mưu kẻ thù, thoả hiệp

từng bước, kết cục là đầu hàng, mất nước Hậu

quả là lịch sử Công giáo phải trải qua những

trang sử đẫm máu và nước mắt, gây nên những

mặc cảm nhất định trong lòng những người

công giáo

THÁI ĐỘ VÀ ỨNG XỬ CỦA VUA TỰ ĐỨC

ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO TRƯỚC NĂM 1862

Thái độ của triều đình nhà Nguyễn đối với

Công giáo

Trong cuộc nội chiến chống lại nhà Tây Sơn,

Nguyễn Ánh đã dựa vào các giáo sĩ Sự giúp đỡ

*

Tel: 0916 050 720; Email: doanyen.dhkh@gmail.com

của thế lực này đã phần nào giúp Nguyễn Ánh củng cố và phát triển được lực lượng Được đào tạo trong môi trường Nho giáo nên việc Nguyễn Ánh phải cầu viện các giáo sĩ phương Tây là điều bất đắc dĩ Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đứng trước mâu thuẫn không dễ giải quyết Một mặt là những mối liên hệ giữa chính quyền mới với các giáo sĩ không dễ sớm rũ bỏ, nhưng mặt khác, Gia Long cũng nhận ra sự bất lợi của tôn giáo này với yêu cầu nhất thể hoá về mặt tư tưởng dựa trên nền tảng ý thức hệ Nho giáo và

kể cả những nghi ngờ về dính líu chính trị giữa các giáo sĩ với chủ nghĩa thực dân Chính sách được Gia Long lựa chọn là duy trì môi trường tương đối thuận lợi cho các giáo sĩ truyền giáo nhưng luôn cảnh giác Vì vậy, dưới thời Gia Long, Công giáo có sự phát triển nhất định Tuy nhiên, trước những nguy cơ trên cả hai phương diện tư tưởng và an ninh quốc gia do Công giáo

và các giáo sĩ mang đến, Gia Long đã âm thầm truyền cho cả triều đình Nguyễn tinh thần hạn chế, tiến tới gạt bỏ Công giáo và cảnh giác với hoạt động của các giáo sĩ

Dưới thời trị vì của Minh Mệnh (1820-1841) xuất hiện nhiều sự kiện tác động đến thái độ của vua và triều đình Huế bấy giờ đối với Công giáo

và các giáo sĩ Đó là sự can thiệp của thực dân phương Tây đối với Trung Quốc; hoạt động ráo riết của thực dân Pháp mở rộng thuộc địa sang vùng Viễn Đông; sự gia tăng vai trò của Công giáo trong đời sống tư tưởng của dân chúng Trước thực tế đó, Minh Mệnh một mặt ngăn cản

Trang 5

Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14

việc truyền giáo để chấm dứt việc truyền bá

Công giáo và đề phòng hoạt động gián điệp của

một số giáo sĩ, mặt khác áp dụng các biện pháp

gạt bỏ ảnh hưởng của Công giáo trong đời sống

tín ngưỡng của nhân dân Vua Minh Mệnh đồng

thời áp dụng cả hai biện pháp, vừa mềm dẻo,

vừa cứng rắn, trước là vận động giáo dân bỏ

đạo, sau mới dùng đến hình phạt

Thời Thiệu Trị (1840 - 1847) ít biến động hơn

nhưng mức độ nghiêm trọng của các sự kiện

chính trị tăng lên Năm 1843, Favin Livêque

đem tàu Húoin đến Đà Nẵng đòi nhà Nguyễn

thả 5 giáo sĩ đang bị giam giữ Đến 1844,

Fornier Duplan mang theo tàu chiến Alemene

cập bến Đà Nẵng xin tha cho giáo sỹ Lifébre đã

bị bắt giam Ba năm sau, Lapierre cùng với R

de Genouilly đem theo chiến hạm đến Đà Nẵng

đòi thả Lefébre (trên thực tế đã được tại ngoại)

Do không được thoả mãn yêu cầu, những người

này cho bắn phá 5 chiếc thuyền đồng của triều

đình, làm chết và bị thương nhiều binh lính

Trước tình hình đó, Thiệu Trị ra sắc lệnh cấm

đạo năm 1847 Quan điểm của Thiệu Trị đối với

Công giáo cũng giống vua Minh Mệnh, chỉ đến

khi hành động của thực dân Pháp trở nên công

khai, lúc đó việc cấm đạo mới được thực hiện

gay gắt

Ứng xử của vua Tự Đức

Thời Tự Đức (1847-1883), tình hình ngày một

diễn biến phức tạp Can thiệp của thực dân Pháp

ngày càng lộ liễu Vấn đề Công giáo đặt ra

trước triều đình Tự Đức không cũng chỉ là vấn

đề tư tưởng Mọi ý kiến đều quy về một lập

luận, rằng Công giáo là của người phương Tây,

của Pháp; giáo sĩ và thực dân chỉ là một và giáo

dân sẽ là nội ứng cho sự can thiệp của người

phương Tây Những chỉ dụ cấm đạo được ban

hành và những căng thẳng tôn giáo tạo cớ cho

những căng thẳng chính trị được đẩy lên đến

đỉnh điểm Vấn đề Công giáo trở thành một

trong các lý do xâm lược của thực dân Pháp

Tự Đức lên ngôi vào năm 1847, đúng lúc thực

dân Pháp đang ráo riết, sôi sục mưu đồ xâm

lược Việt Nam Do sự đe doạ của phương Tây

nên chính sách của triều đình đối với Công giáo nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Đặc biệt khi đã

có những bằng chứng về mối liên hệ giữa việc truyền giáo và chủ nghĩa thực dân, sự can dự của các thừa sai và một bộ phận giáo dân vào hoạt động chính trị nhằm lật đổ vương triều quá công khai, đã khiến cho Tự Đức - một ông vua vốn có bản tính ôn hoà, không thể nhân nhượng với Công giáo

Năm 1848, vua Tự Đức đã phê duyệt lệnh cấm đạo: “Phàm những đạo trưởng Tây Dương lén đến nước ta thì cho quân dân mọi người ai có thể bắt được giải nộp quan, cho

300 lạng bạc… Các đạo trưởng Tây dương bị bắt cho ném xuống sông, xuống biển Đạo trưởng và giáo dân người Việt nếu tự nguyện

bỏ đạo, bước qua thánh giá thì thả ngay Nếu không đạo trưởng bị xử tử; giáo dân bị thích chữ vào mặt, nếu biết hối cải, cho phép quan đến tẩy chữ…” [5, tr.111]

Năm 1851, Hoàng Bảo - con cả của vua Thiệu Trị, do không được nối ngôi, đã âm mưu nổi loạn, kêu gọi sự ủng hộ của giáo dân Âm mưu

bị phát giác Vì vậy, vua Tự Đức ra sắc dụ cấm đạo gay gắt hơn “…Để làm sáng tỏ chính đạo cần phải bắt và liệng xuống sông tất cả các Tây Dương đạo trưởng và các đạo trưởng Việt Nam

dù chúng nó có chà đạp hay không chà đạp thập

tự giá, phải chặt chúng ra làm hai để cho hết mọi người đều biết sự nghiêm ngặt của đạo luật nước chúng ta…” [3; tr.221]

Trước nguy cơ một cuộc chiến do người Pháp phát động đang đến gần, việc giải quyết vấn đề Công giáo càng trở nên khẩn thiết Tự Đức và triều thần đã họp nhiều lần để bàn về cách đối phó với vấn đề này Có hai luồng ý kiến được đưa ra Một là yêu cầu triều đình cần phải thi hành những chính sách nghiêm ngặt hơn đối với các thừa sai và giáo dân Ý kiến thứ hai (của những người theo đường lối ôn hoà hơn): người nào bước qua cây thánh giá thì được trọng thưởng Ai không bước qua thì bị phạt tiền nặng Cuối cùng, Tự Đức vẫn duy trì con đường cấm đạo Điều này cũng dễ hiểu và dễ chấp nhận vì đồng nghĩa với việc khoan dung với

Trang 6

Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14

11

Công giáo là chấp nhận sự thất bại trước một

tôn giáo đang làm tổn hại đến đời sống văn hoá

truyền thống dân tộc và, đằng sau nó là nguy cơ

một cuộc chiến tranh xâm lược vũ trang đang

đến gần kề

Năm 1855, Tự Đức ra tiếp chỉ dụ bắt: “Các

quan ở triều được hạn một tháng, các quan ở

tỉnh ba tháng để xuất giáo… Dân chúng và binh

sĩ được hạn 6 tháng để bỏ đạo… Phải đốt hết

nhà thờ, nhà xứ” [3; tr.228] Và tất nhiên, ai

không thừa lệnh ắt đều bị xử lý nghiêm ngặt

Sau sự kiện Pháp tấn công Đà Nẵng lần thứ 2

(năm 1856), việc cấm đạo của Tự Đức lại càng

trở nên gay gắt hơn

Năm 1857, thực dân Pháp quyết định vũ trang

can thiệp vào Việt Nam Tư bản Pháp lấy cớ

trả thù việc Triều đình Huế không tiếp nhận

quốc thư của Pháp do tàu chiến Catina đem

đến tháng 9/1856 Mặt khác, chúng còn lấy lý

do “bênh vực đạo”, “truyền bá văn minh Công

giáo” để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư

luận Công giáo ở Pháp và Việt Nam Nhưng

tất cả những lí do đó đều không che đậy nổi

nguyên nhân sâu xa bên trong của âm mưu

xâm lược Đó là tìm kiếm thị trường và căn cứ

ở Viễn Đông [4,tr.11] Đến ngày 31/8/1858,

lấy cớ Triều đình Huế giam giữ, giết hại giáo sĩ

(trong đó có giáo sĩ người Tây Ban Nha), liên

quân Pháp - Tây Ban Nha đã nổ súng tại Đà

Nẵng Sự xuất hiện một số giáo sĩ và giáo dân

trong các cuộc tấn công của đội quân viễn

chinh Pháp vào Đà Nẵng, Gia Định năm 1858,

1859, 1861 làm cho triều đình Tự Đức có đủ

chứng cứ về âm mưu sử dụng tôn giáo của giặc

Pháp Điều đó làm cho triều Nguyễn truy bức

giáo dân thêm thảm khốc

Trong vòng 3 tháng đầu năm 1860, triều đình ra

3 chỉ dụ cũng nhằm mục đích tăng cường vấn

đề cấm đạo Một chỉ dụ vào tháng Giêng (ban

riêng cho một số tỉnh miền Đông Nam Bộ nhằm

ngăn chặn những giáo dân theo giặc); một chỉ

dụ vào tháng 2 (cấm đạo trưởng đến xã dân

giảng đạo) Tháng 3 năm 1860, triều đình ban

hành một sắc chỉ tiếp theo với nội dung: Sai các

địa phương xét kỹ những người dân đi đạo Gia -

tô, những người lương thiện, tình nguyện bỏ đạo thì tha Ai chưa bỏ đạo mà vốn có tình trạng gian ác thì giam lại và khuyên bảo dần dần Ai vốn có tiếng gian ác lại mê đạo không bỏ thì tống vào ngục giam, cấm vợ con và thân thích được hỏi thăm Nếu không chừa thì bị xử theo hình phạt nặng nhất

Những chỉ dụ cấm đạo của Tự Đức từ năm

1858 đến năm 1862 đã gây cho Công giáo nhiều tổn thất Trong số những chỉ dụ cấm đạo ban hành trong thời gian này thì chỉ dụ “Phân tháp giáo dân” (ban hành vào tháng 7 năm 1861) là quyết liệt nhất Theo đó:

“1 Tất cả giáo dân, đàn ông và đàn bà, người già cũng như trẻ con, đều phải phân tán vào các làng bên lương

2 Tất cả các làng bên lương phải chịu trách nhiệm canh gác các giáo dân đã được chia

về theo tỉ lệ cứ 5 người lương có một người bên giáo

3 Tất cả các làng bên giáo đều phải san bằng, phá huỷ; đất đai, vườn tược sẽ được chia cho các làng bên lương ở xung quanh, các làng này

có nghĩa vụ phải nộp thuế

4 Giáo dân đàn ông phải tách khỏi giáo dân đàn bà; đàn ông đưa đi một tỉnh, đàn bà đi một tỉnh khác để họ không thể xum họp; trẻ con sẽ giao cho gia đình bên lương nào muốn nuôi chúng

5 Trước khi đưa đi, tất cả giáo dân, đàn ông, đàn bà, trẻ con đều phải thích chữ vào mặt; ở

má trái là hai chữ tà đạo, ở má phải là tên tổng, huyện gửi tới để chúng không thể chạy trốn” [3; tr.241]

Mặc dù chỉ được thực hiện trong một năm (khi triều đình kí Hoà ước Nhâm Tuất 1862), nhưng chỉ dụ này đã gây thiệt hại lớn đối với Công giáo “Có 115 linh mục Việt Nam bị giết, 50 nữ

tu viện bị phá huỷ, 2.600 nữ tu viện phải tản mát, khoảng 100 nữ tu hi sinh Có khoảng 100 làng giáo bị phá bình địa, khoảng 2000 họ đạo mất hết gia tài, điền sản; số giáo dân bị phân phát đi các nơi ước 40.000 người Các nhà thờ, nhà chung, nhà tràng, nhà tiểu nhi, nhà chị em

đa phần bị phá huỷ…” [3; tr 242]

Trang 7

Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14

Chỉ dụ này được thi hành khá triệt để là vì nó

được ban hành đúng lúc quân Pháp đang xúc

tiến đánh Nam Bộ nên quyết tâm của triều đình

Huế càng mãnh liệt, các cấp chính quyền thực

hiện tương đối nhất quán Hơn nữa, chỉ dụ này

đánh trực tiếp vào tổ chức giáo hội của người

Công giáo khiến cho giáo dân không có cơ hội

để sinh hoạt tôn giáo đều đặn Có thể vì đó mà

một bộ phận không nhỏ những người công giáo

chưa hoàn toàn tín với đạo trở nên nhạt đạo, tiến

tới bỏ đạo,“…50 nghìn Kitô hữu bị chết và bỏ

đạo” [1; tr.320]

ỨNG XỬ CỦA VUA TỰ ĐỨC SAU HIỆP

ƯỚC GIÁP TUẤT 1862

Chưa đầy một năm sau chỉ dụ “Phân tháp giáo

dân”, quân Pháp đánh chiếm Biên Hoà, Định

Tường, Vĩnh Long Tự Đức đã cử phái đoàn do

Phan Thanh Giản cầm đầu vào Gia Định để

thương lượng Sau nhiều cuộc hòa đàm, cuối

cùng triều đình đã phải ký với Pháp Hoà ước

Nhâm Tuất (năm 1862) Cùng với sự thoả hiệp

trong vấn đề lãnh thổ ở Nam Kỳ, triều đình Huế

phải thoả hiệp với liên quân Pháp - Tây Ban

Nha về việc truyền đạo Khoản 2 của Hiệp ước

Nhâm Tuất ghi rõ “Công dân hai nước Pháp và

Tây Ban Nha được phép truyền đạo ở vương

quốc Annam Công dân của vương quốc này,

không phân biệt, nếu có ý nguyện trở thành tín

đồ Công giáo, được tự do hành đạo Không ai

được phép buộc người dân theo tôn giáo mà họ

không muốn” [1;tr 325]

Sự thoả hiệp của Tự Đức đối với liên quân làm

cho tầng lớp dân chúng nổi giận Nhân dân các

tỉnh miền Đông Nam Kỳ phản kháng dữ dội

Họ quy tội “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí

dân” (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán

nước, Triều đình bỏ dân) [1;tr.327]

Trong khi dân chúng tích cực kháng chiến thì

triều đình lại tiếp tục chính sách thoả hiệp với

người Pháp Tự Đức đã có một số động thái tỏ

ra rất hoà hoãn với giáo dân và tôn trọng khoản

2 của điều ước Nhâm Tuất Tự Đức cho thả hết

những tù giáo dân Trả lại cho họ nhà cửa,

ruộng vườn… Thậm chí, Tự Đức ra chỉ dụ kêu

gọi Văn thân ngừng ngay việc tàn sát giáo sĩ và giáo dân Vua coi đó là một biện pháp tích cực

để ngăn chặn sự mở rộng chiếm đóng của thực dân Pháp Về sau, Tự Đức ra lệnh đàn áp những cuộc khởi nghĩa của Văn thân chống lại người phương Tây

Tất cả những nỗ lực ngoại giao của Tự Đức trong việc chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ

bị thất bại Tự Đức tiếp tục có những chính sách mềm mỏng hơn đối với Công giáo: “Dân theo đạo cũng là con đỏ của triều đình, nếu ghét bỏ quá lắm, giết hết sạch cả, chỉ tổ gây ra hấn khích hại đến hoà khí, không phải là cách yên dân” [1; tr.329]

Bất chấp sự phản kháng của một bộ phận dân chúng và các tầng lớp văn thân, nho sĩ, Tự Đức vẫn kiên trì đường lối thoả hiệp Hậu quả là không những không chuộc được 3 tỉnh miền Đông mà lại mất thêm ba tỉnh miền Tây vào đầu năm 1867 Sự biến này lại khiến nhân dân

và một bộ phận không nhỏ quan quân trong triều phản ứng và lên án gay gắt Điều đó làm cho vua thêm lúng túng và rối ren Vua cử người đến thương lượng với Pháp Trong lúc triều đình lo việc thương lượng thì thực dân Pháp tranh thủ được thời gian, bình định được Nam Kỳ, biến Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp và chuẩn bị lực lượng mang quân ra Bắc

Bi kịch mà Tự Đức phải lãnh nhận đó là ông càng có những chính sách khoan hoà với Công giáo thì thừa sai và giáo dân lại càng hoạt động chống lại triều đình Kết cục là, hơn 10 năm sau Hoà ước Nhâm Tuất, cùng với việc quân Pháp chiếm Hà Nội và Bắc Kỳ, triều đình Huế lại phải ký kết Hoà ước 1874, trong đó đề cập đến Công giáo như sau: “Vua nước Đại Nam biết rõ Đạo Thiên chúa nguyên để khuyên người làm lành, nay đem các giấy tờ cấm đạo Thiên chúa

từ trước bỏ đi hết; cho phép người Đại Nam muốn theo đạo và giữ đạo, vì thế người theo giáo trong nước đều được tuỳ tiện các việc hội nhau đọc kinh, bái lễ… Từ nay về sau, giáo dân đều được đi thi ra làm quan…” [1; tr.332]

Trang 8

Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14

13

Sự khác nhau căn bản giữa Hoà ước 1862 và

Hoà ước 1874 về việc truyền đạo là: theo Hoà

ước 1862, người Pháp và người Tây Ban Nha

được phép truyền đạo ở Việt Nam Công dân

Việt Nam có quyền theo tôn giáo mong muốn

Các thừa sai và giáo dân không bị triều đình

truy bức Theo Hoà ước Giáp Tuất 1874, người

công giáo lần đầu tiên có quyền tham gia vào

các kỳ thi của triều đình và bộ máy hành chính,

tham gia vào mọi mặt của đời sống đất nước

như những công dân bình thường

Có thể thấy, sau Hoà ước Nhâm Tuất (1862),

Tự Đức ứng xử mềm mỏng với Công giáo vì lý

do: Thứ nhất, Tự Đức cho rằng việc dung hoà

với Công giáo là một biện pháp hữu hiệu để

chuộc lại ba tỉnh miền Đông đã mất và đó cũng

là sự cứu vãn trước nguy cơ sắp mất ba tỉnh

miền Tây Thứ hai, Vua cũng nhận thấy, khi

Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta, không phải

tất cả giáo dân đều theo giặc

Kết cục của thái độ ôn hoà với Công giáo là

triều đình Huế không những không lấy lại được

phần đất cát của tổ tiên ở ba tỉnh miền Đông

Nam Bộ mà còn không bảo vệ được 3 tỉnh miền

Tây Nam Bộ Điều đó cho thấy Tự Đức là

người có trách nhiệm trong việc bảo vệ phần

hương hoả, đất đai của tổ tiên nhưng biện pháp

thực hiện thì quá lầm lạc khiến cho kẻ thù thao

túng, lợi dụng và cuối cùng đã đạt được mục

đích là đặt được nền bảo hộ ở Việt Nam Khi

chiến sự xảy ra, vua quan nhà Nguyễn lại

không nhìn thấy được chân tướng của bọn thực

dân, chỉ lo bàn luận “hòa” hay “chiến”, “công”

hay “thủ” nên không chủ động tấn công để đuổi

giặc ra khỏi lãnh thổ khi có điều kiện và thời cơ,

từng bước lún sâu vào thất bại Chính vì không

am hiểu thời cuộc nên nhà Nguyễn đã không có

kế sách đối phó kịp thời Bản thân vua Tự Đức

khi thấy quân Pháp chiếm đóng mãi ở Gia Định

đã nói với Viện Cơ mật rằng: “ trước trẫm

nghĩ là người Tây dương đến Gia Định, đã no

chán thoả thích rồi, thì tất lui Không ngờ chúng

thực có lòng cố giữ” [2, tr 148]

Năm 1883, Tự Đức băng hà Quốc gia, xã tắc

rơi vào cảnh li loạn, đổ nát Lợi dụng tình hình

đó, thực dân Pháp càng lấn tới trong việc buộc triều đình Nguyễn kí kết những Hoà ước, mà thực chất là những Hàng ước Harmand (1883), Patenôtre (1884) - ghi nhận sự đầu hàng của triều đình Huế trước thực dân Pháp

KẾT LUẬN

Tự Đức lên ngôi trong bối cảnh thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược vũ trang Việt Nam Áp lực nội triều (không có con nối dõi ngai vàng, đối diện với vấn đề về tính chính thống, tính hợp thức trong việc nối ngôi) cùng với áp lực ngoại xâm khiến ông không tỉnh táo trong việc giải quyết một vấn đề “nóng” và nhạy cảm trong bối cảnh lúc bấy giờ là Công giáo Chính sách cấm đạo, sát đạo, bách đạo mà ông đưa ra là cái cớ

để người Pháp vin vào xâm lược Việt Nam Khi nhận ra được điều đó, Tự Đức đã có nhiều chính sách thay đổi trong quan hệ ứng xử với Công giáo với một niềm ngộ nhận rằng người Pháp sẽ vì điều đó mà không đánh chiếm Việt Nam Cuối cùng, những nỗ lực của ông không mang lại kết quả như mong muốn

Với vai trò là người đứng đầu đất nước, đặc biệt là trong hoàn cảnh phải đối diện với họa Tây dương, việc làm quan trọng và khẩn thiết nhất là phải bồi dưỡng sức dân, gia cố tinh thần đoàn kết của dân tộc nhưng Tự Đức lại không làm được Ông không nhận diện được bản chất của kẻ thù là lợi dụng, đội lốt Công giáo xâm lược đất nước, để rồi lúng túng, nóng vội, quẩn quanh trong việc ứng xử với

nó Sai lầm nối tiếp sai lầm Kết cục cuối cùng là Việt Nam bị xâm lược

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Quang Hưng (2007), Công giáo Việt Nam

thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1883), Nxb Tôn giáo,

Hà Nội

2 Phan Khoang (1971), Việt Nam Pháp thuộc sử

(1862 - 1945), Sài Gòn

3 Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của Thiên

chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

4 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên) (2015), Đại cương

Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam

5 Viện Sử học Việt Nam (1973), Quốc Sử quán

triều Nguyễn - Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

Trang 9

Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14

SUMMARY

TU DUC KING’S ATTITUDE TOWARDS CATHOLICISM

BEFORE AND AFTER 1962

Doan Thi Yen *

TNU University of Science

Catholicism has been in Vietnam approximately for 500 years In that time, Catholicism has witnessed ups and downs especially during the period from 1847 to 1883 which was in ruling of Tu Duc king He came to the throne in such a complex society that Tu Duc was embarrassed about treating with Catholicism For example, during the period before 1862, Tu Duc had hard policies with Catholicism However, after 1862 when Hue Court signed a Nham Tuat pact with French colonist, his attitude towards Catholicism was changed He had moderate policies with Catholicism but finally Tu Duc king could not save the independence of Vietnam in that time because of French conspiracy

Key words: Tu Duc king, royal decrees against Catholicism, The Nguyen dynasty, Catholicism,

missionary

Ngày nhận bài: 01/9/2017; Ngày phản biện:09/10/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017

*

Tel: 0916 050 720; Email: doanyen.dhkh@gmail.com

Trang 10

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS

Bui Hoang Tan - Ownership situation public field-land in Ha Chau district, Ha Tien province through studying

Doan Thi Yen - Tu Duc king’s attitude towards Catholicism before and after 1962 9 Tran Minh Thuan - The land problems and spontaneous fights of farmers in Bac Lieu province under the

French domination 15

Dong Van Quan - Types of democratic regime in the history and the present socialist democratic regime in our

Le Thi Giang, Le Thi Huong - The original of formation of Ho Chi Minh thought on human beings, human

Cao Thi Phuong Nhung, Ngo Thi Quang - Ho Chi Minh’s talk about the study of theoretics in “the orientation

speech at the opening ceremony of the first theoretics class at Nguyen Ai Quoc Institute” 33

Luu Thu Trang - The tragedy of Grigori Melekhov reflected in the relationship between Aksinia and Natalia in

Quietly Flows the Don (M Sholokhov) 39

Nguyen Dieu Linh - Onychostoma laticeps in culinary culture of white Thai people in Son A commune, Van

Nguyen Thi Tan Tien, Ha Thi Hang - The diffrences of learning outcomes of students having taken the

general informatics course with students obtaining the IC3 certicate at Thai Nguyen University of Medicine and

Dau Thi Thu - Training pedagogical profession for students through real professional activity experience 61

Nguyen Ngoc Binh, Duong To Quynh - Testing and assessing the learning outcome of the volleyball subject

for students at Thai Nguyen University of Economics and Business Administration 67

Luu Quang Sang - Some suggestions of teaching Chinese characters for Vietnamese students 73

Hoang Thi Hai Yen - Applying Ho Chi Minh’ ideology about morality in building morals, lifestyle of students

in Thai Nguyen University of Technology currently 79

Phung Thi Tuyet, Nong Hong Hanh - Assessment of the project-based teaching and learning of the students

major in Chinese at School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 85

Tran Hoang Tinh - Situation and measures for planning and directing the implementation of disciplined

education for students at centers for national defense and security education 91

Hoang Thi Ly - role of scaffolding activities in enhancing english reading skills among first year college

students 97

Duong Thi Hong An, Dang Phuong Mai - Evaluating the EFL courseware at Thai Nguyen University of

Ta Thi Mai Huong, Nguyen Van Thinh, Nguyen Thi Hanh Hong - Effects of portforlios on improving listening

comprehension skill for students: a case study at Thai Nguyen University of Economics and Business

Tran Tuan Anh, Do Van Hai, Tran Thi Thu Thuy, Hoang Van Hung - Research building multipurpose

Nguyen Thi Gam, Dao Thi Huong - Influence of service quality on customer satisfaction at Vietinbank- Thai

Nguyen Thi Thanh Thuy - Foreign direct investment with the socio-economic development of Vietnam 129

Journal of Science and Technology

175 (15)

N¨m 2017

Ngày đăng: 15/01/2021, 01:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w