Cụ thể: Trước năm 1862 - năm triều đình Huế ký với thực dân Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất - Tự Đức có những chính sách đối xử gay gắt, không khoan nhượng với Công giáo; sau năm 1862, lại mềm[r]
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Bùi Hoàng Tân - Tình hình sở hữu ruộng đất công ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên qua nghiên cứu tư liệu địa bạ
Đoàn Thị Yến - Vua Tự Đức với vấn đề Công giáo trước và sau năm 1862 9 Trần Minh Thuận - Vấn đề ruộng đất và các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân ở tỉnh Bạc Liêu thời
Đồng Văn Quân - Các kiểu chế độ dân chủ trong lịch sử và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 21
Lê Thị Giang, Lê Thị Hương - Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng
con người 27 Cao Thị Phương Nhung, Ngô Thị Quang - Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về công tác học tập lí luận trong tác
phẩm “Diễn văn khai mạc lớp học lí luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” 33 Lưu Thu Trang - Bi kịch của nhân vật Grigori Melekhov qua mối quan hệ với hai nhân vật nữ Aksinia và
Nguyễn Diệu Linh - Cá sỉnh trong văn hóa ẩm thực của người Thái trắng ở xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh
Nguyễn Thị Tân Tiến, Hà Thị Hằng - Sự khác biệt về kết quả chuẩn đầu ra tin học của sinh viên học học phần
Tin học đại cương với sinh viên đạt chứng chỉ IC3 ở trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên 55 Đầu Thị Thu - Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế nghề nghiệp 61 Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh - Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn bóng
chuyền cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên 67 Lưu Quang Sáng - Một số phương pháp dạy học chữ Hán cho người Việt 73 Hoàng Thị Hải Yến - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức, lối sống cho
sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên hiện nay 79
Phùng Thị Tuyết, Nông Hồng Hạnh - Đánh giá trong dạy học qua đề án ở bộ môn tiếng Trung Quốc - Khoa
Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 85 Trần Hoàng Tinh - Thực trạng và biện pháp xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện giáo dục tính kỷ luật cho
Hoàng Thị Lý - Vai trò của hoạt động giàn giáo trong việc làm tăng khả năng đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên
Dương Thị Hồng An, Đặng Phương Mai - Đánh giá phần mềm hỗ trợ học tập và giảng dạy tiếng Anh tại
trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 103
Tạ Thị Mai Hương, Nguyễn Vân Thịnh, Nguyễn Thị Hạnh Hồng - Tác động của việc sử dụng hồ sơ bài tập
lên sự phát triển kĩ năng nghe hiểu của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị
Trần Tuấn Anh, Đỗ Văn Hải, Trần Thị Thu Thủy, Hoàng Văn Hùng - Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu
đất đai đa mục tiêu phục vụ công tác quản lý tại phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai 115 Nguyễn Thị Gấm, Đào Thị Hương - Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ ngân hàng tới sự thỏa mãn của khách
Nguyễn Thị Thanh Thủy - Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 129
Journal of Science and Technology
175 (15)
N¨m 2017
Trang 3Chu Thị Hà, Đỗ Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Giang, Lin Xiao Wu - Nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm
Trần Viết Khanh, Đỗ Thúy Mùi - Một số giải pháp phát triển nông nghiệp vùng Tây Bắc 141 Nguyễn Thị Lan Anh - Tăng cường quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung
Nguyễn Thị Giang, Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Hồ Lương Xinh - Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nấm
Đỗ Thị Vân Hương - Phân tích hiệu quả mô hình trồng cây cà phê chè (Arabica), cây mắc ca (Macadamia) tại
Đặng Ngọc Huyền Trang, Dương Thị Thùy Linh - Xác định mối quan hệ giữa nguồn đầu tư trực tiếp nước
Dương Thị Tình - Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước năm 2016 và giải pháp cho những năm tiếp theo 171 Phạm Thị Thanh Mai, Nghiêm Thị Ngoan - Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè mang chỉ dẫn
Nguyễn Thị Thảo - Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 183 Nguyễn Thị Lan Anh, Đào Thị Hương - Phát triển mối liên kết các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng chè
Trần Thùy Linh, Đỗ Hoàng Yến - Hoàn thiện các quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Ngô Thị Quỳnh Trang, Phạm Thị Thu Phương, Hoàng Thị Lan Hương - Các rào
cản trong việc áp dụng tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN tại Hà Nội 201 Phan Thị Vân Giang, Phạm Bảo Dương - Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm liên kết kinh tế trong
Trang 4Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14
9
VUA TỰ ĐỨC VỚI VẤN ĐỀ CÔNG GIÁO TRƯỚC VÀ SAU NĂM 1862
Đoàn Thị Yến*
Trường Đại học Khoa học - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Công giáo có mặt ở Việt Nam cho đến nay xấp xỉ là 500 năm Khoảng thời gian gần nửa thiên niên kỷ
đó, lịch sử Công giáo đã trải qua nhiều biến đổi, thăng trầm, nhất là ở thế kỷ XIX, dưới thời trị vì của vua Tự Đức (1847 - 1883) Lên ngôi trong bối cảnh lịch sử đất nước phức tạp cùng với áp lực nội triều,
Tự Đức lúng túng trong việc ứng xử với Công giáo Cụ thể: Trước năm 1862 - năm triều đình Huế ký với thực dân Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất - Tự Đức có những chính sách đối xử gay gắt, không khoan nhượng với Công giáo; sau năm 1862, lại mềm mỏng và hoà hợp với tôn giáo này Tuy nhiên, do không lường được âm mưu của kẻ thù nên dù có cố gắng như thế nào, Tự Đức cũng không thể cứu vãn được nguy cơ mất nước
Từ khoá: Vua Tự Đức, chỉ dụ cấm đạo, triều đình Nguyễn, Công giáo, truyền giáo
Công giáo được truyền bá vào Việt Nam từ thế
kỷ thứ XVI Người Việt Nam ban đầu không
quan tâm nhiều đến tôn giáo này vì trong giáo
lý của nó có những đặc điểm không phù hợp
với đạo đức, truyền thống của người Việt
Nhưng do sự hoạt động tích cực của các giáo sĩ
ở Đàng Trong và Đàng Ngoài nên Công giáo đã
có được vị trí nhất định
Đến thế kỉ XIX, nhà Nguyễn trị vì đất nước Bối
cảnh lịch sử Việt Nam có nhiều biến động theo
chiều hướng phức tạp nên Công giáo trải qua
những bước phát triển thăng trầm, nhất là thời
kì trị vì của vua Tự Đức (1848 - 1883) Lên
ngôi đúng lúc Việt Nam phải đối diện trực tiếp
với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, cùng
với những áp lực nội tại đã khiến cho vua Tự
Đức không sáng suốt, linh hoạt trong ứng xử
với Công giáo để rồi mắc mưu kẻ thù, thoả hiệp
từng bước, kết cục là đầu hàng, mất nước Hậu
quả là lịch sử Công giáo phải trải qua những
trang sử đẫm máu và nước mắt, gây nên những
mặc cảm nhất định trong lòng những người
công giáo
THÁI ĐỘ VÀ ỨNG XỬ CỦA VUA TỰ ĐỨC
ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO TRƯỚC NĂM 1862
Thái độ của triều đình nhà Nguyễn đối với
Công giáo
Trong cuộc nội chiến chống lại nhà Tây Sơn,
Nguyễn Ánh đã dựa vào các giáo sĩ Sự giúp đỡ
*
Tel: 0916 050 720; Email: doanyen.dhkh@gmail.com
của thế lực này đã phần nào giúp Nguyễn Ánh củng cố và phát triển được lực lượng Được đào tạo trong môi trường Nho giáo nên việc Nguyễn Ánh phải cầu viện các giáo sĩ phương Tây là điều bất đắc dĩ Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đứng trước mâu thuẫn không dễ giải quyết Một mặt là những mối liên hệ giữa chính quyền mới với các giáo sĩ không dễ sớm rũ bỏ, nhưng mặt khác, Gia Long cũng nhận ra sự bất lợi của tôn giáo này với yêu cầu nhất thể hoá về mặt tư tưởng dựa trên nền tảng ý thức hệ Nho giáo và
kể cả những nghi ngờ về dính líu chính trị giữa các giáo sĩ với chủ nghĩa thực dân Chính sách được Gia Long lựa chọn là duy trì môi trường tương đối thuận lợi cho các giáo sĩ truyền giáo nhưng luôn cảnh giác Vì vậy, dưới thời Gia Long, Công giáo có sự phát triển nhất định Tuy nhiên, trước những nguy cơ trên cả hai phương diện tư tưởng và an ninh quốc gia do Công giáo
và các giáo sĩ mang đến, Gia Long đã âm thầm truyền cho cả triều đình Nguyễn tinh thần hạn chế, tiến tới gạt bỏ Công giáo và cảnh giác với hoạt động của các giáo sĩ
Dưới thời trị vì của Minh Mệnh (1820-1841) xuất hiện nhiều sự kiện tác động đến thái độ của vua và triều đình Huế bấy giờ đối với Công giáo
và các giáo sĩ Đó là sự can thiệp của thực dân phương Tây đối với Trung Quốc; hoạt động ráo riết của thực dân Pháp mở rộng thuộc địa sang vùng Viễn Đông; sự gia tăng vai trò của Công giáo trong đời sống tư tưởng của dân chúng Trước thực tế đó, Minh Mệnh một mặt ngăn cản
Trang 5Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14
việc truyền giáo để chấm dứt việc truyền bá
Công giáo và đề phòng hoạt động gián điệp của
một số giáo sĩ, mặt khác áp dụng các biện pháp
gạt bỏ ảnh hưởng của Công giáo trong đời sống
tín ngưỡng của nhân dân Vua Minh Mệnh đồng
thời áp dụng cả hai biện pháp, vừa mềm dẻo,
vừa cứng rắn, trước là vận động giáo dân bỏ
đạo, sau mới dùng đến hình phạt
Thời Thiệu Trị (1840 - 1847) ít biến động hơn
nhưng mức độ nghiêm trọng của các sự kiện
chính trị tăng lên Năm 1843, Favin Livêque
đem tàu Húoin đến Đà Nẵng đòi nhà Nguyễn
thả 5 giáo sĩ đang bị giam giữ Đến 1844,
Fornier Duplan mang theo tàu chiến Alemene
cập bến Đà Nẵng xin tha cho giáo sỹ Lifébre đã
bị bắt giam Ba năm sau, Lapierre cùng với R
de Genouilly đem theo chiến hạm đến Đà Nẵng
đòi thả Lefébre (trên thực tế đã được tại ngoại)
Do không được thoả mãn yêu cầu, những người
này cho bắn phá 5 chiếc thuyền đồng của triều
đình, làm chết và bị thương nhiều binh lính
Trước tình hình đó, Thiệu Trị ra sắc lệnh cấm
đạo năm 1847 Quan điểm của Thiệu Trị đối với
Công giáo cũng giống vua Minh Mệnh, chỉ đến
khi hành động của thực dân Pháp trở nên công
khai, lúc đó việc cấm đạo mới được thực hiện
gay gắt
Ứng xử của vua Tự Đức
Thời Tự Đức (1847-1883), tình hình ngày một
diễn biến phức tạp Can thiệp của thực dân Pháp
ngày càng lộ liễu Vấn đề Công giáo đặt ra
trước triều đình Tự Đức không cũng chỉ là vấn
đề tư tưởng Mọi ý kiến đều quy về một lập
luận, rằng Công giáo là của người phương Tây,
của Pháp; giáo sĩ và thực dân chỉ là một và giáo
dân sẽ là nội ứng cho sự can thiệp của người
phương Tây Những chỉ dụ cấm đạo được ban
hành và những căng thẳng tôn giáo tạo cớ cho
những căng thẳng chính trị được đẩy lên đến
đỉnh điểm Vấn đề Công giáo trở thành một
trong các lý do xâm lược của thực dân Pháp
Tự Đức lên ngôi vào năm 1847, đúng lúc thực
dân Pháp đang ráo riết, sôi sục mưu đồ xâm
lược Việt Nam Do sự đe doạ của phương Tây
nên chính sách của triều đình đối với Công giáo nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Đặc biệt khi đã
có những bằng chứng về mối liên hệ giữa việc truyền giáo và chủ nghĩa thực dân, sự can dự của các thừa sai và một bộ phận giáo dân vào hoạt động chính trị nhằm lật đổ vương triều quá công khai, đã khiến cho Tự Đức - một ông vua vốn có bản tính ôn hoà, không thể nhân nhượng với Công giáo
Năm 1848, vua Tự Đức đã phê duyệt lệnh cấm đạo: “Phàm những đạo trưởng Tây Dương lén đến nước ta thì cho quân dân mọi người ai có thể bắt được giải nộp quan, cho
300 lạng bạc… Các đạo trưởng Tây dương bị bắt cho ném xuống sông, xuống biển Đạo trưởng và giáo dân người Việt nếu tự nguyện
bỏ đạo, bước qua thánh giá thì thả ngay Nếu không đạo trưởng bị xử tử; giáo dân bị thích chữ vào mặt, nếu biết hối cải, cho phép quan đến tẩy chữ…” [5, tr.111]
Năm 1851, Hoàng Bảo - con cả của vua Thiệu Trị, do không được nối ngôi, đã âm mưu nổi loạn, kêu gọi sự ủng hộ của giáo dân Âm mưu
bị phát giác Vì vậy, vua Tự Đức ra sắc dụ cấm đạo gay gắt hơn “…Để làm sáng tỏ chính đạo cần phải bắt và liệng xuống sông tất cả các Tây Dương đạo trưởng và các đạo trưởng Việt Nam
dù chúng nó có chà đạp hay không chà đạp thập
tự giá, phải chặt chúng ra làm hai để cho hết mọi người đều biết sự nghiêm ngặt của đạo luật nước chúng ta…” [3; tr.221]
Trước nguy cơ một cuộc chiến do người Pháp phát động đang đến gần, việc giải quyết vấn đề Công giáo càng trở nên khẩn thiết Tự Đức và triều thần đã họp nhiều lần để bàn về cách đối phó với vấn đề này Có hai luồng ý kiến được đưa ra Một là yêu cầu triều đình cần phải thi hành những chính sách nghiêm ngặt hơn đối với các thừa sai và giáo dân Ý kiến thứ hai (của những người theo đường lối ôn hoà hơn): người nào bước qua cây thánh giá thì được trọng thưởng Ai không bước qua thì bị phạt tiền nặng Cuối cùng, Tự Đức vẫn duy trì con đường cấm đạo Điều này cũng dễ hiểu và dễ chấp nhận vì đồng nghĩa với việc khoan dung với
Trang 6Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14
11
Công giáo là chấp nhận sự thất bại trước một
tôn giáo đang làm tổn hại đến đời sống văn hoá
truyền thống dân tộc và, đằng sau nó là nguy cơ
một cuộc chiến tranh xâm lược vũ trang đang
đến gần kề
Năm 1855, Tự Đức ra tiếp chỉ dụ bắt: “Các
quan ở triều được hạn một tháng, các quan ở
tỉnh ba tháng để xuất giáo… Dân chúng và binh
sĩ được hạn 6 tháng để bỏ đạo… Phải đốt hết
nhà thờ, nhà xứ” [3; tr.228] Và tất nhiên, ai
không thừa lệnh ắt đều bị xử lý nghiêm ngặt
Sau sự kiện Pháp tấn công Đà Nẵng lần thứ 2
(năm 1856), việc cấm đạo của Tự Đức lại càng
trở nên gay gắt hơn
Năm 1857, thực dân Pháp quyết định vũ trang
can thiệp vào Việt Nam Tư bản Pháp lấy cớ
trả thù việc Triều đình Huế không tiếp nhận
quốc thư của Pháp do tàu chiến Catina đem
đến tháng 9/1856 Mặt khác, chúng còn lấy lý
do “bênh vực đạo”, “truyền bá văn minh Công
giáo” để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư
luận Công giáo ở Pháp và Việt Nam Nhưng
tất cả những lí do đó đều không che đậy nổi
nguyên nhân sâu xa bên trong của âm mưu
xâm lược Đó là tìm kiếm thị trường và căn cứ
ở Viễn Đông [4,tr.11] Đến ngày 31/8/1858,
lấy cớ Triều đình Huế giam giữ, giết hại giáo sĩ
(trong đó có giáo sĩ người Tây Ban Nha), liên
quân Pháp - Tây Ban Nha đã nổ súng tại Đà
Nẵng Sự xuất hiện một số giáo sĩ và giáo dân
trong các cuộc tấn công của đội quân viễn
chinh Pháp vào Đà Nẵng, Gia Định năm 1858,
1859, 1861 làm cho triều đình Tự Đức có đủ
chứng cứ về âm mưu sử dụng tôn giáo của giặc
Pháp Điều đó làm cho triều Nguyễn truy bức
giáo dân thêm thảm khốc
Trong vòng 3 tháng đầu năm 1860, triều đình ra
3 chỉ dụ cũng nhằm mục đích tăng cường vấn
đề cấm đạo Một chỉ dụ vào tháng Giêng (ban
riêng cho một số tỉnh miền Đông Nam Bộ nhằm
ngăn chặn những giáo dân theo giặc); một chỉ
dụ vào tháng 2 (cấm đạo trưởng đến xã dân
giảng đạo) Tháng 3 năm 1860, triều đình ban
hành một sắc chỉ tiếp theo với nội dung: Sai các
địa phương xét kỹ những người dân đi đạo Gia -
tô, những người lương thiện, tình nguyện bỏ đạo thì tha Ai chưa bỏ đạo mà vốn có tình trạng gian ác thì giam lại và khuyên bảo dần dần Ai vốn có tiếng gian ác lại mê đạo không bỏ thì tống vào ngục giam, cấm vợ con và thân thích được hỏi thăm Nếu không chừa thì bị xử theo hình phạt nặng nhất
Những chỉ dụ cấm đạo của Tự Đức từ năm
1858 đến năm 1862 đã gây cho Công giáo nhiều tổn thất Trong số những chỉ dụ cấm đạo ban hành trong thời gian này thì chỉ dụ “Phân tháp giáo dân” (ban hành vào tháng 7 năm 1861) là quyết liệt nhất Theo đó:
“1 Tất cả giáo dân, đàn ông và đàn bà, người già cũng như trẻ con, đều phải phân tán vào các làng bên lương
2 Tất cả các làng bên lương phải chịu trách nhiệm canh gác các giáo dân đã được chia
về theo tỉ lệ cứ 5 người lương có một người bên giáo
3 Tất cả các làng bên giáo đều phải san bằng, phá huỷ; đất đai, vườn tược sẽ được chia cho các làng bên lương ở xung quanh, các làng này
có nghĩa vụ phải nộp thuế
4 Giáo dân đàn ông phải tách khỏi giáo dân đàn bà; đàn ông đưa đi một tỉnh, đàn bà đi một tỉnh khác để họ không thể xum họp; trẻ con sẽ giao cho gia đình bên lương nào muốn nuôi chúng
5 Trước khi đưa đi, tất cả giáo dân, đàn ông, đàn bà, trẻ con đều phải thích chữ vào mặt; ở
má trái là hai chữ tà đạo, ở má phải là tên tổng, huyện gửi tới để chúng không thể chạy trốn” [3; tr.241]
Mặc dù chỉ được thực hiện trong một năm (khi triều đình kí Hoà ước Nhâm Tuất 1862), nhưng chỉ dụ này đã gây thiệt hại lớn đối với Công giáo “Có 115 linh mục Việt Nam bị giết, 50 nữ
tu viện bị phá huỷ, 2.600 nữ tu viện phải tản mát, khoảng 100 nữ tu hi sinh Có khoảng 100 làng giáo bị phá bình địa, khoảng 2000 họ đạo mất hết gia tài, điền sản; số giáo dân bị phân phát đi các nơi ước 40.000 người Các nhà thờ, nhà chung, nhà tràng, nhà tiểu nhi, nhà chị em
đa phần bị phá huỷ…” [3; tr 242]
Trang 7Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14
Chỉ dụ này được thi hành khá triệt để là vì nó
được ban hành đúng lúc quân Pháp đang xúc
tiến đánh Nam Bộ nên quyết tâm của triều đình
Huế càng mãnh liệt, các cấp chính quyền thực
hiện tương đối nhất quán Hơn nữa, chỉ dụ này
đánh trực tiếp vào tổ chức giáo hội của người
Công giáo khiến cho giáo dân không có cơ hội
để sinh hoạt tôn giáo đều đặn Có thể vì đó mà
một bộ phận không nhỏ những người công giáo
chưa hoàn toàn tín với đạo trở nên nhạt đạo, tiến
tới bỏ đạo,“…50 nghìn Kitô hữu bị chết và bỏ
đạo” [1; tr.320]
ỨNG XỬ CỦA VUA TỰ ĐỨC SAU HIỆP
ƯỚC GIÁP TUẤT 1862
Chưa đầy một năm sau chỉ dụ “Phân tháp giáo
dân”, quân Pháp đánh chiếm Biên Hoà, Định
Tường, Vĩnh Long Tự Đức đã cử phái đoàn do
Phan Thanh Giản cầm đầu vào Gia Định để
thương lượng Sau nhiều cuộc hòa đàm, cuối
cùng triều đình đã phải ký với Pháp Hoà ước
Nhâm Tuất (năm 1862) Cùng với sự thoả hiệp
trong vấn đề lãnh thổ ở Nam Kỳ, triều đình Huế
phải thoả hiệp với liên quân Pháp - Tây Ban
Nha về việc truyền đạo Khoản 2 của Hiệp ước
Nhâm Tuất ghi rõ “Công dân hai nước Pháp và
Tây Ban Nha được phép truyền đạo ở vương
quốc Annam Công dân của vương quốc này,
không phân biệt, nếu có ý nguyện trở thành tín
đồ Công giáo, được tự do hành đạo Không ai
được phép buộc người dân theo tôn giáo mà họ
không muốn” [1;tr 325]
Sự thoả hiệp của Tự Đức đối với liên quân làm
cho tầng lớp dân chúng nổi giận Nhân dân các
tỉnh miền Đông Nam Kỳ phản kháng dữ dội
Họ quy tội “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí
dân” (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán
nước, Triều đình bỏ dân) [1;tr.327]
Trong khi dân chúng tích cực kháng chiến thì
triều đình lại tiếp tục chính sách thoả hiệp với
người Pháp Tự Đức đã có một số động thái tỏ
ra rất hoà hoãn với giáo dân và tôn trọng khoản
2 của điều ước Nhâm Tuất Tự Đức cho thả hết
những tù giáo dân Trả lại cho họ nhà cửa,
ruộng vườn… Thậm chí, Tự Đức ra chỉ dụ kêu
gọi Văn thân ngừng ngay việc tàn sát giáo sĩ và giáo dân Vua coi đó là một biện pháp tích cực
để ngăn chặn sự mở rộng chiếm đóng của thực dân Pháp Về sau, Tự Đức ra lệnh đàn áp những cuộc khởi nghĩa của Văn thân chống lại người phương Tây
Tất cả những nỗ lực ngoại giao của Tự Đức trong việc chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ
bị thất bại Tự Đức tiếp tục có những chính sách mềm mỏng hơn đối với Công giáo: “Dân theo đạo cũng là con đỏ của triều đình, nếu ghét bỏ quá lắm, giết hết sạch cả, chỉ tổ gây ra hấn khích hại đến hoà khí, không phải là cách yên dân” [1; tr.329]
Bất chấp sự phản kháng của một bộ phận dân chúng và các tầng lớp văn thân, nho sĩ, Tự Đức vẫn kiên trì đường lối thoả hiệp Hậu quả là không những không chuộc được 3 tỉnh miền Đông mà lại mất thêm ba tỉnh miền Tây vào đầu năm 1867 Sự biến này lại khiến nhân dân
và một bộ phận không nhỏ quan quân trong triều phản ứng và lên án gay gắt Điều đó làm cho vua thêm lúng túng và rối ren Vua cử người đến thương lượng với Pháp Trong lúc triều đình lo việc thương lượng thì thực dân Pháp tranh thủ được thời gian, bình định được Nam Kỳ, biến Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp và chuẩn bị lực lượng mang quân ra Bắc
Bi kịch mà Tự Đức phải lãnh nhận đó là ông càng có những chính sách khoan hoà với Công giáo thì thừa sai và giáo dân lại càng hoạt động chống lại triều đình Kết cục là, hơn 10 năm sau Hoà ước Nhâm Tuất, cùng với việc quân Pháp chiếm Hà Nội và Bắc Kỳ, triều đình Huế lại phải ký kết Hoà ước 1874, trong đó đề cập đến Công giáo như sau: “Vua nước Đại Nam biết rõ Đạo Thiên chúa nguyên để khuyên người làm lành, nay đem các giấy tờ cấm đạo Thiên chúa
từ trước bỏ đi hết; cho phép người Đại Nam muốn theo đạo và giữ đạo, vì thế người theo giáo trong nước đều được tuỳ tiện các việc hội nhau đọc kinh, bái lễ… Từ nay về sau, giáo dân đều được đi thi ra làm quan…” [1; tr.332]
Trang 8Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14
13
Sự khác nhau căn bản giữa Hoà ước 1862 và
Hoà ước 1874 về việc truyền đạo là: theo Hoà
ước 1862, người Pháp và người Tây Ban Nha
được phép truyền đạo ở Việt Nam Công dân
Việt Nam có quyền theo tôn giáo mong muốn
Các thừa sai và giáo dân không bị triều đình
truy bức Theo Hoà ước Giáp Tuất 1874, người
công giáo lần đầu tiên có quyền tham gia vào
các kỳ thi của triều đình và bộ máy hành chính,
tham gia vào mọi mặt của đời sống đất nước
như những công dân bình thường
Có thể thấy, sau Hoà ước Nhâm Tuất (1862),
Tự Đức ứng xử mềm mỏng với Công giáo vì lý
do: Thứ nhất, Tự Đức cho rằng việc dung hoà
với Công giáo là một biện pháp hữu hiệu để
chuộc lại ba tỉnh miền Đông đã mất và đó cũng
là sự cứu vãn trước nguy cơ sắp mất ba tỉnh
miền Tây Thứ hai, Vua cũng nhận thấy, khi
Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta, không phải
tất cả giáo dân đều theo giặc
Kết cục của thái độ ôn hoà với Công giáo là
triều đình Huế không những không lấy lại được
phần đất cát của tổ tiên ở ba tỉnh miền Đông
Nam Bộ mà còn không bảo vệ được 3 tỉnh miền
Tây Nam Bộ Điều đó cho thấy Tự Đức là
người có trách nhiệm trong việc bảo vệ phần
hương hoả, đất đai của tổ tiên nhưng biện pháp
thực hiện thì quá lầm lạc khiến cho kẻ thù thao
túng, lợi dụng và cuối cùng đã đạt được mục
đích là đặt được nền bảo hộ ở Việt Nam Khi
chiến sự xảy ra, vua quan nhà Nguyễn lại
không nhìn thấy được chân tướng của bọn thực
dân, chỉ lo bàn luận “hòa” hay “chiến”, “công”
hay “thủ” nên không chủ động tấn công để đuổi
giặc ra khỏi lãnh thổ khi có điều kiện và thời cơ,
từng bước lún sâu vào thất bại Chính vì không
am hiểu thời cuộc nên nhà Nguyễn đã không có
kế sách đối phó kịp thời Bản thân vua Tự Đức
khi thấy quân Pháp chiếm đóng mãi ở Gia Định
đã nói với Viện Cơ mật rằng: “ trước trẫm
nghĩ là người Tây dương đến Gia Định, đã no
chán thoả thích rồi, thì tất lui Không ngờ chúng
thực có lòng cố giữ” [2, tr 148]
Năm 1883, Tự Đức băng hà Quốc gia, xã tắc
rơi vào cảnh li loạn, đổ nát Lợi dụng tình hình
đó, thực dân Pháp càng lấn tới trong việc buộc triều đình Nguyễn kí kết những Hoà ước, mà thực chất là những Hàng ước Harmand (1883), Patenôtre (1884) - ghi nhận sự đầu hàng của triều đình Huế trước thực dân Pháp
KẾT LUẬN
Tự Đức lên ngôi trong bối cảnh thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược vũ trang Việt Nam Áp lực nội triều (không có con nối dõi ngai vàng, đối diện với vấn đề về tính chính thống, tính hợp thức trong việc nối ngôi) cùng với áp lực ngoại xâm khiến ông không tỉnh táo trong việc giải quyết một vấn đề “nóng” và nhạy cảm trong bối cảnh lúc bấy giờ là Công giáo Chính sách cấm đạo, sát đạo, bách đạo mà ông đưa ra là cái cớ
để người Pháp vin vào xâm lược Việt Nam Khi nhận ra được điều đó, Tự Đức đã có nhiều chính sách thay đổi trong quan hệ ứng xử với Công giáo với một niềm ngộ nhận rằng người Pháp sẽ vì điều đó mà không đánh chiếm Việt Nam Cuối cùng, những nỗ lực của ông không mang lại kết quả như mong muốn
Với vai trò là người đứng đầu đất nước, đặc biệt là trong hoàn cảnh phải đối diện với họa Tây dương, việc làm quan trọng và khẩn thiết nhất là phải bồi dưỡng sức dân, gia cố tinh thần đoàn kết của dân tộc nhưng Tự Đức lại không làm được Ông không nhận diện được bản chất của kẻ thù là lợi dụng, đội lốt Công giáo xâm lược đất nước, để rồi lúng túng, nóng vội, quẩn quanh trong việc ứng xử với
nó Sai lầm nối tiếp sai lầm Kết cục cuối cùng là Việt Nam bị xâm lược
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Quang Hưng (2007), Công giáo Việt Nam
thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1883), Nxb Tôn giáo,
Hà Nội
2 Phan Khoang (1971), Việt Nam Pháp thuộc sử
(1862 - 1945), Sài Gòn
3 Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của Thiên
chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
4 Đinh Xuân Lâm (Chủ biên) (2015), Đại cương
Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam
5 Viện Sử học Việt Nam (1973), Quốc Sử quán
triều Nguyễn - Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
Trang 9Đoàn Thị Yến Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 9-14
SUMMARY
TU DUC KING’S ATTITUDE TOWARDS CATHOLICISM
BEFORE AND AFTER 1962
Doan Thi Yen *
TNU University of Science
Catholicism has been in Vietnam approximately for 500 years In that time, Catholicism has witnessed ups and downs especially during the period from 1847 to 1883 which was in ruling of Tu Duc king He came to the throne in such a complex society that Tu Duc was embarrassed about treating with Catholicism For example, during the period before 1862, Tu Duc had hard policies with Catholicism However, after 1862 when Hue Court signed a Nham Tuat pact with French colonist, his attitude towards Catholicism was changed He had moderate policies with Catholicism but finally Tu Duc king could not save the independence of Vietnam in that time because of French conspiracy
Key words: Tu Duc king, royal decrees against Catholicism, The Nguyen dynasty, Catholicism,
missionary
Ngày nhận bài: 01/9/2017; Ngày phản biện:09/10/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
*
Tel: 0916 050 720; Email: doanyen.dhkh@gmail.com
Trang 10oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS
Bui Hoang Tan - Ownership situation public field-land in Ha Chau district, Ha Tien province through studying
Doan Thi Yen - Tu Duc king’s attitude towards Catholicism before and after 1962 9 Tran Minh Thuan - The land problems and spontaneous fights of farmers in Bac Lieu province under the
French domination 15
Dong Van Quan - Types of democratic regime in the history and the present socialist democratic regime in our
Le Thi Giang, Le Thi Huong - The original of formation of Ho Chi Minh thought on human beings, human
Cao Thi Phuong Nhung, Ngo Thi Quang - Ho Chi Minh’s talk about the study of theoretics in “the orientation
speech at the opening ceremony of the first theoretics class at Nguyen Ai Quoc Institute” 33
Luu Thu Trang - The tragedy of Grigori Melekhov reflected in the relationship between Aksinia and Natalia in
Quietly Flows the Don (M Sholokhov) 39
Nguyen Dieu Linh - Onychostoma laticeps in culinary culture of white Thai people in Son A commune, Van
Nguyen Thi Tan Tien, Ha Thi Hang - The diffrences of learning outcomes of students having taken the
general informatics course with students obtaining the IC3 certicate at Thai Nguyen University of Medicine and
Dau Thi Thu - Training pedagogical profession for students through real professional activity experience 61
Nguyen Ngoc Binh, Duong To Quynh - Testing and assessing the learning outcome of the volleyball subject
for students at Thai Nguyen University of Economics and Business Administration 67
Luu Quang Sang - Some suggestions of teaching Chinese characters for Vietnamese students 73
Hoang Thi Hai Yen - Applying Ho Chi Minh’ ideology about morality in building morals, lifestyle of students
in Thai Nguyen University of Technology currently 79
Phung Thi Tuyet, Nong Hong Hanh - Assessment of the project-based teaching and learning of the students
major in Chinese at School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 85
Tran Hoang Tinh - Situation and measures for planning and directing the implementation of disciplined
education for students at centers for national defense and security education 91
Hoang Thi Ly - role of scaffolding activities in enhancing english reading skills among first year college
students 97
Duong Thi Hong An, Dang Phuong Mai - Evaluating the EFL courseware at Thai Nguyen University of
Ta Thi Mai Huong, Nguyen Van Thinh, Nguyen Thi Hanh Hong - Effects of portforlios on improving listening
comprehension skill for students: a case study at Thai Nguyen University of Economics and Business
Tran Tuan Anh, Do Van Hai, Tran Thi Thu Thuy, Hoang Van Hung - Research building multipurpose
Nguyen Thi Gam, Dao Thi Huong - Influence of service quality on customer satisfaction at Vietinbank- Thai
Nguyen Thi Thanh Thuy - Foreign direct investment with the socio-economic development of Vietnam 129
Journal of Science and Technology
175 (15)
N¨m 2017