1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THỦY SINH

6 281 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 439,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu tạo sơ cấp thân rau Dừa nước từ ngoài vào trong bao gồm các phần như sau: biểu bì có một lớp tế bào sống không chứa diệp lục, tế bào dạng hình phiến xếp sít nhau, [r]

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THỦY SINH

Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Luyến, Cao Thị Phương Thảo, Lê Phương Dung *

Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Một số loài thực vật thủy sinh như rau Rút (Neptunia oleracea Lour.), rau Dừa nước (Ludwidgia adscendens L.) và Bèo tây (Eichhornia crassipes Solms) là những loài cây sống phổ biến trong

nước ao, hồ Chúng có nhiều công dụng khác nhau như dùng làm thuốc chữa bệnh, làm rau ăn và

có vai trò làm sạch môi trường nước bị ô nhiễm Vì vậy, chúng là đối tượng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu thích nghi với môi trường sống ở nước ao, hồ của ba loài thực vật thủy sinh nói trên Sử dụng phương pháp làm tiêu bản hiển vi, quan sát và mô tả theo tài liệu của Hoàng Thị Sản, Nguyễn Phương Nga (2008) Kết quả đã mô tả được đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu thích nghi của các loài rau Rút, rau Dừa nước và Bèo tây sống trong môi trường nước ao, hồ, nhằm cung cấp những dữ liệu phục vụ trong học tập và nghiên cứu

Từ khóa: Rau Rút, rau Dừa nước, Bèo tây, rễ, thân.

MỞ ĐẦU*

Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió

mùa nóng, ẩm nên hệ thực vật rất phong phú

và đa dạng Theo Phạm Hoàng Hộ (2003) [2],

ở nước ta hiện nay có gần 13.000 loài thực vật

bậc cao có mạch sống trong các môi trường

trên cạn và dưới nước Những loài thực vật

thủy sinh như cây rau Rút (Neptunia oleracea

Lour.), rau Dừa nước (Ludwidgia adscendens

L.) và Bèo tây (Eichhornia crassipes Solms)

là những loài cây sống phổ biến trong các ao,

hồ ở nước ta Mặc dù có nhiều công trình

nghiên cứu về tác dụng làm thuốc chữa bệnh,

làm rau ăn hoặc dùng làm sạch môi trường

nước bị ô nhiễm của cây rau Rút, rau Dừa

nước và cây Bèo tây [3], [4], [5], [7], nhưng

chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

đầy đủ, có hệ thống về đặc điểm hình thái,

cấu tạo giải phẫu thích nghi của các loài cây

này trong môi trường sống ở nước ao, hồ Vì

vậy, kết quả thu được nhằm cung cấp những

dữ liệu phục vụ trong học tập, nghiên cứu và

giải thích mối quan hệ thích nghi của các loài

thực vật với môi trường sống

*

Tel: 0971 338385, Email: lephuongdung@dhsptn.edu.vn

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Là ba loài thực vật rau Rút (Neptunia oleracea Lour.), rau Dừa nước (Ludwidgia adscendens L.) và cây Bèo tây (Eichhornia crassipes Solms.) được thu thập tại Thái Nguyên

Phương pháp nghiên cứu

Xác định tên khoa học theo phương pháp hình thái so sánh, đối chiếu với khóa phân loại và

mô tả loài theo Phạm Hoàng Hộ (2003) [2], Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) [1] Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu hiển vi rễ, thân, lá theo phương pháp của Hoàng Thị Sản, Nguyễn Phương Nga (2008) [6], quan sát và chụp ảnh tiêu bản trên kính hiển vi quang học kết nối với phần mềm Microscope Manager KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm hình thái

Cây rau Rút (Neptunia oleracea Lour.)

Rau Rút được trồng ở các ao, hồ, làm rau ăn, rau có mùi thơm đặc trưng Rau Rút là loài cây thân thảo xốp sống dưới nước, mọc lan trên mặt nước Thân thường mềm, xốp, rỗng ruột, cọng non được bao bọc bởi một lớp phao trắng xốp Lá kép lông chim hai lần,

Trang 2

phiến lá chét nhỏ 2 x 5 mm và mọc đối Rễ

chùm, có rễ gốc bám vào đất, rễ đốt mọc

thành chùm từ đốt thân phát triển ở trong

nước Hoa tập hợp thành cụm hoa hình đầu,

màu vàng, quả có 6 hạt dẹt, nhẵn

Rau Dừa nước (Ludwidgia adscendens L.)

Rau Dừa nước thường sinh sống tự nhiên ở

các ao, hồ và đầm lầy Thân có tiết diện tròn,

phân cành nhiều, cành nằm được mọc ra từ

các kẽ lá, về sau các cành hơi đứng Lá đơn

nguyên, hầu hết đều mọc cách, phiến lá hình

xoan ngược, mép lá thẳng, gân lông chim,

cuống lá thường dài bằng một nửa phiến lá

Có hai loại lá, lá chìm trong nước có màu đỏ

tím, lá nổi trên mặt nước có màu xanh Cây

sống ở nước có rễ phát triển từ các mấu thân

và tạo thành các chùm phao chứa khí giúp cây

ngập trong nước nhưng vẫn đảm bảo chức

năng sinh lý bình thường và giúp ngọn cây

hướng lên khỏi mặt nước Rau Dừa nước có

hoa to màu trắng, lá đài hình tam giác, tràng

hoa rời, quả hình trụ, hạt nhỏ và nhiều

Cây Bèo tây (Eichhornia crassipes Solms)

Bèo tây là loài dễ sống, có thể ở ao, hồ, kênh

mương hay nơi đất ẩm Cây Bèo tây mọc cao

khoảng 30 cm hay hơn, cây thân thảo với

phiến lá dạng hơi tròn, màu xanh lục, láng và

mặt nhẵn Cuống lá phồng lên thành phao

trông giống như chiếc lọ lục bình giúp cây nổi

trên mặt nước Lá mọc hình hoa thị, gân lá

hình cung dài, hẹp Hoa không đều, mọc thành

chùm ở ngọn, màu tím nhạt, đài và tràng cùng

màu, dính liền với nhau ở gốc Cánh hoa trên

có một đốm màu vàng, 6 nhị, quả nang Rễ

Bèo tây màu đen buông rủ trong nước

Từ đặc điểm hình thái của các loài cây rau

Rút, rau Dừa nước, Bèo tây, cho thấy cả ba

loài đều có những đặc điểm phù hợp thích

nghi với môi trường sống nổi trên mặt nước

như cây thân thảo, thường xốp, nhẹ, thân có

sự biến đổi tạo thành các phao trắng bao

quanh phía ngoài thân (rau Rút), hoặc ở các

đốt phần thân bị ngập nước có các chùm phao

xốp (rau Dừa nước) hay có cuống lá phình to,

xốp tựa như phao (Bèo tây)

Đặc điểm cấu tạo giải phẫu

Cây rau Rút (Neptunia oleracea Lour.)

Cấu tạo giải phẫu thân

Cấu tạo sơ cấp thân cây rau Rút gồm các phần

như sau (Hình 1):

Hình 1 Cấu tạo sơ cấp thân rau Rút

Ngoài cùng là một lớp tế bào biểu bì hình chữ nhật, kích thước đồng đều xếp sít nhau, có

chức năng bảo vệ Dưới biểu bì là hệ thống

mô dày rất phát triển, chủ yếu là mô dày góc

và mô dày xốp, gồm 15 - 16 lớp tế bào có vách dày bằng xenluloz đảm nhiệm chức năng cơ học Mô cứng gồm 6 - 7 lớp tế bào rất khác nhau về hình dạng và tính chất, các tế bào này sắp xếp chủ yếu ở phía ngoài các bó dẫn, thực hiện vai trò cơ học đảm bảo cấu trúc

vững chắc của cây Hệ dẫn ở thân cây là các

bó dẫn kiểu chồng chất hở xếp thành vòng

trong thân thực hiện chức năng dẫn truyền

Libe sơ cấp gồm nhiều lớp tế bào sống, có hình đa giác, kích thước nhỏ, sắp xếp sít

nhau Giữa gỗ và libe là tầng trước phát sinh gồm các tế bào sống có hình dẹt, màng mỏng

Gỗ sơ cấp gồm 5 - 7 lớp tế bào, phân hóa theo

hướng li tâm Phần chiếm diện tích chủ yếu

trong thân là hệ thống mô mềm, gồm 20 - 25 lớp tế bào, các tế bào có hình hơi tròn, kích thước khá đồng đều, màng mỏng bằng xenluloz, sắp xếp thưa nhau để chừa ra nhiều khoảng gian bào lớn chứa khí Chính những khoảng trống này giúp thân cây rau Rút nhẹ, xốp và nổi trên mặt nước

Cấu tạo giải phẫu cuống lá

Phía ngoài của cuống lá cây rau Rút là một lớp tế bào biểu bì hình chữ nhật, xếp xít nhau

Trang 3

làm nhiệm vụ bảo vệ Tiếp theo là mô dày với

chức năng cơ học gồm 2- 3 lớp tế bào sống,

có màng sơ cấp dày bằng xenluloz, sắp xếp sít

nhau Mô mềm rất phát triển chiếm phần lớn

diện tích của cuống lá gồm nhiều lớp tế bào,

các tế bào hình tròn cạnh xếp thưa để chừa ra

những khoang trống lớn chứa khí Mô cứng

gồm 5 - 7 lớp tế bào có hình đa giác và kích

thước không đồng đều, các tế bào có màng

dày hóa gỗ và sắp xếp theo hình vòng cung

bao quanh bên ngoài bó dẫn để nâng đỡ phiến

lá Các bó dẫn nằm trong khối mô mềm

thường xếp thành hình cung, mặt lõm của

cung quay vào phía trong, bó lớn nhất nằm

trên mặt phẳng đối xứng, các bó khác nhỏ

hơn nằm đối xứng ở hai bên Cấu tạo một bó

dẫn gồm libe sơ cấp có 8 - 9 lớp tế bào sống,

màng mỏng, hình đa giác nhỏ, kích thước

không giống nhau, xếp sít nhau Gỗ sơ cấp

nằm phía trong libe sơ cấp, có 10 - 12 lớp tế

bào với hình dạng và kích thước không đồng

đều (Hình 2)

Hình 2 Cấu tạo cuống lá cây rau Rút

Rau Dừa nước (Ludwidgia adscendens L.)

Cấu tạo giải phẫu thân cây

Cấu tạo sơ cấp thân rau Dừa nước từ ngoài

vào trong bao gồm các phần như sau: biểu bì

có một lớp tế bào sống không chứa diệp lục,

tế bào dạng hình phiến xếp sít nhau, thường

có vách ngoài dày hơn vách trong làm nhiệm

vụ bảo vệ Mô dày nằm dưới biểu bì, chủ yếu

là mô dày góc gồm 1 - 2 lớp tế bào sống, các

tế bào mô dày có hình đa giác, kích thước

không đều nhau, có vách dày bằng xenluloz,

đảm nhận chức năng cơ học Mô mềm vỏ

nằm ở phía trong mô dày, gồm 14 - 16 lớp tế bào, mỗi tế bào có hình hơi tròn sắp xếp không sít nhau để chừa ra các khoảng trống lớn chứa khí Vách tế bào mỏng, kích thước không đồng đều Các tế bào mô mềm vỏ ở phía ngoài có lục lạp nên thân non có màu lục, đảm nhiệm chức năng quang hợp Vỏ trong có cấu tạo từ 1-2 lớp tế bào, kích thước các tế bào khá đồng đều, xếp sít nhau, nhỏ hơn các tế bào mô mềm và hơi kéo dài theo hướng tiếp tuyến Vỏ trụ là miền ngoài cùng của phần trụ nằm phía trong lớp nội bì gồm các tế bào sống, hình chữ nhật nhỏ, có màng mỏng Hệ dẫn của thân có kiểu bó chồng chất với libe nằm ngoài, gỗ nằm trong Libe sơ cấp gồm những tế bào sống có hình đa giác nhỏ, xếp sít nhau, phân hóa hướng tâm Gỗ sơ cấp gồm 5 - 6 lớp tế bào, các mạch gỗ có vách dày hóa gỗ, cứng Phần mô mềm ruột gồm các tế bào màng mỏng bằng xenluloz, hình hơi tròn, kích thước tăng dần từ ngoài vào trong, mô mềm chứa nhiều chất dự trữ cho cây (Hình 3)

Hình 3 Cấu tạo sơ cấp thân rau Dừa nước

Cấu tạo giải phẫu lá cây

Bên ngoài lá có biểu bì trên (mặt trên lá) và biểu bì dưới (mặt dưới lá) gồm các tế bào hình chữ nhật, xếp sít nhau làm nhiệm vụ bảo

vệ Biểu bì mặt dưới lá có nhiều lỗ khí giúp lá thực hiện việc trao đổi khí giữa cây và môi trường Giữa hai lớp biểu bì trên và biểu bì dưới là phần thịt lá gồm có mô giậu, mô xốp

Mô giậu gồm 1-2 lớp tế bào hình chữ nhật dài, xếp vuông góc với lớp biểu bì, tế bào mô giậu có rất nhiều diệp lục đảm nhiệm chức năng quang hợp Mô xốp nằm tiếp giáp với

Trang 4

lớp biểu bì dưới, gồm những tế bào tròn cạnh,

kích thước không đều, sắp xếp rời rạc tạo ra

những khoang trống là nơi dự trữ khí giúp

cho quá trình trao đổi khí tiến hành thuận lợi

Hệ dẫn gồm các bó dẫn kiểu bó chồng chất

đảm nhiệm chức năng dẫn truyền Libe sơ cấp

gồm 2 - 3 lớp tế bào hình đa giác nhỏ Gỗ sơ

cấp nằm phía trong gồm 5 - 6 lớp tế bào hình

tròn cạnh Phần gân lá gồm: Mô dày nằm sát

dưới biểu bì, gồm 2 lớp tế bào có màng dày

bằng xenluloz đảm nhận chức năng cơ học

Tiếp đến là mô mềm gồm 15-17 lớp tế bào có

hình đa giác hơi tròn xếp rời rạc để lại nhiều

khoang trống lớn chứa khí Bó dẫn xếp thành

dải hình vòng cung theo gân lá, thuộc bó

chồng chất, đảm nhiệm chức năng dẫn truyền

(Hình 4)

Hình 4 Cấu tạo lá rau Dừa nước

Cấu tạo giải phẫu rễ cây

Cấu tạo sơ cấp của rễ gồm các phần như sau

(Hình 5)

Hình 5 Cấu tạo sơ cấp rễ rau Dừa nước

Bên ngoài là biểu bì có một lớp tế bào có hình

chữ nhật, màng mỏng, xếp sít nhau làm nhiệm

vụ bảo vệ Phần vỏ sơ cấp có vỏ ngoài nằm

ngay dưới biểu bì gồm một lớp tế bào có

nhiều cạnh, hơi kéo dài, màng mỏng và xếp

sít nhau Mô mềm vỏ gồm 13 - 14 lớp tế bào,

các tế bào có màng mỏng bằng xenluloz xếp thưa nhau, để hở nhiều khoảng gian bào nhỏ chứa khí Vỏ trong có một lớp tế bào nằm phía trong cùng của vỏ sơ cấp, có đai caspari tại các vách xuyên tâm nên việc dẫn truyền nước và chất dinh dưỡng được thực hiện theo một chiều nhất định Phần trụ giữa có vỏ trụ nằm ngay sát vỏ trong, gồm một lớp tế bào sống có màng mỏng Hệ dẫn gồm các bó gỗ

và bó libe riêng biệt, xếp xen kẽ nhau dưới vỏ trụ và vòng quanh trụ giữa Libe sơ cấp phân hóa hướng tâm, gồm các tế bào hình đa giác

Gỗ sơ cấp cũng phân hóa hướng tâm, gồm 2 -

3 lớp tế bào có hình hơi tròn Phần trong cùng

là mô mềm ruột gồm các tế bào có màng mỏng bằng xenluloz, kích thước tăng dần từ ngoài vào trong có chức năng dự trữ

Cây Bèo tây (Eichhornia crassipes Solms)

Cấu tạo giải phẫu cuống lá

Bèo tây là cây một lá mầm, có cuống lá phình

to, phía ngoài là biểu bì gồm 1-2 lớp tế bào hình chữ nhật xếp sít nhau có kích thước khá đồng đều và thực hiện chức năng bảo vệ Mô mềm gồm các tế bào có hình tròn cạnh, kích thước tăng dần từ ngoài vào trong Các tế bào

mô mềm này sắp xếp thưa nhau tạo thành các khoang trống lớn chứa khí Chính nhờ khoảng gian bào này làm cho cuống lá phình to chứa khí như chiếc phao giúp cây nổi trên mặt nước Giữa các tế bào mô mềm là các tinh thể canxi oxalate hình kim Số lượng các bó dẫn nhiều, nằm rải rác khắp cuống lá, bó dẫn kiểu chồng chất kín (libe ở phía ngoài, gỗ nằm phía trong) Trong cuống lá các bó dẫn nhỏ nằm phía ngoài, bó dẫn lớn hơn nằm phía trong (Hình 6)

Hình 6 Cấu tạo cuống lá Bèo tây

Trang 5

Cấu tạo giải phẫu phiến lá

Phiến lá được bao bọc bởi hai lớp biểu bì,

biểu bì trên và biểu bì dưới đều có một lớp tế

bào hình chữ nhật có vách dày xếp sít nhau

làm nhiệm vụ bảo vệ Lỗ khí có cả ở biểu bì

trên và biểu bì dưới của lá giữ vai trò trao đổi

khí cho cây Cấu tạo lá Bèo tây có sự phân

hóa thành mô giậu và mô xốp Mô giậu có 2 -

3 lớp tế bào, hình dạng tế bào dài, xếp vuông

góc với biểu bì Tế bào mô giậu có màng

mỏng chứa nhiều diệp lục, xếp khá sít nhau

để chừa ra các khoảng gian bào nhỏ cho

không khí đi qua Mô xốp gồm 10 - 12 lớp tế

bào, hình dạng tế bào đồng đều (tròn hay bầu

dục), xếp không sát nhau để chừa ra những

khoảng gian bào lớn chứa khí, các tế bào mô

xốp có ít diệp lục hơn ở tế bào mô giậu Số

lượng các bó dẫn ở lá thường nhiều (Hình 7)

Hình 7 Cấu tạo phiến lá Bèo tây

Cấu tạo giải phẫu rễ

Ở bên ngoài rễ Bèo tây là biểu bì có một lớp

tế bào kích thước đồng đều, màng hóa bần

xếp sít nhau làm nhiệm vụ bảo vệ Dưới biểu

bì là lớp vỏ ngoài gồm 3 - 4 lớp tế bào có

hình đa giác không đều, màng mỏng và xếp

sít nhau Tiếp theo là 10 - 12 lớp tế bào mô

mềm vỏ có kích thước không đồng đều, các tế

bào mô mềm nằm phía ngoài lớn hơn và xếp

không sít nhau để lại những khoảng gian bào

lớn chứa khí Ở phía trong mô mềm vỏ với

các tế bào nhỏ hơn hình tròn cạnh, gồm 3 - 4

lớp tế bào xếp thành các vòng đồng tâm Vỏ

trong chỉ có một lớp tế bào và thường có đai

caspari hình chữ U Nhờ có đai này mà các

chất được lông hút hút vào qua phần mô mềm

vỏ chỉ được tiếp tục dẫn vào theo một chiều

nhất định Phần trụ giữa gồm vỏ trụ có một lớp

tế bào có màng mỏng nằm sát với lớp vỏ trong Hệ dẫn với các bó gỗ, bó libe riêng rẽ nhau và xếp xen kẽ nhau, bó gỗ phân hóa hướng tâm Bó libe gồm các tế bào hình đa giác nhỏ, chiếm tỷ lệ nhỏ nằm xen kẽ với các

bó gỗ Phần ruột cấu tạo bởi các tế bào mô mềm hình tròn cạnh, xếp không sít nhau để

hở những khoảng gian bào nhỏ chứa chất dự trữ (Hình 8)

Hình 8 Cấu tạo rễ Bèo tây

KẾT LUẬN Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá, cuống lá) của

ba loài thực vật thủy sinh là cây rau Rút, rau Dừa nước và cây Bèo tây đã thể hiện sự thích nghi cao với môi trường sống ở nước Các cơ quan, bộ phận của cây thường xốp hoặc biến đổi trở thành những phao chứa nhiều không khí, giúp cây nhẹ và sống nổi trên mặt nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003-2005),

Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 2-3, Nxb

Nông nghiệp, Hà Nội

2 Phạm Hoàng Hộ (2003), Cây cỏ Việt Nam, Nxb

Trẻ Tp Hồ Chí Minh

3 Võ Thị Mai Hương, Trần Thanh Tùng (2008),

“Nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý-hóa sinh và khả năng

xử lý nước thải lò mổ của rau Dừa nước

(Ludwidgia adscendens L.)”, Tạp chí Khoa học,

Đại học Huế, số 48, tr 75-84

4 Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội

5 Vũ Thị Nguyệt, Trần Văn Tựa, Nguyễn Trung Kiên, Đặng Đình Kim (2014), “Nghiên cứu sử dụng

Bèo tây Eichhornia crassipes Solms để xử lý nitơ và

phôtpho trong nước thải chăn nuôi lợn sau công nghệ

biogas”, Tạp chí Sinh học, 37(1), tr 53-59

Trang 6

6 Hoàng Thị Sản, Nguyễn Phương Nga (2008),

Thực tập hình thái - giải phẫu học thực vật, Nxb

Đại học Sư phạm, Hà Nội

7 El Zawahry M M., Kamel M M (2004),

“Removal of azo and anthraquinone dyes from

aqueous solutions by Eichhornia crassipes”, Water Research, 38, pp 2967-2972

SUMMARY

STUDY OF MORPHOLOGICAL AND ANATOMICAL CHARACTERISTICS

OF SOME AQUATIC PLANTS

Nguyen Thi Thu Ha, Nguyen Thi Luyen, Cao Thi Phuong Thao, Le Phuong Dung *

TNU – University of Education Several aquatic plants species such as Neptunia oleracea, Ludwidgia adscendens and Eichhornia crassipes are common species in ponds and lakes They can be used for different purposes such as

medicine, food as well as cleaning the contaminated water environment Accordingly, many scientists have chosen them as subjects in recent studies In this paper, we present the research results on morphological and anatomical characteristics of the above three aquatic plants in order

to see how they adapt to the ponds and lakes water environment The study findings have

described the morphological and anatomical characteristics of Neptunia oleracea, Ludwidgia adscendens and Eichhornia crassipes adapted to their living in ponds and lakes water environment

to provide data for study and research

Keywords: Neptunia oleracea, Ludwidgia adscendens, Eichhornia crassipes, roots, stems

Ngày nhận bài: 12/3/2018; Ngày phản biện: 22/3/2018; Ngày duyệt đăng: 27/4/2018

*

Tel: 0971 338385, Email: lephuongdung@dhsptn.edu.vn

Ngày đăng: 15/01/2021, 01:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w