1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh việc đào tạo giáo viên tiếng trung, tiếng việt cho người nước ngoài

103 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng nhu cầu quảng bá tiếng Trung như một môn ngoại ngữ, bắt đầu từ năm 2007, Trung Quốc đã thí điểm thạc sĩ Giáo dục Quốc tế Hán ngữ tại 24 trường đại học trọng điểm.” Khi nhu cầu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

XU RUI TING

SO SÁNH VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIẾNG TRUNG,

TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

XU RUI TING

SO SÁNH VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIẾNG TRUNG,

TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số: 8310630.01

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thiện Nam

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Hai năm trôi qua vội vã, điều đáng nhớ nhất là sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của PGS.TS Nguyễn Thiện Nam Bất cứ khi nào tôi hỏi thầy Nam

về những ý tưởng mới, thầy luôn dạy tôi cẩn thận Trong nửa năm qua, mặc

dù gặp phải nhiều khó khăn khách quan, nhưng tôi vẫn liên tục trao đổi với thầy Nam Trong mọi cuộc trao đổi, thầy Nam đều đưa ra những gợi ý thích hợp cho tôi Trong quá trình viết luận văn, thầy Nam luôn chỉ ra những điểm còn thiếu sót của bài viết một cách sâu sắc và đưa ra những gợi ý chi tiết và khả thi Trong bước đường sắp tới tác phong học tập nghiêm túc và

sự siêng năng theo đuổi học thuật của thầy sẽ giúp tôi trở nên vững vàng hơn

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trực tiếp tham gia giảng dạy cho tôi, chính nhờ sự dạy dỗ nghiêm khắc, quên mình

và chất lượng của thầy cô đã giúp tôi tiếp thu một cách đầy đủ và nhanh chóng kiến thức chuyên môn trong suốt 2 năm học

Ngoài ra, tôi xin cảm ơn các bạn cùng lớp, mỗi bạn có những điểm sáng khác nhau, tôi rất thật vinh dự khi được sống và học tập tích cực trong một tập thể như vậy

Trang 4

Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả các thầy cô đã tham gia phản biện và bảo vệ luận văn của tôi, các thầy cô đã cho tôi điểm lại kết quả 2 năm học, cho tôi hiểu được hướng phát triển trong tương lai Tôi sẽ nỗ lực bền bỉ để không ngừng sửa đổi và hoàn thiện bản thân Xin cảm ơn tất cả!

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn So sánh việc đào tạo giáo viên tiếng Trung, tiếng Việt cho người nước ngoài là phần nghiên cứu của riêng

tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thiện Nam mà trước đó chưa

có bất kỳ tác giả nào công bố

Những tư liệu và số liệu sử dụng trong bản luận văn có tính xác

thực và nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

XU RUI TING

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 3

3.1Phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu 3

3.2Phạm vi nghiên cứu 3

3.3Nhiệm vụ của đề tài 4

4 Đóng góp của luận văn 4

5 Bố cục của luận văn 5

Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LÝ THUYẾT VỀ DẠY TIẾNG VÈ LỊCH SỬ VẤN ĐỂ 6

1.1 Khái Niệm 6

1.1.1 Dạy tiếng là gì 6

1.1.2 Về khái niệm đào tạo giáo viên dạy tiếng 6

1.1.3 Thế nào là ngôn ngữ thứ 2 8

1.1.4 Thế nào là dạy ngôn ngữ thứ hai 8

Trang 7

9

1.1.6 Việc học hai ngôn ngữ này (tiếng mẹ đẻ và Ngôn ngữ thứ 2 giống khác thế nào) 10

1.2 Lịch sử đào tạo giáo viên dạy tiếng trên thế giới 11

1.2.1 Các ví dụ như đào tạo giáo viên dạy tiếng Anh 11

1.2.2 Lịch sử đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Trung ở Trung Quốc 13

1.2.3 Lịch sử đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt ở Việt Nam 16

1.2.4 Lịch sử các phương pháp dạy tiếng 20

Chương 2: TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN GIẢNG DẠY TIẾNG TRUNG CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 27

2.1 Bối cảnh 27

2.2 Hiện trạng 29

2.2.1.Yêu cầu về đào tạo giáo viên 29

2.2.2.Khóa học chuyên ngành 32

2.2.3 Cách Phương pháp đào tạo cho giáo viên tiếng Trung 36

2.2.4 Thời gian đào tạo 40

2.2.5 Hiện trạng đào tạo giáo viên 41

2.2.6 Chứng chỉ 45

Chương 3 : TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 48

3.1 Bối cảnh 48

Trang 8

3.2 Hiện trạng 52

3.2.1.Yêu cầu về đào tạo giáo viên 52

3.2.2.Khóa học chuyên ngành 57

3.2.3.Cách thức đào tạo giáo viên 64

3.2.4 Thời gian đào tạo 65

3.2.5 Hiện trạng đào tạo giáo viên 66

3.2.6 Chứng chỉ 67

Chương 4: SO SÁNH VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN GIẢNG DẠY TIẾNG CỦA HAI NƯỚC 69

4.1 Kết quả so sánh, tổng kết 69

4.2 Những thách thức cả hai quốc gia phải đối mặt 75

4.2.1 Chú trọng đào tạo tổng hợp tố chất và năng lực 76

4.2.2 Hình thức đào tạo năng lực chuyên môn 79

4.3 Các vấn đề luận văn đang bỏ ngỏ 82

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 86

Trang 10

kể, tạo ra sự bùng nổ xu hướng học tiếng Trung trên toàn thế giới Cũng vào thời điểm này, chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu thúc đẩy việc quảng

bá tiếng Trung như một ngôn ngữ quốc tế Để đáp ứng nhu cầu quảng bá tiếng Trung như một môn ngoại ngữ, bắt đầu từ năm 2007, Trung Quốc

đã thí điểm thạc sĩ Giáo dục Quốc tế Hán ngữ tại 24 trường đại học trọng điểm.”

Khi nhu cầu về giáo viên Hán ngữ (tiếng Trung) tăng lên, số lượng các cơ sở đào tạo giáo viên cũng tăng theo Nhưng chúng ta cần đảm bảo rằng khi số lượng tăng chất lượng cũng phải tăng Bằng cách bồi dưỡng các giáo viên tiếng Trung có năng lực, phát triển tư chất và năng lực của giáo viên một cách tốt hơn, chúng ta mới có thể đảm bảo giáo dục Hán ngữ đạt chất lượng cao, chúng ta mới có thể đào tạo giáo viên tiếng Trung một cách hệ thống hóa, thực tế hóa và chuyên nghiệp hóa Bởi vì giáo viên Hán ngữ dự bị là chủ thể để cung cấp cho giáo dục tiếng Trung có thể đào tạo ra những học sinh chất lượng cao, nên chúng ta cần tập trung

Trang 11

2

vào các chương trình đào tạo các giáo viên dự bị được xây dựng bởi các

tổ chức giáo dục đào tạo

Chúng tôi chọn đề tài《So sánh việc đào tạo giáo viên tiếng Trung, tiếng Việt cho người nước ngoài》, vì việc đào tạo giáo viên tiếng Trung như một ngoại ngữ và việc đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài là hai việc có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có một số sự khác biệt Vì vậy chúng tôi muốn làm đề tài này để so sánh hai nội dung vừa đề cập ở trên

Ngoài ra, trước đây ở Trung Quốc tôi cũng đã học chuyên ngành giáo dục Hán ngữ quốc tế (giảng dạy tiếng Trung cho người nước ngoài), sau khi tốt nghiệp đại học tại Trung Quốc sang Việt Nam học tiếng Việt

và Việt Nam học Một quá trình kép đã cho phép tác giả tìm hiểu một cách bài bản và chuyên sâu về phương pháp đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Trung cho người có ngôn ngữ mẹ đẻ không phải là tiếng Trung và đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt cho người có ngôn ngữ mẹ đẻ không phải là tiếng Việt Do đó, chúng tôi sẽ có những lợi thế nhất định khi nghiên cứu lĩnh vực này Chúng tôi cũng hy vọng rằng đề tài nghiên cứu này có thể đóng góp một phần nào đó để nâng cao chất lượng giáo viên chuyên nghiệp dạy tiếng của hai nước

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về các cơ sở giáo dục và đào tạo giáo viên nói chung Cũng có nhiều bài viết về giáo dục Hán ngữ quốc tế tại Trung Quốc và giảng dạy tiếng Việt đối ngoại tại Việt Nam

Trang 12

3

Tuy nhiên, có rất ít bài viết về đào tạo giáo viên tiếng Việt như một giáo viên dạy ngoại ngữ ở Việt Nam, và bằng cách so sánh đào tạo giáo viên giảng dạy nước ngoài giữa Trung Quốc và Việt Nam để thảo luận về vấn

đề này là đặc biệt hiếm

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ

CỦA ĐỀ TÀI

3.1.Phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích chương trình giảng dạy ngôn ngữ của hai quốc gia, tổng hợp các tài liệu nghiên cứu của việc giảng dạy tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Trung, so sánh đối chiếu các số liệu liên quan đến lĩnh vực này Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, lập bảng biểu để trình bày một cách rõ ràng hơn

về chương trình đào tạo

Chủ yếu nghiên cứu quy trình và phương pháp đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Trung cho người nước ngoài và việc đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

3.2.Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này chủ yếu chọn giáo viên giảng dạy tiếng Trung cho người nước ngoài và việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài làm đối tượng so sánh nghiên cứu; khảo sát về bối cảnh, hiện trạng và thiết lập chương trình giảng dạy, mục tiêu đào tạo, v.v…, và tóm tắt sự khác biệt giữa hai bên

Trang 13

4

3.3.Nhiệm vụ của đề tài

Trước hết, luận văn tập hợp các tư liệu có hệ thống, để có một nhận thức sâu sắc hơn trong quá trình về việc đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt và tiếng Trung cho người nước ngoài Thứ hai, luận văn đối chiếu so sánh tình hình về việc đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng cho người nước ngoài Phân tích các chương trình giáo dục về việc giảng dạy tiếng có thể cung cấp một cái nhìn tổng quan về môi trường giáo dục trong hai lĩnh vực chuyên nghiệp này ở Trung Quốc và Việt Nam, và giúp tìm ra phương pháp để việc đào tạo nhân tài trở lên hiện đại hóa và hợp lý hóa hơn

4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Trung Quốc và Việt Nam có những cách độc đáo để quảng bá ngôn ngữ của mình trên khắp thế giới Hai nước cần trao đổi kinh nghiệm và thành tựu đã được tích lũy về mặt này, nhưng cả hai bên đều có những vấn đề và thiếu sót chưa được giải quyết Chỉ có so sánh và phân tích hai bên mới có thể học hỏi lẫn nhau và cùng cải thiện, ngành nghề này mới

có thể theo kịp xu hướng của thời đại trong sự phát triển của tương lai và đóng vai trò lớn hơn

Nghiên cứu này so sánh và phân tích việc đào tạo giáo viên Hán ngữ quốc tế (giảng dạy Hán ngữ cho người nước ngoài) và việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Mục đích cung cấp thêm một tài liệu tham khảo về hướng đi này, đưa ra một cái nhìn tổng quan về công việc đào tạo giáo viên tiếng Việt và tiếng Trung, nhằm thúc đẩy việc học tập

Trang 14

5

lẫn nhau, gợi mở sự hợp tác, hy vọng góp phần đưa đến sự phát triển hơn của hai ngành này

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận có nội dung gồm 4 chương:

Chương 1 Một số khái niệm lý thuyết về dạy tiếng và lịch sử vấn đề Chương 2 Tình hình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Trung cho người nước ngoài

Chương 3 Tình hình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Chương 4 So sánh việc đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng của hai nước

Trang 15

Mục tiêu chính của việc dạy tiếng là đào tạo và nâng cao năng lực ngôn ngữ của người được giáo dục Khái niệm "năng lực ngôn ngữ" được hiểu là năng lực sử dụng ngôn ngữ để nghe, nói, đọc và viết, hoặc khả năng sử dụng tiếng nói, lời văn để giao tiếp

1.1.2 Về khái niệm đào tạo giáo viên dạy tiếng

Một đặc trưng của nghề dạy tiếng là chúng ta phải tiếp xúc với hàng loạt đối tượng người học khác nhau, với những điều kiện học, mục đích, lứa tuổi, quốc tịch, tiếng mẹ đẻ khác nhau Nói cách khác, chúng ta phải chú ý đến từng cá nhân một với những bối cảnh khác nhau Như vậy, về khía cạnh lý thuyết, chúng ta phải chú ý đến toàn bộ đối tượng học nhưng đồng thời cũng phải chú ý đến từng cá nhân

Thực tế là trên thế giới đã có hẳn ngành dạy tiếng (language teaching) thuộc ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) và rất nhiều

Trang 16

Teacher development chú ý đến giai đoạn sau khi đã qua giai đoạn đào tạo đầu tiên và đề cập tới sự phát triển nghề nghiệp của các giáo viên, đặc biệt là các chương trình tập huấn dành cho các giáo viên đang giảng dạy (Inservice Education)” Chương trình này tập trung vào việc tự đánh giá của giáo viên, việc các giáo viên khảo sát về những bình diện khác nhau của tiến trình giảng dạy và việc kiểm tra cách tiếp cận đối với tiến trình giảng dạy của giáo viên Chương trình Inservice programmes dành cho các giáo viên dạy tiếng cũng có thể được gọi là “Continuing

Trang 17

Ngôn ngữ thứ nhất/ngôn ngữ đầu tiên (trong một mức độ nào đó là tiếng mẹ đẻ) chính là ngôn ngữ mà một người tiếp xúc và tiếp thu lần đầu tiên sau khi sinh ra; ngôn ngữ thứ hai đề cập đến một ngôn ngữ khác mà mọi người học và sử dụng sau khi có được ngôn ngữ đầu tiên Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai được phân biệt hoàn toàn ngay từ khi người học học ngôn ngữ, ngôn ngữ thứ hai không giống với ngôn ngữ thứ nhất hoặc ngôn ngữ chính thức được pháp luật quy định ở một số quốc gia đa ngôn ngữ

Tóm lại, "ngôn ngữ thứ hai" có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa rộng của "ngôn ngữ thứ hai" đề cập đến bất kỳ ngôn ngữ nào được học và sử dụng sau khi có được ngôn ngữ đầu tiên, bao gồm cả ngoại ngữ; nghĩa hẹp của "ngôn ngữ thứ hai" được lý giải bằng hai cách: một là đề cập đến ngôn ngữ mẹ đẻ khác với ngôn ngữ đầu tiên hoặc ngôn ngữ của các dân tộc khác trong nước không bao gồm ngoại ngữ; còn lại là đề cập đến ngôn ngữ đích được học trong môi trường sử dụng ngôn ngữ đó, bao gồm một số ngoại ngữ

1.1.4 Thế nào là dạy ngôn ngữ thứ hai

Dạy tiếng có hai hình thức: dạy ngôn ngữ thứ nhất hoặc dạy tiếng

Trang 18

9

mẹ đẻ (first language teaching/mother tongue teaching) và dạy ngôn ngữ thứ hai (second language teaching) Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào việc dạy ngôn ngữ thứ hai

Dạy ngôn ngữ thứ hai (second language teaching) là dạy cho người được giáo dục nắm vững kiến thức và cách sử dụng ngôn ngữ thứ hai trên

cơ sở đối tượng đã tiếp nhận giáo dục hoặc đã có nền tảng ngôn ngữ mẹ

đẻ Đây là cách dạy loại ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ Cũng được gọi là dạy ngôn ngữ thứ hai Mục tiêu của dạy ngôn ngữ thứ hai là đào tạo học sinh sử dụng ngôn ngữ thứ hai để giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và viết

1.1.5 Sự khác nhau giữa ngôn ngữ thứ 2 (ngoại ngữ) với tiếng

mẹ đẻ

Tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ Tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ được phân biệt theo ranh giới quốc gia Tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ của đất nước, dân tộc Ngoại ngữ là tiếng nước ngoài Trong hoàn cảnh bình thường, tiếng

mẹ đẻ là ngôn ngữ đầu tiên của con người, nhưng đối với một số trẻ em

di cư, ngôn ngữ đầu tiên họ tiếp xúc và tiếp thu sau khi sinh ra có thể không phải là tiếng mẹ đẻ mà là ngôn ngữ của quốc gia cư trú Vì vậy, không thể hoàn toàn đánh đồng hai khái niệm ngôn ngữ thứ nhất và tiếng

mẹ đẻ Ngược lại, ngôn ngữ thứ hai không nhất thiết phải là ngoại ngữ

Trang 19

10

1.1.6 Việc học hai ngôn ngữ này (tiếng mẹ đẻ và Ngôn ngữ thứ 2

giống khác thế nào)

Nhiều người tin rằng nếu chúng ta có thể học ngoại ngữ, chúng ta sẽ

có nhiều cơ hội cạnh tranh hơn Vậy, chúng ta học ngôn ngữ như thế nào? Đối tượng nghiên cứu có hệ thống về vấn đề này là thụ đắc ngôn ngữ Thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất (First Language Acquis-tion, FLA) nghiên cứu vấn đề trẻ em học tiếng mẹ đẻ, còn được gọi là "tiếp thu tiếng mẹ đẻ" Theo truyền thống, thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition, SLA) là việc tiếp thu tất cả các ngôn ngữ khác với ngôn ngữ

mẹ đẻ, đối tượng nghiên cứu thông thường là người lớn

Trong việc thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất, có một thời kỳ quan trọng (từ

sơ sinh đến tuổi vị thành niên) do các yếu tố sinh lý quyết định, sau thời

kỳ quan trọng này, việc thụ đắc ngôn ngữ khó đạt đến mức bình thường Trong việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, đối với câu hỏi có tồn tại giai đoạn quan trọng hay không, các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau Các học giả đồng ý với giả thuyết thời kỳ quan trọng có những ý kiến khác nhau về thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời kỳ quan trọng cũng như các phương diện khác ảnh hưởng đến lĩnh vực ngôn ngữ

Ngoài ra, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng "thu nhận"

(acquisition) và "học tập"(learning) như các thuật ngữ có thể thay thế cho nhau, tất nhiên, trong lý thuyết của một số nhà nghiên cứu, có sự phân biệt chặt chẽ giữa hai thuật ngữ này

Trang 20

11

1.2 Lịch sử đào tạo giáo viên dạy tiếng trên thế giới

1.2.1 Các ví dụ như đào tạo giáo viên dạy tiếng Anh

Nghiên cứu của nước ngoài về giáo dục giáo viên ngôn ngữ thứ hai chủ yếu tập trung ở Vương quốc Anh và Hoa Kỳ Các học giả nước ngoài

có tương đối ít nghiên cứu có hệ thống về giáo viên ngôn ngữ thứ hai, nhưng nội dung tương đối phức tạp, chủ yếu tập trung vào việc học tập và phát triển của giáo viên, nhận thức của giáo viên và các vấn đề giáo dục

và đào tạo

Vào những năm 1960, với sự mở rộng nhanh chóng của tiếng Anh, môn học giáo dục ngôn ngữ thứ hai bắt đầu được thành lập Trong suốt những năm 1970, thế giới giảng dạy ngôn ngữ thứ hai đã trải qua sự mất định hướng và bối rối trong suy nghĩ Trong việc thảo luận về phương pháp giảng dạy, mọi người không đạt được sự đồng thuận nào Rõ ràng, nghiên cứu dạy học lúc bấy giờ đã bỏ qua vai trò quan trọng của nhận thức giáo viên trong hoạt động dạy học, không coi nhận thức của giáo viên là yếu tố hàng đầu trong quá trình dạy học Nhận thức của giáo viên

là một quá trình rất phức tạp, miêu tả kinh nghiệm tích lũy của giáo viên thông qua quá trình học tập và phát triển là chưa đủ

Vào những năm 1980, người ta cuối cùng đã nhận ra rằng trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ thứ hai, yếu tố giáo viên vốn dĩ là vô cùng quan trọng này thường bị bỏ qua Người ta chuyển sang một góc nhìn rộng hơn,

sử dụng diễn giải và sinh thái học để hiểu sự phức tạp về mặt nhận thức của việc giảng dạy, nhấn mạnh rằng giảng dạy là một loại hiểu biết, cách

Trang 21

12

lí giải của cá nhân giáo viên về các sự kiện giảng dạy dựa trên nền tảng là môi trường trải nghiệm của họ, vì thế sự hiểu biết, sự tinh tế và phức tạp của mỗi người là khác nhau

Các quan niệm giáo dục của giáo viên nước ngoài cũng đã trải qua một loạt thay đổi dưới sự ảnh hưởng của cách nhìn nhận về ngoại ngữ và giảng dạy ngoại ngữ Trong các tài liệu về giáo dục ngôn ngữ thứ hai ở nước ngoài, khái niệm giáo dục giáo viên đã trải qua ba giai đoạn phát triển: "đào tạo giáo viên", "giáo dục giáo viên" và "phát triển giáo viên" Đây không chỉ là sự thay đổi về mặt chuyên môn, mà còn là sự thay đổi

và làm sâu sắc thêm cách hiểu của mọi người về khái niệm nghề giáo Với sự thay đổi về nhận thức, cộng đồng giáo dục ngoại ngữ hiện nay đã chuyển từ tập trung vào cách đào tạo và giảng dạy giáo viên, dần chuyển sang tập trung vào cách giáo viên học và phát triển, từ đó, họ đã tổng kết lý thuyết mô hình học tập của giáo viên ngoại ngữ: (1) Dựa trên chủ nghĩa hành vi học bắt chước: con người với tư cách là một hệ thống đầu vào - đầu ra; (2) Học tập không theo định hướng của con người: con người với tư cách là tác nhân tự chủ; (3) Học tập mang tính xây dựng dựa trên lý thuyết nhận thức: con người là chủ thể xây dựng tri thức; (4) Dựa trên học tập xây dựng lý thuyết văn hóa xã hội: con người với tư cách là thành viên của xã hội

Trang 22

sĩ và luận án tiến sĩ Nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhu cầu giáo viên tiếng Trung và tình hình đào tạo hiện nay Trong "Phân tích sơ bộ tình trạng chuyên môn tiến thoái lưỡng nan và bồi dưỡng nhân tài của việc giảng dạy tiếng Trung cho người nước ngoài [51, tr.40]", Li Yuanyuan đã chỉ ra những vấn đề và tình huống khó xử hiện nay khi dạy tiếng Trung như một ngôn ngữ nước ngoài thông qua phân tích so sánh

Zhang Jue tin rằng việc cấp bằng thạc sĩ giáo dục quốc tế Hán ngữ là một biện pháp kịp thời và sáng tạo để giải quyết tình trạng thiếu giáo viên dạy tiếng Trung Tác giả cũng đề xuất thêm các biện pháp cải cách cho hệ thống giảng dạy của sinh viên nước ngoài và đào tạo sinh viên nước ngoài trong các trường đại học Chen Shen và Xue Xinhua đã giới thiệu

sự phát triển việc đào tạo giáo viên dạy tiếng Trung trong bài viết "Cấu trúc khái niệm đào tạo giáo viên ngôn ngữ quốc tế Trung Quốc [43, tr.28]", tiến hành các cuộc thảo luận quan trọng về chương trình đào tạo truyền thống của giáo viên tiếng Trung, ủng hộ việc "giải cấu trúc" mô hình truyền thống vượt qua phạm vi quốc gia

Trang 23

14

Nghiên cứu về việc đào tạo bằng thạc sĩ giáo dục Hán ngữ quốc tế Trong phần "Thảo luận về các mục tiêu đào tạo và ý tưởng giảng dạy cho Thạc sĩ giáo dục Hán ngữ quốc tế [50, tr.1]”, Bài "Thảo luận về các nguyên tắc và thực hành của thạc sĩ giáo dục Hán ngữ quốc tế"của Li Quan đã phân tích phương án bồi dưỡng nhân tài của chương trình đào tạo thạc sĩ Hán ngữ và nền tảng kiến thức của thí sinh trong những năm gần đây, tác giả đã ủng hộ sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trong quá trình đào tạo thạc sĩ Hán ngữ giáo dục quốc tế Nguyên tắc nhấn mạnh như nhau về chuyển giao kiến thức và đào tạo kỹ năng Cần nhấn mạnh rằng trong quá trình thực hiện chương trình hướng dẫn, trong việc giảng dạy các khóa học cụ thể, việc dạy chữ Hán và văn hóa Trung Quốc cần được tăng cường đặc biệt, và cần cố gắng phát triển khả năng giảng dạy đa văn hóa Feng LiPing đưa ra những hiểu biết sâu sắc về bốn khía cạnh cấu trúc năng lực của học sinh, nền tảng kiến thức, tiêu chuẩn đánh giá và thực tập ở nước ngoài[46, tr.114]

"Nghiên cứu về chất lượng giáo viên Hán ngữ đối ngoại" của Wang Xiaoyin nghiên cứu tình hình hiện tại và các vấn đề mà giáo viên tiếng Trung phải gặp và chỉ ra những phẩm chất đạo đức và tố chất nghề nghiệp mà giáo viên tiếng Trung cần phải có một cách toàn diện và cụ thể

Sự phát triển của việc giảng dạy tiếng Trung như một ngoại ngữ thực sự bắt đầu sau khi thành lập Trung Quốc Mới Kể từ khi tiếp nhận lứa sinh viên nước ngoài đầu tiên vào năm 1950, việc giảng dạy tiếng

Trang 24

15

Trung như một ngoại ngữ của Trung Quốc đã trải qua hơn nửa thế kỷ

“Năm 1965, Chính phủ Việt Nam cử 2.000 lưu học sinh sang Trung Quốc

Bộ Giáo dục Đại học Trung Quốc đã giao cho Học viện Ngôn ngữ Bắc Kinh cung cấp 22 đơn vị đảm nhận nhiệm vụ đào tạo tiếng Trung dự bị cho nhóm lưu học sinh này vào mùa hè năm 1965, trừ nhiều cơ sở chưa

có kinh nghiệm dạy ngoại ngữ tiếng Trung Các giáo viên của trường đã

tổ chức tập huấn dạy tiếng Trung như một ngoại ngữ Điều này đã đóng một vai trò rất tốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của việc giảng dạy tiếng Trung như một ngoại ngữ” [42, tr 39]

Hiện cả nước có hơn 400 trường cao đẳng và đại học giảng dạy tiếng Trung như một ngoại ngữ đến cuối năm 2002 đã có hơn 63.000 sinh viên nước ngoài Ngoài ra, nhiều trường đã thành lập các trường cao đẳng trung học độc lập, đảm bảo tổ chức thực tế cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học Chuyên ngành "Ngôn ngữ Trung Quốc" kéo dài 4 năm với mục đích giảng dạy ngôn ngữ thứ hai được triển khai thí điểm tại Học viện Ngôn ngữ Bắc Kinh vào năm 1975 Đối tượng đào tạo là giáo viên tiếng Trung, dịch giả và các tài năng nghiên cứu ngôn ngữ Trung Quốc Sau đó, Đại học Nam Đài, Đại học Nam Kinh, Đại học Phúc Đán và các trường cao đẳng, đại học khác cũng đã thành lập chuyên ngành này, hiện

đã có hơn 30 trường cao đẳng và đại học trên cả nước mở chuyên ngành đào tạo cử nhân tiếng Trung

Việc cử giáo viên trong nước và đào tạo giáo viên nước ngoài tăng lên Với sự phát triển mạnh của việc giảng dạy tiếng Trung ở nước ngoài,

Trang 25

16

ngày càng có nhiều trường cao đẳng và đại học ở nước ngoài yêu cầu cử giáo viên dạy tiếng Trung, và ngày càng có nhiều giáo viên dạy tiếng Trung được cử ra nước ngoài bằng Hanban hoặc trao đổi giữa các trường Ngày càng có nhiều giáo viên tiếng Trung mang quốc tịch nước ngoài được đào tạo trong và ngoài đất nước Trung Quốc

1.2.3 Lịch sử đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt ở Việt Nam

Năm 1955, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTHHN) bắt đầu dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam Sau đó, ngày 18 tháng 12 năm 1968, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH & NV) có quyết định thành lập Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt

Như vậy, quá trình “giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài tại các trường đại học Việt Nam đã có 63 năm lịch sử Trong quá trình đó , đã có nhiều thay đổi lớn về nhiều phương diện Đến nay, chúng ta đã có một quá trình đa dạng và bền vững về đào tạo tiếng Việt và Việt Nam học cho người nước ngoài không chỉ tại Trường ĐHKHXH & NV và trên toàn lãnh thổ Việt Nam mà còn mở rộng ra trên toàn thế giới”

So với quá trình giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ thì việc đào tạo giáo viên tiếng Việt như một ngoại ngữ hầu như chưa có lịch sử

và chưa được chú ý đúng với tầm mức của vị trí tiếng Việt như một ngoại ngữ Hơn lúc nào hết, công việc này cần được xem xét một cách nghiêm túc và cần có những giải pháp thỏa đáng Giảng dạy Tiếng Việt như một ngoại ngữ là một công việc hết sức có ý nghĩa và cần thiết trong thời đại

Trang 26

17

Việt Nam làm bạn với thế giới Trong nghị quyết 36 của Bộ Chính trị BCHTƯ Đảng Cộng Sản Việt Nam về người Việt Nam ở nước ngoài, tại mục 5, có nêu lên tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho con em người Việt Nam ở nước ngoài Báo Nhân dân số ra ngày 26 tháng 4 năm

2010 có bài “Triển khai thí điểm dạy tiếng Việt tại sáu nước” với nội dung như sau: “Trong năm 2010, Đề án “Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ nay đến năm 2020” đã được phép triển khai thí điểm tại sáu thành phố Viêng Chăn (Lào), Phnôm pênh (Campuchia), Ma - xcơ - va (Nga), Pra - ha (Séc), Ca - li - pho - ni - a (Mỹ) và Tô - rôn - tô (Ca - na - đa) Đề án này được Thủ tướng chính phủ giao cho Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết và ngày càng lớn của đồng bào Việt Nam

ở nước ngoài cũng như yêu cầu ngày càng cao của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Nguyễn Thiện Nam trong bài “Nửa thế kỷ đào tạo tiếng Việt và Việt Nam học tại đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trường hợp khoa Việt Nam học và tiếng Việt)” đã tóm tắt các giai đoạn tiến trình lịch sử về việc đào tạo tiếng Việt và Việt Nam học tại đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trường hợp khoa Việt Nam học và tiếng Việt) Bài này cụ thể kể ra trong quá khứ các sự kiện có ý nghĩa lớn lao về việc đào tạo tiếng Việt và Việt Nam học tại đại học khoa học xã hội và nhân văn [18, tr.18]

Còn với bài “Một số tri thức chung về việc đào tạo giáo viên dạy tiếng và một đề nghị về chương trình đào tạo giáo viên tiếng việt như một

Trang 27

độ tiếng Việt như ngoại ngữ” [8, tr.82] cho rằng về sự phát triển của

ngành giảng dạy tiếng Việt ngày càng đòi hỏi sự chuẩn hóa và thống nhất trong việc đánh giá trình độ Trên cơ sở phân tích các hệ thống đánh giá các sinh ngữ khác , trên cơ sở quan sát thực tế và kinh nghiệm, bài viết của Đinh Lư Giang mô tả và đề xuất một hệ thống đánh giá cho tiếng Việt Một bài kiểm tra chung thường được sử dụng để đánh giá trình độ tiếng Việt Đây là phương pháp hợp lý và tiết kiệm, hợp lý vì nó có cơ sở để so sánh trình độ, tiết kiệm bởi vì nó dùng được cho mọi đối tượng

“Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ [1, tr.39]” của Dư Ngọc Ngân, bài viết trình bày một số thành tựu bước đầu của việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ về chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy, những kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan đến việc dạy tiếng nói chung và việc dạy tiếng Việt nói riêng Những thành tựu này tuy chưa nhiều nhưng có thể mở ra những triển vọng không nhỏ cho ngành đào tạo này

Trang 28

19

Bài “Một số hình thức hỗ trợ tích cực trong việc giảng dạy môn Văn

học Việt Nam cho sinh viên nước ngoài” của Trần Thị Mai Nhân [22, tr.330], bài “Một số kinh nghiệm dạy viết tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài [3, tr.27]” của Dương Thị Thu Hương, hai bài này đều tiến hành phân tích và đưa ra kinh nghiệm về một số mặt khác liên qua đến giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và đứng từ góc độ của giáo viên phân tích một số trường hợp khi giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Hiện nay, trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ở Việt Nam, đối tượng nghiên cứu chính là người học, từ các khía cạnh ngôn ngữ học, biểu hiện lớp học và giảng dạy văn hóa Họ đưa ra các câu hỏi và đưa ra những gợi ý tương ứng Tuy nhiên, những nghiên cứu này

là rất cụ thể và chi tiết cho người học tiếng Việt Nhưng chỉ có rất ít nghiên cứu về chương trình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ và rất ít tài liệu tương ứng về giáo viên làm đối tượng nghiên cứu Vì vậy, để đào tạo giáo viên tiếng Việt như một giáo viên ngoại ngữ, chúng ta cần có kinh nghiệm thực tế lâu dài để phát triển một

mô hình và chương trình phù hợp về việc đào tạo giáo viên tiếng Việt tại Việt Nam

Trên cơ sở này, nghiên cứu cũng sẽ tìm ra các vấn đề tồn tại trong các chương trình đào tạo hiện tại của các cơ sở đào tạo giáo viên chuyên

Trang 29

20

nghiệp ở hai nước và tìm hiểu thêm về cách cải thiện chương trình đào tạo các giáo viên chuyên ngành

1.2.4 Lịch sử các phương pháp dạy tiếng

Tóm lại, dạy học ngoại ngữ hiện đại chỉ có lịch sử hơn 100 năm Trong hơn 100 năm qua, hàng chục trường phái và phương pháp dạy đã

ra đời Trong số đó, có ảnh hưởng nhất là các trường phái nhận thức nhấn mạnh sự làm chủ có ý thức, chẳng hạn như dịch thuật ngữ pháp, đối chiếu

có ý thức và phương pháp nhận thức; các trường phái kinh nghiệm nhấn mạnh vào việc hình thành thói quen, chẳng hạn như phương pháp trực tiếp, tình huống, nghe và nói, và nghe nhìn; các phương pháp hướng vào con người nhấn mạnh các yếu tố cảm xúc, chẳng hạn như học ngôn ngữ nhóm, dạy im lặng, gợi ý, v.v ; các trường chức năng nhấn mạnh vào việc sử dụng giao tiếp, chẳng hạn như phương pháp giao tiếp Dàn ý được giới thiệu như sau:

Phương pháp ngữ pháp dịch (grammar-translation method) là một phương pháp dạy ngoại ngữ sử dụng việc dịch và học ngữ pháp như là những hoạt động dạy và học chủ yếu Phương pháp này được sử dụng một cách truyền thống để dạy tiếng Latin và Hy lạp ở Châu Âu Khoảng thế kỷ 19, được sử dụng để dạy những ngôn ngữ lúc đó được coi là “hiện đại” như tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Anh, và vẫn được sử dụng ở nhiều nước cho đến ngày nay Một bài học tiêu biểu bao gồm sự trình bày công thức ngữ pháp, danh sách các từ mới và bài tập dịch

Trang 30

21

Những đặc điểm chính:

– Ngôn ngữ dùng để giảng dạy là tiếng mẹ đẻ

– Phát âm không được chú ý

– Từ vựng được dạy nhiều dưới dạng một danh sách các từ tách biệt

– Việc đọc các bài khóa khó được bắt đầu khá sớm, nội dung các bài khóa không được chú ý bằng việc phân tích ngữ pháp

– Giải thích khá chi tiết về các quy tắc ngữ pháp theo lối diễn dịch

– Các bài luyện tập chủ yếu là dịch các câu độc lập từ ngôn ngữ đích sang tiếng mẹ đẻ

Phương pháp ngữ pháp dịch là hệ thống phương pháp dạy học hoàn chỉnh đầu tiên trong lịch sử dạy học ngoại ngữ Nó nhấn mạnh việc nắm vững các quy tắc ngữ pháp, tập trung vào sự phát triển trí thông minh của học sinh, có thể trau dồi kỹ năng đọc và dịch tốt hơn

1.2.4.2 Phương pháp trực tiếp (The direct method)

Phương pháp này xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, như là một sự phản bác lại “Phương pháp Ngữ pháp - dịch” Triết lý để tạo ra cuộc “nổi dậy” này là: Biết một ngoại ngữ tức là có thể nghe nói được ngoại ngữ đó Giáo viên dạy ngôn ngữ chứ không dạy về ngôn ngữ Ngôn ngữ dùng để giảng dạy là ngôn ngữ đích; tiếng mẹ đẻ bị loại trừ

Những đặc điểm chính:

– Phát âm được chú ý

Trang 31

Kết quả: 1 Sinh viên có khả năng giao tiếp nhưng do hạn chế của tài

liệu giảng dạy (không hệ thống) nên không thể tiến xa; 2 Không phù hợp với các lớp học có nhiều sinh viên; 3 Tiến trình dạy - học khá nặng nhọc

1.2.4.3 Phương pháp nghe-nói (The audiolingual method - alm)

Phương pháp nghe-nói (The audiolingual method - alm) Nổi lên từ những năm 40, 50 và 60 của thể kỷ XX; thịnh hành ở Mỹ và cũng được dùng rộng rãi trên thế giới Một cuộc cách mạng trong việc dạy tiếng Chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận trong ngôn ngữ học và hành vi luận trong tâm

Trang 32

23

sánh tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích;

– Sửa chữa những sai lầm của học sinh một cách nghiêm khắc

và kịp thời, tránh hình thành những thói quen sai trái;

– Sử dụng rộng rãi các phương pháp giảng dạy hiện đại như ghi

âm, quay phim và truyền hình để kích thích chuyên sâu

Phương pháp nghe - nói kế thừa các nguyên tắc giảng dạy chính của phương pháp trực tiếp để phát triển, đặc biệt nhấn mạnh việc biên soạn tài liệu giảng dạy và giảng dạy trên lớp dựa trên sự so sánh giữa ngôn ngữ đích và tiếng mẹ đẻ của học sinh Nghe - nói vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong việc giảng dạy ngoại ngữ ở Hoa Kỳ và tiếp tục đóng một vai trò trong việc giảng dạy ngoại ngữ ở nhiều quốc gia

1.2.4.4 Phương pháp nghe-nhìn (The audiovisuel method )

Mục đích là sử dụng các kênh nghe nhìn để tăng tốc khả năng học nhằm đạt hiệu quả nhanh chóng

– Nội dung giới thiệu về đất nước được học

Trang 33

24

– Tiếng mẹ đẻ bị hạn chế, trong những trường hợp hãn hữu, khi

đã tìm đủ mọi cách mà sinh viên vẫn không hiểu thì cho phép dịch để hiểu

Kết quả: Tạo nên một sự kích thích mới đối với phong trào học ngoại ngữ Nhờ ấn tượng thính giác đi kèm thị giác nên trong giờ học sinh động hơn và người học có thể đạt kết quả tốt hơn Tính giao tiếp và khẩu ngữ được chú ý Khả năng nói đã được cải thiện

Về sau, với sự phát triển của công nghệ nghe nhìn hiện đại, phương pháp này (âm thanh, hình ảnh) đã được tận dụng rộng rãi trong việc dạy

và học ngoại ngữ

1.2.4.5 Phương pháp tích hợp (Focus on Form)

Khái niệm: Đây là phương pháp dung hòa giữa hai khuynh hướng cực đoan trong quá khứ: khuynh hướng dạy tiếng coi ngữ pháp là thống soái và khuynh hướng dạy tiếng coi (nghĩa) giao tiếp là thống soái

Những phương pháp coi giao tiếp là thống soái được gọi là Focus on Meaning mà điển hình nhất là phương pháp giao tiếp Phương pháp này (CLT/CA) quả thực đã giúp người học đạt được mục đích giao tiếp cơ bản trong những chương trình cấp tốc, tuy nhiên, thực tế là sản phẩm ngôn ngữ của những sinh viên học theo phương pháp giao tiếp khó đạt đến mức hoàn thiện, ngôn ngữ trung gian của người học hãy còn xa mới đạt đến mức độ gần ngôn ngữ đích, quá nhiều lỗi ngữ pháp và các dạng lỗi hóa thạch (Fossilization) mặc dù sinh viên có thể giao tiếp nhanh và mức độ hiểu người bản ngữ thì xuất sắc

Trang 34

và các yếu tố khác đối với việc giảng dạy ngoại ngữ Người giáo viên dạy tiếng theo tiếp cận này cần nắm được các phương pháp dạy tiếng đã có, tùy tình hình thực tế của môi trường và ngữ cảnh giảng dạy, có thể đưa ra những tiếp cận giảng dạy phù hợp Như vậy giáo viên dạy tiếng theo tiếp cận này có quyền chủ động (autonomy) cao Tiếp cận này đưa ra một khung có tính chiến lược vĩ mô giúp các giáo viên phát triển những nguyên lý thực hành của cá nhân một cách hệ thống, mạch lạc

Trang 35

và bài nghiên cứu chúng ta có thể biết lịch sử đào tạo giáo viên dạy tiếng của hai quốc gia tuy chưa lâu nhưng ngành giáo dục vẫn đang cố gắng dành nhiều tâm huyết để phát triển nó

Trang 36

Từ cuối thế kỷ 20 đến nay, việc quảng bá tiếng Trung đã bước vào giai đoạn phát triển toàn diện Kể từ khi cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển tốt Trong bối cảnh quốc tế hóa toàn cầu hóa, việc giao lưu đối ngoại phát triển nhanh chóng Vì thế, số người nước ngoài học tiếng Trung đã tăng lên đáng kể, từ cái nhìn khách quan cho thấy cần một lượng lớn giáo viên tiếng Trung

Sau 60 năm phát triển Hán ngữ đối ngoại ngày càng đạt được những thành tựu to lớn và có ảnh hưởng mạnh mẽ, đem lại tác dụng không thể thay thế được Bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ, việc dạy tiếng Trung như một ngoại ngữ cũng có nhiều thiếu sót và gặp nhiều khó khăn thách thức Điều này chủ yếu được thể hiện ở bốn khía cạnh: Thứ nhất, mô hình đào tạo nhân tài cho việc quảng bá tiếng Trung ở phạ m vi quốc tế không thể đáp ứng nhu cầu của xã hội Mô hình đào tạo hiện tại tập trung vào

Trang 37

28

việc trau dồi tài năng học thuật, nhưng chưa thực sự đầu tư về mảng đào tạo khả năng ngoại ngữ và khả năng giao tiếp đa văn hóa Đây cũng là điểm cần quan tâm trong thực hành giảng dạy ngôn ngữ thứ hai và đào tạo kỹ năng cho người học Thứ hai, quy mô và số lượng nhân tài cho việc quảng bá tiếng Trung ở phạm vi quốc tế còn nhỏ Hiện nay, nhu cầu tuyển dụng giáo viên giảng dạy tiếng Trung ở các trường tiểu học và trung học của nước ngoài là tương đối lớn, nhưng tình trạng thiếu giáo viên có kiến thức chuyên môn vững đang là vấn đề được ngành giáo dục quan tâm Thứ ba, có một khoảng cách nhất định giữa tiêu chuẩn đào tạo nhân tài cho việc quảng bá quốc tế và nhu cầu xã hội Hiện nay, đào tạo nhân tài được định vị ở cấp đại học Nhân viên được đào tạo có chất lượng tổng thể kém, vốn kiến thức ít và năng lực giảng dạy không đủ Hầu hết họ không đủ điều kiện trực tiếp cho các vị trí giảng dạy tiếng Trung Đồng thời, kinh nghiệm xã hội, cấu trúc kiến thức và tuổi của các nhân viên này không đáp ứng được yêu cầu của giáo viên dạy tiếng Trung như một ngoại ngữ Điều này rất khó để họ thực hiện được công việc giảng dạy cũng như truyền bá văn hóa Trung Quốc Thứ tư, việc đào tạo nhân tài để quảng bá tiếng Trung trên trường quốc tế nhấn mạnh quá nhiều tính hàn lâm và tính hệ thống, dẫn tới việc đào tạo nhân tài bị hạn chế, khiến sinh viên tốt nghiệp khó thích nghi với mô hình giảng dạy ở nước ngoài và hoạt động công tác xã hội

Do đó, việc thiết lập môn học và hệ thống đào tạo nhân sự để dạy tiếng Trung như một ngoại ngữ không thể đáp ứng nhu cầu quảng bá

Trang 38

29

tiếng Trung cho môi trường quốc tế Trong bối cảnh này, bằng thạc sĩ chuyên nghiệp tập trung vào việc trau dồi khả năng giảng dạy và khả năng thực tế, từ đó bằng thạc sĩ về Hán ngữ giáo dục quốc tế ra đời Tên đầy đủ bằng tiếng Anh của thạc sĩ về Hán ngữ giáo dục quốc tế là "Master

of Teaching Chinese to Speakers Other Languages" hay viết tắt là

"MTCSOL" Mục đích của việc thiết lập MTCSOL là cải cách và cải thiện hệ thống đào tạo các tài năng chuyên môn cho phù hợp với mục đích giảng dạy tiếng Trung như một ngôn ngữ nước ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu của xu hướng mới trong việc quảng bá tiếng Trung trên trường quốc tế và đào tạo các tài năng cấp cao, phù hợp với môi trường nước ngoài

2.2.Hiện trạng

2.2.1.Yêu cầu về đào tạo giáo viên

Để nâng cao chất lượng chuyên môn và trình độ giảng dạy, cũng như trau dồi và đào tạo số lượng lớn giáo viên Hán ngữ giáo dục quốc tế để phục vụ nhu cầu học tiếng Trung ngày càng tăng trên khắp thế giới, Trung Quốc đã phát triển: "Tiêu chuẩn giáo viên tiếng Trung quốc tế" (sau đây gọi là "Tiêu chuẩn")

Tiêu chuẩn là một mô tả toàn diện về kiến thức, khả năng và phẩm chất mà giáo viên tham gia giảng dạy tiếng Trung cần phải có để chứng minh trình độ

Tiêu chuẩn bao gồm 5 mô-đun Đó là: (1) Kiến thức và kỹ năng ngôn ngữ Nó bao gồm hai tiêu chuẩn: "Kiến thức, kỹ năng tiếng Trung"

Trang 39

30

và "kiến thức, kỹ năng ngoại ngữ", mô tả kiến thức và kỹ năng về tiếng Trung và ngoại ngữ mà giáo viên nên có (2) Văn hóa và giao tiếp Nó bao gồm hai phần: "Văn hóa Trung Quốc, so sánh văn hóa Trung Quốc với nước ngoài" và "truyền thông đa văn hóa" Giáo viên được yêu cầu phải có nhận thức đa văn hóa, tìm hiểu sâu về văn hóa Trung Quốc cũng như văn hóa quốc tế, đồng thời so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa họ, cuối cùng là nắm vững các quy tắc cơ bản của giao tiếp đa văn hóa (3) Lý thuyết tiếp thu ngôn ngữ thứ hai và chiến lược học tập Giáo viên được yêu cầu hiểu các quy tắc học tiếng Trung như một ngôn ngữ thứ hai và nắm bắt đặc điểm của người học để có thể giúp người học học tiếng Trung thành công (4) Phương pháp giảng dạy Nó bao gồm bốn tiêu chuẩn: "Phương pháp giảng dạy tiếng Trung", "Kiểm tra và đánh giá",

"Khóa học, giáo trình, tài liệu giảng dạy và tài liệu bổ trợ", "Ứng dụng và công nghệ giáo dục hiện đại" Giáo viên được yêu cầu nắm vững lý thuyết giảng dạy và kiến thức sư phạm về tiếng Trung như ngôn ngữ thứ hai đồng thời có khả năng tổ chức và thực hiện giảng dạy (5) Chất lượng toàn diện Nó chủ yếu mô tả chất lượng chuyên môn của giáo viên, khả năng phát triển nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp "Tiêu chuẩn" dựa trên những thành tựu mới của giảng dạy ngôn ngữ thứ hai quốc tế và nghiên cứu giáo viên như TESOL, tiếp thu kinh nghiệm thực tế của giáo viên quốc tế Trung Quốc và phản ánh các đặc điểm của Hán ngữ giáo dục quốc tế

Văn phòng cấp bằng học thuật của Hội đồng Trung Quốc đã ban

Trang 40

31

hành "Đề xuất thiết lập bằng thạc sĩ giáo dục Hán ngữ quốc tế" Yêu cầu của chương trình cho các mục tiêu đào tạo của Thạc sĩ giáo dục Hán ngữ quốc tế là: trau dồi vốn hiểu biết về tiếng Trung, thành thạo kỹ năng giảng dạy ngôn ngữ thứ hai và kỹ năng giao tiếp đa văn hóa tốt, thích ứng với việc quảng bá tiếng Trung và có khả năng cho các nhiệm vụ giảng dạy khác nhau Ứng dụng và hợp chất tài năng chuyên nghiệp Mô tả các yêu cầu đào tạo là:

1) Nắm vững các lý thuyết cơ bản của chủ nghĩa Mác, có phẩm chất chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp tốt

2) Yêu nghề có tinh thần cống hiến và ý thức tiên phong

3) Có kiến thức chuyên môn có hệ thống, hiểu biết văn hóa Trung Quốc cao và kỹ năng giao tiếp đa văn hóa

4) Có khả năng thành thạo tiếng Trung như một kỹ năng giảng dạy ngôn ngữ thứ hai

5) Bạn có thể sử dụng thành thạo ngoại ngữ cho giảng dạy và giao tiếp

6) Có thể sử dụng phương tiện công nghệ giáo dục hiện đại và khoa học vào trong giảng dạy

Sự hiểu biết của tác giả là mục tiêu mới tập trung vào "nhiệm vụ giảng dạy" hơn là nghiên cứu "Cấp độ cao" dùng để chỉ giáo dục trình độ cao ở cấp độ sau đại học, "ứng dụng" đề cập đến bậc thầy khoa học lý thuyết và có hệ thống, nhấn mạnh kiến thức Bậc thầy của Giáo dục Quốc

tế Trung Quốc nhấn mạnh khả năng giảng dạy và thực hành; Tính toàn

Ngày đăng: 15/01/2021, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w