Tuy nhiên kết quả của nghiên cứu hiện tại do các nghiệm thức thức ăn có cùng mức năng lượng tổng của thức ăn đồng thời hàm lượng protein và lipid thay đổi nghĩa là năng lượng đóng góp[r]
Trang 1DOI:10.22144/ctu.jvn.2020.062
TỈ LỆ NĂNG LƯỢNG PROTEIN/LIPID TỐI ƯU CHO CÁ LÓC (Channa striata)
NUÔI TRONG ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ MẶN CAO
Trần Thị Phương Lan1*, Trần Thị Thanh Hiền2, Lam Mỹ Lan2, Trần Lê Cẩm Tú2 và Trần Minh Phú2
1 Khoa Nông nghiệp Thủy sản, Trường Đại học Trà Vinh
2 Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
* Người chịu trách nhiệm về bài viết: Trần Thị Phương Lan (email: ttphlan@tvu.edu.vn)
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 12/01/2020
Ngày nhận bài sửa: 02/04/2020
Ngày duyệt đăng: 29/06/2020
Title:
The optimal ratio of energy
protein/lipid of snakehead
(Channa striata) cultured in
combined high temperature
and saline water
Từ khóa:
Độ mặn, cá lóc, Channa
striata, nhiệt độ, năng lượng,
tỉ lệ năng lượng protein/lipid
trong thức ăn
Keywords:
Channa striata, energy,
dietary energy protein/lipid
ratio, salinity, Snakehead fish,
temperature
ABSTRACT
The study aimed to determine the optimal energy ratio (protein/lipid) for snakehead fish (Channa striata) fingerlings 6.5 g cultured in two environmental conditions, 28 o C-0‰ and high temperature and salinity (34 o C-9‰) There were six diet treatments consisting three levels of protein (40, 45 and 50%) and two levels of lipid (7 and 10%) corresponding and the dietary ratios energy originated from protein/lipid 3.41; 3.36; 3.82; 2.49; 2.71 and 3.03, respectively over a 60-day period The results showed that the high temperature and salinity (34 o C-9‰) of cultured environment significantly reduced the survival rate, growth, feed intake, FCR, the utilization efficiency, and retention of nutrients (protein and lipid), but did not affect HSI (hepatosomatic index) of snakehead The dietary ratio of energy originated from protein and lipids influenced growth, the utilization efficiency, and retention of nutrients (protein and lipid) The optimal dietary ratio of energy protein/lipid for snakehead is 3.5 at the cultured condition 28 o C-0‰, and 3.37
at high temperature and salinity (34 o C-9‰)
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ năng lượng (protein/lipid) tối
ưu cho cá lóc (Channa striata) giống khối lượng trung bình 6,5 g được thực hiện trong môi trường nuôi 28 o C-0‰ và môi trường nhiệt độ và độ mặn cao (34 o C-9‰) với 6 nghiệm thức thức ăn gồm ba mức protein (40, 45 và 50%) và hai mức lipid (7 và 10%) tương ứng tỉ lệ năng lượng (protein/lipid) lần lượt là 3,41; 3,36; 3,82; 2,49; 2,71và 3,03 trong thời gian nuôi 60 ngày Kết quả cho thấy cá lóc được nuôi trong môi trường nhiệt độ và độ mặn cao (34 o C-9‰) làm giảm tỉ lệ sống, tăng trưởng, tỉ lệ thức ăn ăn vào, hiệu quả sử dụng thức
ăn, hiệu quả sử dụng protein, lipid và hiệu quả tích lũy protein, lipid; tuy nhiên, không ảnh hưởng lên chỉ số gan tụy (HSI) của cá lóc Tỉ lệ năng lượng (protein:lipid) trong thức ăn có ảnh hưởng lên tăng trưởng, hiệu quả sử dụng
và tích lũy dưỡng chất (protein và lipid) cá lóc thí nghiệm Tỉ lệ năng lượng (protein/lipid) tối ưu trong thức ăn cho cá lóc là 3,5 ở điều kiện nhiệt độ và độ mặn 28 o C-0‰ và 3,37 ở điều kiện nhiệt độ và độ mặn cao (34 o C-9‰)
Trích dẫn: Trần Thị Phương Lan, Trần Thị Thanh Hiền, Lam Mỹ Lan, Trần Lê Cẩm Tú và Trần Minh Phú,
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ
Động vật thủy sản là loài có khả năng sử dụng
năng lượng biến dưỡng từ nguồn protein trong thức
ăn nên nhu cầu protein của chúng có khả năng giảm
khi mức năng lượng trong thức ăn tăng lên (Page
and Andrews, 1973) Vì thế, hàm lượng protein tối
ưu cho một loài thủy sản nào đó sẽ chịu ảnh hưởng
bởi tỉ lệ tối ưu giữa protein và năng lượng (P/E)
trong thức ăn Năng lượng của thức ăn được cung
cấp từ protein, lipid và carbohydrate có trong thức
ăn Đa số các nghiên cứu đều tập trung tỉ lệ protein
và năng lượng từ ba thành phần của thức ăn có sự
thay đổi tùy theo loài, kích cỡ và môi trường sống
như dòng chảy, nhiệt độ, thành phần thức ăn và
thường lớn hơn 20 mg/kJ (Trần Thị Thanh Hiền và
Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Nghiên cứu ở cá rô phi
(Oreochromis niloticus) của Trung et al (2011) cho
biết nhu cầu protein tiêu hóa/năng lượng tiêu hóa
(DP/DE) của cá ở giai đoạn 10 g là 32,7 g/MJ và
giảm còn 26,3 g/MJ ở giai đoạn 100 g và giá trị này
thay đổi ít hơn ở cá 1.000 g (21,4 g/MJ) Theo
Glencross et al (2010), cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) có nhu cầu DP/DE ở giai đoạn 100
g là 23,5 g/MJ và 18,1 g/MJ ở 1.000 g Ở cá chẽm
(Lates calcarifer), nhu cầu DP/DE ở giai đoạn 100 g
và 1.000 g lần lượt là 30,2 g/MJ và 19,9 g/MJ
(Glencross, 2008) Khi nhiệt độ tăng, sự sinh trưởng
của cá cũng tăng lên dẫn đến nhu cầu protein cũng
gia tăng Nghiên cứu trên cá nheo Mỹ (Ictalurus
punctatus) Dupree and Sneed (1966) cho biết ở nhiệt
độ 20,6oC nhu cầu protein là 35% và khi 24,4oC là
40% Nghiên cứu trên cá hồi vân (Oncorhynchus
mykiss) nhu cầu protein tăng từ 40% protein lên
43,5% protein khi độ mặn ở 10 ‰ và 20‰ (Vũ Duy
Giảng, 2006) Cá lóc Channa striata là loài nước
ngọt có giá trị kinh tế, đã được nghiên cứu nhiều
về đặc điểm dinh dưỡng và thức ăn, chẳng hạn,
Aliyu-Paiko et al (2010b) cho biết cá lóc giống tăng
trưởng tốt cần cung cấp 65 g/kg lipid và 450 g/kg
protein Cùng nghiên cứu trên cá lóc giống,
Arockiaraj et al (1999) cho biết cá tăng trưởng tối
ưu với tỉ lệ protein/năng lượng (P/E) là 4,3 kcal/g
Tuy nhiên khi thức ăn có cùng mức năng lượng, hàm
lượng protein và lipid của thức ăn cùng lúc được
thay đổi thì tỉ lệ protein và năng lượng tổng của thức
ăn sẽ không thể hiện hết sự khác nhau về năng lượng
cụ thể được đóng góp từ các thành phần của thức ăn
Đồng thời, tùy theo loài, tùy theo điều kiện môi
trường, mức độ ưu tiên sử dụng năng lượng từ các
thành phần của thức ăn sẽ khác nhau
Nhiệt độ và độ mặn có ảnh hưởng đến sinh trưởng và hoạt tính enzyme tiêu hóa của cá lóc, cá nuôi ở độ mặn 3‰ sẽ cho tăng trưởng cao nhất và
cá nuôi ở độ mặn 12‰ sẽ có FCR cao nhất và đạt tăng trưởng thấp nhất (Nguyễn Trường Tịnh, 2013) Theo Võ Trường Chinh (2014), hoạt tính enzyme pepsine, chymotrypsine và α-amylase tăng dần khi nhiệt độ tăng từ 22 đến 34ºC; tăng trưởng cá đạt cao nhất ở 31ºC và hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất Nuôi cá nước ngọt nói chung và nghề nuôi cá lóc nói riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện đang chịu tác động của biến đổi khí hậu như hạn hán kéo dài
và xâm nhập mặn, nên các nghiên cứu về sự thay đổi nhu cầu dinh dưỡng thích ứng với điều kiện mới (gia tăng biên độ nhiệt, nồng độ muối,…) là cần thiết Vì vậy, nghiên cứu tỉ lệ năng lượng (protein/lipid) tối
ưu cho cá lóc (Channa striata) nuôi trong điều kiện
nhiệt độ và độ mặn cao được thực hiện
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguồn vật liệu thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành tại Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ Cá lóc có kích cỡ 5-6 g/con được mua từ trại giống ở Cần Thơ Cá được chuyển về và được thuần dưỡng trong bể composite
2 m3, được cho ăn bằng thức ăn viên với hàm lượng protein 45% và lipid 7%
Nguồn nước được pha bởi nước ngọt từ nguồn nước máy và nước ót (80‰) được vận chuyển từ Vĩnh Châu, Sóc Trăng Mỗi ngày độ mặn được nâng lên 3‰ (mỗi bốn giờ nâng độ mặn lên 1‰) thông qua việc tính thể tích nước ngọt và nước ót, sau đó cho vào bể để có được độ mặn cần thiết Nhiệt độ trên các nghiệm thức được gia tăng 2°C trên ngày bằng thiết bị nâng nhiệt heater đến khi đạt mức nhiệt theo yêu cầu thí nghiệm Cá được thuần hóa về độ mặn và nhiệt độ một tuần trước khi tiến hành thí nghiệm
2.2 Bố trí thí nghiệm
Cá được bố trí trên hệ thống bể 170 L với số lượng 30 con/bể, hệ thống được đặt trong trại có mái che Khối lượng trung bình cá thí nghiệm là 6,53±0,09 g Bể cá được sục khí liên tục trong suốt
60 ngày thí nghiệm Thí nghiệm gồm hai nhân tố (nhiệt độ - độ mặn, tỉ lệ năng lượng protein và lipid) được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại được Thí nghiệm được chia thành hai lô cùng với sáu nghiệm thức thức ăn ở mỗi lô (Bảng 1)
Trang 3Bảng 1: Nghiệm thức điều kiện môi trường nuôi và nghiệm thức thức ăn thí nghiệm
28 o C-0‰ (đối chứng) Nhiệt độ cao và độ mặn cao: 34 o C-9‰
NT 1
NT 2
NT 3
NT 4
NT 5
NT 6
7% lipid-40% protein 7% lipid-45% protein 7% lipid-50 %protein 10% lipid-40 %protein 10% lipid-45% protein 10% lipid-50% protein
7% lipid-40% protein 7% lipid-45% protein 7% lipid-50 %protein 10% lipid-40 %protein 10% lipid-45% protein 10% lipid-50% protein
Tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn
tương ứng của 6 công thức thức ăn thí nghiệm là
3,41; 3,36; 3,82; 2,49; 2,71; 3,03 (Bảng 2)
Phương pháp phối chế thức ăn
Thức ăn thí nghiệm được phối chế từ các nguyên
liệu bột cá Kiên Giang, bã đậu nành (Mỹ), bột mì
tinh (Việt Nam), dầu nành Simply, dịch đầu tôm,
dầu cá và premix khoáng/vitamin (Công ty
Vimedim), kết dính (CMC- Trung Quốc)
Các bước chuẩn bị thức ăn theo thứ tự như sau: pha trộn nguyên liệu (khô); trộn ướt; ép viên (kích
cỡ viên 1 mm); sấy khô; bảo quản trong tủ đông (–
20oC) Thức ăn sau chế biến ở dạng viên chìm Thành phần nguyên liệu của thức ăn được phân tích các chỉ tiêu hóa học bao gồm ẩm độ, protein, lipid, tro theo phương pháp AOAC (2000) và năng lượng được tính dựa vào hàm lượng protein, lipid, carbohydrate (CHO) và hệ số chuyển đổi năng lượng của từng thành phần
Bảng 2: Thành phần nguyên liệu và thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm
Thành phần nguyên liệu thức ăn (%)
Thành phần hóa học thức ăn (%)
*Premix khoáng vitamin: vitamin A, vitamin D3, vitamin E, vitamin K, vitamin B1, vitamin B2, Vitamin B6, chất mang bột nành nguồn cung cấp acid amine, zinc sulfate, manganese sunlfate, ferous sunlfate, copper sunlfate, potassium iodide, cobalt sunlfate
2.3 Quản lý và chăm sóc
Cá được cho ăn theo nhu cầu vào lúc 8 giờ và 16
giờ Thức ăn thừa được vớt ra khỏi bể, sấy khô và
cân khối lượng để tính lượng thức ăn mà cá đã sử
dụng Nước được thay 3 ngày/lần, mỗi lần thay
30-50% thể tích nước Trong quá trình thí nghiệm, các
yếu tố môi trường pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan
đo bằng máy (SevenGo, SevenGo pro - Mettler Toledo, Mỹ) Độ mặn được đo bằng máy đo độ mặn (Atago, Nhật Bản) TAN được kiểm tra mỗi tuần bằng test kit (Sera, Đức) Kết thúc thí nghiệm, cá được đếm và cân từng cá thể, xác định khối lượng trung bình và tỉ lệ sống trên từng bể, thu nội tạng và xác định khối lượng của 10 cá thể trên mỗi bể để tính chỉ số gan tụy HSI (hepatosomatic index) và
Trang 4độ, protein, lipid, khoáng theo phương pháp AOAC
(2000)
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá
Tăng trưởng của cá được đánh giá qua các chỉ
tiêu
− Tốc độ tăng trưởng theo ngày (daily weight
gain-DWG) (g/ngày) = (Wt – Wo)/t
− Tỉ lệ sống (survival rate – SR%) = (Số cá thể
cuối/số cá thể đầu) x 100
Hiệu quả sử dụng thức ăn được đánh giá qua
các chỉ tiêu
− Hệ số chuyển hóa thức ăn (feed conversion
ratio - FCR):
FCR = Lượng thức ăn sử dụng (g)/ Khối lượng
cá gia tăng (g)
− Hiệu quả sử dụng protein (protein efficiency
ratio - PER):
PER = (Wt – Wo)/ Lượng protein ăn vào
− Lượng thức ăn ăn vào (FI) (%/con/ngày) =
100*[(Lượng thức ăn cá ăn vào (g/con/ngày)/
(Wt*Wo)1/2]
− Hiệu quả sử dụng lipid (lipid efficiency ratio
- LER):
LER = (Wt – Wo)/Lượng lipid ăn vào
− Hiệu suất tích lũy lipid (lipid retention - LR):
LR = (Lipid cá cuối – Lipid cá đầu) / Lượng lipid
ăn vào
− Hiệu suất tích lũy protein (net protein
utilization - NPU)
NPU = (Protein cá cuối - Protein cá đầu) /
Protein ăn vào
− Chỉ số gan tụy HSI:
HSI = khối lượng khối gan tụy/khối lượng cơ
thể
Trong đó, Wo: khối lượng cá ban đầu (g); Wt:
khối lượng cá sau thí nghiệm (g) t: ngày nuôi (ngày)
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
thống kê mô tả và phân tích phương sai ANOVA 2
nhân tố và sử dụng phép thử Duncan để tìm ra sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở mức ý nghĩa (p<0,05) bằng phần mềm SPSS 16.0
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tăng trưởng và tỉ lệ sống và của cá
Sau 60 ngày thí nghiệm, các yếu tố môi trường dao động ở mức 27±1oC; 33±1oC; oxy hòa tan 4,5-5,5 mg/Lvà pH 7-7,5 Hàm lượng TAN trong các nghiệm thức ở môi trường 28oC-0‰ dao động từ 3-4,5 mg/L và 1,5-2,5 mg/L trong các nghiệm thức ở môi trường 34oC-9‰ Tăng trưởng và tỉ lệ sống của
cá (Bảng 3) cho thấy có sự tương tác giữa yếu tố môi trường và tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức
ăn (p<0,05) Tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá đạt cao nhất ở môi trường 28oC-0‰ (đối chứng), tăng trưởng trong các nghiệm thức có tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn cao sẽ cao hơn các nghiệm thức có tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn thấp Nghiệm thức 7% lipid-40% protein cho tăng trưởng cao nhất (0,68±0,02g/ngày) và tương ứng với tỉ lệ EP:L trong thức ăn 3,41, khác biệt không ý nghĩa (p>0,05) so với các nghiệm thức có
tỉ lệ 3,36; 3,82 và 3,03; nhưng khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với các nghiệm thức có tỉ lệ lượng protein/lipid trong thức ăn thấp (2,49; 2,71) Như vậy, tỉ lệ lượng protein/lipid trong thức ăn (tức sự thay đổi hàm lượng protein và lipid trong thức ăn)
có ảnh hưởng lên tăng trưởng của cá Tăng trưởng của cá đạt cao ở các nghiệm thức có hàm lượng protein thấp và lipid thấp hoặc protein cao và lipid cao để đảm bảo duy trì sự cân bằng về tỉ lệ đóng góp về năng lượng giữa protein/lipid Khi tỉ lệ này thấp hoặc cao hơn nhu cầu sẽ làm giảm tăng trưởng
do bởi tiêu tốn năng lượng cho hoạt động trao đổi chất vượt ngưỡng xảy ra
Tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá thấp nhất ở môi trường có nhiệt độ và độ mặn cao (34oC-9‰) và ở nghiệm thức có tỉ lệ năng lượng protein/lipid thấp nhất 2,49 (0,10±0,01g/ngày và 66,7%) tương ứng mức lipid cao và protein thấp Điều này cho thấy với cùng mức nhu cầu protein và lipid, cá sống ở môi trường có nhiệt độ và độ mặn cao tiêu hao năng lượng ứng phó với nhiệt độ và điều hòa áp suất thẩm thấu tăng cao dẫn đến tăng trưởng giảm và tỉ lệ sống cũng bị ảnh hưởng
Trang 5Bảng 3: Tăng trưởng và tỉ lệ sống cá lóc sử dụng các loại thức ăn và môi trường nuôi khác nhau
(g/con)
W t
(g/con)
WG (g/con)
DWG (g/ngày) SR % Lipid (%) Protein (%)
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột theo sau bởi các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
MT: Môi trường; EP:L: tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn; MT*EP:L:tương tác giữa môi trường và tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn
Kết quả nghiên cứu phù hợp với một số nghiên
cứu khác về ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn làm
gia tăng nhu cầu protein của cá Theo Millikin
(1983), nhu cầu protein của cá Morone sacatilis ở
20oC là 47% protein, và 24oC là 55% protein (trích
dẫn bởi Halver and Hardy, 2002) Theo Vũ Duy
Giảng (2006), cá hồi có nhu cầu protein thức ăn 40%
khi nhiệt độ nước là 8oC, nhưng ở nhiệt độ nước
14oC, nhu cầu protein sẽ là 55% (tính trên khẩu phần
khô) và khi độ mặn tăng thì yêu cầu về protein cho
cá cũng gia tăng Nghiên cứu trên cá hồi vân
(Oncorhynchus mykiss), Vũ Duy Giảng (2006) cho
biết nhu cầu protein trong khẩu phần của cá là 40%
và 43,5% khi độ mặn lần lượt là 10‰ và 20‰
Samantaray and Mohanty (1997) nghiên cứu về
tỉ lệ P/E cho thấy ở cá lóc giống (C striata), tăng
trưởng cao nhất và hệ số thức ăn thấp nhất khi cho
ăn thức ăn có chứa 40% protein và tỉ lệ P/E là 21,5
mg/KJ Tuy nhiên, Aliyu-Paiko et al (2010) cho
rằng để thúc đẩy cá lóc giống C striata tăng trưởng
tốt thì khẩu phần ăn cần cung cấp 65 g/kg lipid và
450 g/kg protein với mức năng lượng 18,5 KJ/g
Cùng nghiên cứu trên cá lóc, Ngô Minh Dung
(2018) cho rằng nhu cầu protein tiêu hóa thay đổi
tùy theo mức năng lượng trong thức ăn
So sánh kết quả nghiên cứu trên một số loài cá
khác, nghiên cứu thức ăn tối ưu cho tăng trưởng, tỉ
lệ sống và thành phần hoá học cho cá chẽm (Lates
1995) Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu
của Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2013) trên cá thát lát cườm (Chitala chitala) cho biết nhu cầu protein
tối ưu cho cá thát lát cườm giống (2,42 g/con) là từ 40-45% protein và hàm lượng lipid trong thức ăn là 9-6% tương ứng tỉ lệ P/E là 24,0 và 21,4 g protein/MJ Theo Tuan and Williams (2007), cá mú
(Epinephelus malabaricus) giai đoạn giống tăng
trưởng tối ưu khi sử dụng thức ăn chứa 55% protein, 12% lipid và tỉ lệ P/E là 28 mg prtein/KJ Trần Lê
Cẩm Tú và ctv (2014) xác định nhu cầu protein của
cá kèo giống (3,55g/con) ở hai mức năng lượng 18 KJ/g là 42,8% và 20 KJ/g là 35,4% Ta thấy, khi năng lượng của thức ăn tăng, nhu cầu protein của cá giảm nghĩa là cá giảm nhu cầu năng lượng từ protein của thức ăn Tuy nhiên kết quả của nghiên cứu hiện tại do các nghiệm thức thức ăn có cùng mức năng lượng tổng của thức ăn đồng thời hàm lượng protein
và lipid thay đổi nghĩa là năng lượng đóng góp từ protein và lipid của các nghiệm thức thức ăn thay đổi theo; và khi môi trường sống bất lợi, cơ thể cá
sẽ ưu tiên sử dụng năng lượng từ các thành phần khác nhau của thức ăn, đây là điểm đặc biệt của nghiên cứu
Hình 1 cho thấy cá lóc nuôi ở môi trường 34o C-9‰ có tốc độ tăng trưởng thấp hơn (p<0,05) so với
cá nuôi ở môi trường 28oC-0‰ Tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn tối ưu ở 28oC-0‰ và
Trang 6(28oC-0‰) có nhu cầu năng lượng từ protein cao
hơn so với từ lipid trong thức ăn và năng lượng này
được sử dụng hiệu quả cho tăng trưởng, ngược lại
trong môi trường nuôi nhiệt độ và độ mặn cao
(34oC-9‰) thì cá có xu hướng sử dụng năng lượng
từ lipid nhiều hơn
Hình 1: Ảnh hưởng của tỉ lệ năng lượng
(protein/lipid) lên tăng trưởng của cá lóc thí
nghiệm trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn khác
nhau (28 o C-0‰ và 34 o C-9‰)
Như vậy, khi cá lóc nuôi trong điều kiện môi
trường nhiệt độ và độ mặn cao (34oC-9‰), tỉ lệ sống
và tăng trưởng giảm
3.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá
Bảng 4 trình bày về lượng thức ăn ăn vào (FI
%/cá/ngày) và hệ số thức ăn (FCR) của cá chỉ chịu
ảnh hưởng (p<0,05) bởi nhiệt độ và độ mặn của môi
trường nuôi Ở môi trường 28oC-0‰, FI đạt giá trị
từ 2,79 – 3,34 %/cá/ngày luôn cao hơn (p<0,05) so
với các nghiệm thức ở môi trường nhiệt độ và độ
mặn cao (34oC-9‰) Giữa các nghiệm thức trong
cả hai môi trường, lượng thức ăn ăn vào (FI) không
khác biệt nhau (p>0,05)
Tương tự FI, hệ số thức ăn (FCR) chỉ chịu ảnh
hưởng (p<0,05) bởi môi trường nuôi Ở môi trường
28oC-0‰, FCR giữa các nghiệm thức dao động từ
(0,77-0,92) thấp hơn (p<0,05) so với các nghiệm
thức ở 34oC-9‰ Như vậy, ở 28oC-0‰ cá ăn nhiều
(FI cao) và lớn nhanh nên FCR thấp hơn so với cá
được nuôi ở 34oC-9‰ Mặc dù vậy, trên cả hai môi
trường, giá trị FCR thấp nhất ở nghiệm thức 10%
lipid-50% protein (tương ứng với tỉ lệ năng lượng
protein/lipid trong thức ăn 3,03)
So sánh kết quả FCR của thức ăn trên một số
loài cá khác như nghiên cứu Lê Hồng Thắm và ctv
(2013) nhu cầu protein trong thức ăn cá lăng nha
(Mystus wyckioides) FCR giảm khi mức protein của
thức ăn tăng, cụ thể FCR từ 1,57 ở 25% protein giảm còn 1,08 ở nghiệm thức 55% protein Theo Trần
Quốc Bình và ctv (2012), tỉ lệ tối ưu protein và năng lượng trong thức ăn cho cá chẽm (Lates calcarifer)
giống 5,77 g có FCR thấp nhất là 1,1 ở các công thức chứa 18 MJ/kg-59% protein và thức ăn chứa năng lượng 22 MJ/kg - 59% protein Nghĩa là khi thức ăn chứa hàm lượng protein cao và mức năng lượng phù hợp thì hệ số thức ăn sẽ giảm Ở nghiên cứu hiện tại, hàm lượng protein thức ăn 40, 45, 50% với cùng mức năng lượng thì chưa đủ ảnh hưởng FCR của cá (về thống kê)
Hiệu quả sử dụng protein (PER) chịu ảnh hưởng tương tác của môi trường và tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn (p<0,05) Trong khi hiệu suất tích lũy protein (NPU) của cá chịu ảnh hưởng (p<0,05) riêng biệt bởi nhiệt độ và độ mặn của môi trường và bởi tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn, không tìm thấy sự tương tác (p>0,05) giữa hai yếu tố trong chỉ tiêu này
Bảng 4 cho thấy PER có giá trị cao nhất ở nghiệm thức tỉ lệ tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn 3,41 tương ứng với 7% lipid-40% protein ở môi trường 28oC-0‰ và thấp nhất ở tỉ lệ tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn 2,49 tương ứng với 7% lipid-50% protein môi trường 34oC-9‰ Các nghiệm thức cá nuôi ở môi trường 34oC-9‰ có PER thấp hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với các nghiệm thức được nuôi ở môi trường 28oC-0‰ Kết quả nghiên cứu cho thấy cá lóc có nhu cầu năng lượng cao từ cả protein và lipid trong thức ăn Cá lóc sống trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn cao một phần protein đã chuyển hóa thành năng lượng tiêu hao ứng phó với môi trường bất lợi đã làm cho hiệu quả chuyển hóa protein của cá giảm
Chỉ số tích lũy protein (NPU) ở 28oC-0‰ có giá trị từ (0,36 – 0,43), cao hơn so với môi trường nhiệt
độ và độ mặn cao (34oC-9‰) (NPU = 0,16 – 0,22) Tuy nhiên trên cả hai môi trường đều đạt giá trị cao nhất ở nghiệm thức 7% lipid-40% protein (tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn 3,41) và 10% lipid-50% protein (tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn 3,03) khác biệt có ý nghĩa so với đa số các nghiệm thức còn lại (p<0,05)
Trang 7Bảng 4: Hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả sử dụng protein của cá thí nghiệm
Môi
trường
Nghiệm thức FI (%/cá/ngày)
Lipid (%) Protein (%)
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột theo sau bởi các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
MT: Môi trường; EP:L: tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn; MT*EP:L:tương tác giữa môi trường và tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn; nếu MT*EP:L>0,05, so sánh thống kê theo từng nhân tố: MT ( A,B ), EP:L ( a,b )
Kết quả này cũng tương tự nghiên cứu của
Nguyễn Trường Tịnh (2013), cá lóc nuôi ở độ mặn
3‰ sẽ cho tăng trưởng cao nhất và cá nuôi ở độ mặn
12‰ sẽ có FCR cao nhất và đạt tăng trưởng thấp
nhất Cùng nghiên cứu trên cá lóc về ảnh hưởng của
nhiệt độ lên sinh trưởng và hoạt tính enzyme tiêu
hóa của cá lóc, Võ Trường Chinh (2014) cho biết
hoạt tính enzyme pepsine, chymotrypsine và
α-amylase tăng dần theo nhiệt độ từ 22 đến 34ºC, tăng
trưởng cá đạt cao nhất ở 31ºC và hệ số chuyển hóa
thức ăn thấp nhất
Như vậy, trong điều kiện môi trường nhiệt độ và
độ mặn tăng cao (34oC-9‰), lượng thức ăn ăn vào
của cá lóc giảm, FCR tăng, hiệu quả sử dụng protein
(PER) và hiệu suất tích lũy Protein (NPU) của cá
giảm
3.3 Hiệu quả sử dụng lipid và chỉ số
hepatosomatic index (HSI)
Bảng 5 trình bày kết quả về hệ số chuyển hóa
lipid (LER), hiệu suất tích lũy lipid (LR) của cá chịu
ảnh hưởng riêng biệt bởi môi trường và bởi tỉ lệ năng
lượng protein/lipid trong thức ăn Riêng chỉ số
HSI% chỉ chịu tác động (p<0,05) bởi tỉ lệ năng
lượng protein/lipid trong thức ăn
Ở cả hai môi trường, giá trị hệ số chuyển hóa
lipid (LER) cao nhất ở nghiệm thức 7% lipid-40%
protein (tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn
3,41) và thấp nhất ở 10% lipid-40% protein (tỉ lệ
động từ 9,4-15,0 cao hơn (p<0,05) so với cá nuôi ở môi trường 34oC-9‰ (3,81-7,77)
Chỉ số gan tụy HSI% chỉ chịu ảnh hưởng (p<0,05) bởi tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức
ăn, chỉ số gan tụy HSI thấp nhất ở nghiệm thức lipid cao và protein cao (50%protein-10% lipid với tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn 3,03) và cao nhất ở nghiệm thức lipid thấp và protein thấp (40%protein-7% lipid với tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn 3,41) Bảng 5 cho thấy tỉ
lệ khối lượng gan so với tổng khối lượng cá giảm dần khi hàm lượng lipid và protein trong thức ăn tăng
Kết quả nghiên cứu cũng tương tự như Sagada et
al (2017) trên cá Channa agrus, thức ăn gia tăng từ
45-51% protein thì chỉ số HSI có 2,8% còn 2,6% và
ở mức lipid 9-12% trong thức ăn thì HSI% gia tăng sau đó lại có xu hướng giảm ở nghiệm thức 15%
lipid Theo Nguyễn Hoàng Đức Trung (2011), thí
nghiệm trên cá tra (11,7 g/con) kết quả về hiệu quả
sử dụng lipid (LER) và hiệu suất tích lũy lipid (LR%) giảm dần (30,0-7,43 và 35,9-11,5) khi hàm lượng chất béo trong thức ăn tăng từ 2-12% Vậy, hiệu quả sử dụng lipid (LER) và hiệu suất tích lũy lipid (LR) của cá lóc chịu ảnh hưởng riêng biệt bởi nhiệt độ và độ mặn của môi trường và tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn, tuy nhiên chỉ
số gan tụy (HSI) của cá thí nghiệm chỉ chịu ảnh
Trang 8Bảng 5: Hệ số tích lũy lipid và Chỉ số hepatosomatic Index (HSI) của cá ở các loại thức ăn và môi trường
sống khác nhau
Môi
trường
Nghiệm thức
Lipid (%) Protein (%)
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột theo sau bởi các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
MT: Môi trường; EP:L: tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn; MT*EP:L:tương tác giữa môi trường và tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn; nếu p MT*EP:L>0,05, so sánh thống kê theo từng nhân tố: MT ( A,B ), EP:L ( a,b )
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Mội trường có nhiệt độ và độ mặn cao (34o
C-9‰) làm giảm tỉ lệ sống; tăng trưởng; tỉ lệ thức ăn
ăn vào; hiệu quả sử dụng thức ăn; hiệu quả sử dụng
protein, lipid và hiệu quả tích lũy protein, lipid tuy
nhiên không ảnh hưởng lên chỉ số gan tụy (HIS) của
cá lóc
Tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn ảnh
hưởng lên tăng trưởng; hiệu quả sử dụng và tích lũy
dưỡng chất (protein, lipid) của cá lóc
Tỉ lệ năng lượng protein/lipid trong thức ăn tối
ưu trong thức ăn cho cá lóc là 3,5 tương ứng mức
protein, lipid trong thức ăn là 7% lipid-40% protein
ở điều kiện nhiệt độ và độ mặn 28oC-0‰; và 3,37
tương ứng mức protein, lipid trong thức ăn là 7%
lipid-45% protein ở điều kiện nhiệt độ và độ mặn
cao (34oC-9‰)
Cần nghiên cứu thêm một số dưỡng chất bổ sung
giúp cải thiện tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức
của cá lóc trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn cao
LỜI CẢM TẠ
Đề tài này được tài trợ bởi Dự án Nâng cấp
Trường Đại học Cần Thơ VN14-P6 bằng nguồn vốn
vay ODA từ Chính phủ Nhật Bản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Aliyu-Paiko, M., Hashim, R and Shu-Chien, A C.,
2010 Influence of dietary lipid/protein ratio on survival, growth, body indices and digestive
lipase activity in Snakehead (Channa striatus,
Bloch 1793) fry reared in recirculating water system Aquac Nutr., 16(1): 466-474
AOAC (Association of Official Agricultural Chemists),
2000 Official Methods of Analysis, Association of Official Agricultural Chemists Arlington
Arockiaraj, A J., Muruganandam, M., Marimuthu, K and Haniffa, M A., 1999 Utilization of
carbohydrate as a dietary energy source by the
striped murrel Channa striatus (Bloch) fingerlings
Acta Zoologica Taiwanica, 10(2): 103-111 Catacutan, M R., and Coloso, R M., 1995 Effect of dietary protein to energy ratios on growth, survival, and body composition of juvenile Asian seabass,
Lates calcarifer Aquaculture, 131(1-2): 125-133
Dupree, H K and Sneed, K E., 1966 Response of
diannel catfish fingerlings to different levels of
major nutrients in purified diets Tedi Paper 9 of
the Bureau of Sport Fisheries and Wildlife, U S
Gov.Printing Office (Washington, D C.): 1-21
Glencross, B D., 2008 A factorial growth and feed utilisation model for barramundi, Lates calcariferbased on Australian production conditions Aquacult Nutr., 14: 360–373 Glencross, B D., Phuong, N.T., Hien, T.T.T., Tu, T.L.C, 2010 A factorial approach to defining the energy and protein requirements of Tra Catfish,
Trang 9Pangasianodon hypothalamus Aquaculture
Nutrition 17(2): 396–405
Halver, J E and Hardy, R W., 2002 Fish nutrition
International standard book, 824 pages
Lê Hồng Thắm, Võ Thị Thanh Bình và Lê Thanh
Hùng, 2013 Xác định nhu cầu protein trong thức
ăn cá lăng nha (Mystus wyckioides, Chaux & Fang
1949) giai đoạn cá giống Hội nghị Khoa học trẻ
ngành Thủy sản toàn quốc lần thứ IV Trường Đại
Học Nông Lâm, TP Hồ Chí Minh, 80-86
Ngô Minh Dung, 2018 Ứng dụng mô hình sinh hóa
xác định nhu cầu năng lượng và protein để phát
triển thức ăn cho cá lóc (Channa striata) Luận
án Tiến sĩ ngành Nuôi trồng thủy sản Trường
Đại học Cần Thơ
Nguyễn Hoàng Đức Trung, 2011 Ảnh hưởng của
chất béo trong thức ăn lên sinh trưởng và thành
phần hóa học của cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) Luận văn Thạc sĩ ngành Nuôi
trồng thủy sản Trường Đại học Cần Thơ
Nguyễn Trường Tịnh, 2013 Ảnh hưởng của độ mặn
đến hoạt tính men tiêu hóa và tốc độ tăng trưởng
của cá lóc (Channa striata Block, 1793) Luận
văn Thạc sĩ ngành Nuôi trồng thủy sản Trường
Đại học Cần Thơ
Page, L.W and Andrews, J W., 1973 Interactions
ofdietary levels of protein and energy on channel
catfish (Ictalurus punctatus) Journal of Nutrition
103(4): 1339- 1346
Sagada, G., Chen, J B., Shen, A., Huang, L., Sun, J.,
Jiang and Jin, C., 2017 Optimizing protein and
lipid level in practical diet for juvenile northern
Snakehead fish (Channa striata) Animal
Nutrition 3(3): 156-163
Samantaray, K and Mohanty, S S., 1997
Interactions of dietary levels of protein and
energy on fingerling snackehead Channa striata
Aquaculture 156(1): 241-249
Trần Lê Cẩm Tú, Dương Kim Loan, Trang Tuấn Nhi
và Trần Thị Thanh Hiền, 2014 Xác định nhu cầu
protein của cá kèo giống (Pseudapocryptes
elongatus, Cuvier 1816) ở hai mức năng lượng
Tạp chí Trường Đại học Cần Thơ Số chuyên đề Thuỷ sản (1): 302 – 309
Trần Quốc Bình, Vũ Anh Tuấn, Lê Hữu Hiệp và Nguyễn Thúy An, 2012 Nghiên cứu tỉ lệ tối ưu
về protein và năng lượng trong thức ăn cho cá
Chẽm (Lates calcarifer, Bloch 1970) giống Viện
Nghiên Cứu NTTS II
Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009 Dinh dưỡng và thức ăn thủy sản Nhà xuất bản Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh 191 trang Trần Thị Thanh Hiền, Nguyễn Hữu Bon, Lam Mỹ Lan
và Trần Lê Cẩm Tú, 2013 Nghiên cứu xác định
nhu cầu protein và lipid của cá thát lát còm (Chitala
chitala) giai đoạn giống Tạp chí Nghiên cứu Khoa
học Trường Đại học Cần Thơ: 196- 204
Trung, D V., Diu, N T., Hao, N T., and Glencross,
B D., 2011 Development of a nutritional model
to define the energy and protein requirements of
tilapia (Oreochromis niloticus) Aquaculture,
320(1): 69-75
Tuan, L A., and William, K C., 2007 Optimum dietary protein and lipid specifications for
juvenile malabar grouper (Epinephelus
malabaricus) Aquaculture 267(1-4): 129– 138
Võ Trường Chinh, 2014 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên hoạt tính enzyme tiêu hóa, độ tiêu hóa thức ăn
tăng trưởng của cá lóc đen (Channa striata)
Luận văn Thạc sĩ ngành Nuôi trồng thủy sản Trường Đại học Cần Thơ
Vũ Duy Giảng, 2006 Giáo trình Dinh dưỡng và thức
ăn thủy sản Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 142 trang