1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công

110 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 850,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Ngân hàng Vietcombank Thành Công – là một trong các Chi nhánh cấp 1 của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang quản lý một khối lượng lớn vốn và tài sản của ngân hàng và khách hà[r]

Trang 1

Hoạt động ngân hàng gắn liền với rất nhiều rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, …Trong các loại rủi ro của ngân hàng thường gặp thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro thường xuyên nhất và gây tổn thất nặng nề nhất cho kinh doanh ngân hàng Hoạt động tín dụng đã và đang là nguồn thu chủ yếu nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Thực tế đã chỉ ra rằng các ngân hàng có thể tránh được thiệt hại nếu duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả thực hiện kiểm soát trên tất cả các mặt hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng Chính vì vậy, việc tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng hiện nay đang là vấn đề bất cứ ngân hàng nào cũng phải quan tâm đặc biệt Để làm được điều này, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại hiện nay góp phần không nhỏ

Đối với Ngân hàng Vietcombank Thành Công – là một trong các Chi nhánh cấp 1 của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang quản lý một khối lượng lớn vốn và tài sản của ngân hàng và khách hàng thì hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ được Ban lãnh đạo Vietcombank Thành Công hết sức chú trọng để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh nói chung và đối với hoạt động tín dụng nói riêng Nhận thức được

vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với

tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công” làm đề

tài luận văn của mình

Trang 2

Mục đích nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn

hệ thống kiểm soát nội bộ trong mối quan hệ với kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành công từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động của hệ thống này với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Chi nhánh

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietCombank Thành Công trong mối quan hệ chung với hệ thống kiểm soát nội bộ của VietCombank Phạm vi nghiên cứu là tập trung vào hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Công

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietcomBank Thành Công

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietcomBank Thành Công

Trong chương 1, Luận văn trình bày cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong

các NHTM bao gồm khái niệm, các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Trước hết Luận văn nêu các vấn đề cơ bản về NHTM như khái niệm, các hoạt động cơ bản của NHTM trong đó tác giả tập trung phân tích hoạt động tín dụng từ khái niệm tín dụng NHTM, hiệu quả của hoạt động tín dụng

và các rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động tín dụng Mặt khác Luận văn trình bày quy trình tín dụng trong NHTM gồm các giai đoạn: lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát khoản vay Từ đó luận văn đi sâu vào phân tích đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với kiểm soát hoạt động tín dụng ở các NHTM thông qua bốn yếu tố cấu thành nên hệ thống bao gồm: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ

Trang 3

Thứ nhất là môi trường kiểm soát: Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố

bên trong và bên ngoài ngân hàng có tính chất môi trường tác động đến việc thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ như đặc thù quản lý, cơ cấu tổ

chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát Thứ hai là hệ thống kế

toán: Hệ thống kế toán của ngân hàng thương mại là một bộ phận không thể thiếu trong

hệ thống kiểm soát nội bộ Sự kiểm soát chỉ có thể thực hiện nếu các thông tin trung thực đáng tin cậy, chính xác và kịp thời Thông qua việc quan sát, đối chiếu, tính toán

và ghi chép các giao dịch phát sinh, hệ thống kế toán không những cung cấp thông tin cho các cấp quản lý ra quyết định mà còn có tác dụng kiểm soát nhiều mặt hoạt động

của ngân hàng Thứ ba là các thủ tục kiểm soát: Các thủ tục kiểm soát do ban lãnh đạo

ngân hàng thiết lập và thực hiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể trong từng hoạt động kinh doanh của mình Các thủ tục kiểm soát này được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc: nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng, nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc

ủy quyền và phê chuẩn Kiểm soát nội bộ thực hiện được là nhờ hai yếu tố Một là có các thủ tục ấn định trong các quyển cẩm nang và các nhân viên phải làm theo Hai là khi ấn định các thủ tục ấy, người ta đã đưa vào đó những sự kiểm soát lẫn nhau và

chúng trở thành nguyên tắc Thứ tƣ là kiểm toán nội bộ: Kiểm toán nội bộ được hiểu là

một bộ phận trong hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn vị có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật và các quy định của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó Theo Liên Đoàn Kế toán Quốc tế kiểm toán nội bộ là một hoạt động đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra đánh giá và giám sát thích hợp

và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh

và bổ sung các qui chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả Kiểm toán nội bộ cũng xem xét việc tuân thủ luật pháp, các quy định chính sách quản lý của đơn vị, đánh giá tính hiệu quả các hoạt động qua đó phát hiện những sơ hở yếu kém trong hoạt động và đưa

ra các đề xuất, tư vấn giải pháp cho lãnh đạo đơn vị

Trang 4

Trong chương 2: Trước hết Luận văn khái quát quá trình hình thành và phát

triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói chung và sự ra đời của Vietcombank Thành Công nói riêng NHNT được chính thức thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1963, Trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, tính đến thời điểm cuối năm 2009, NHNT đã phát triển lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với 4 Công ty con trực thuộc trên toàn quốc; 2 Văn phòng đại diện và 1 Công ty con tại nước ngoài Ngoài ra, NHNT còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư Tổng tài sản của NHNT tại thời điểm cuối năm 2009 lên hơn 255 nghìn tỷ VND, tổng dư nợ đạt gần 137 nghìn tỷ VND Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Thành Công (VietComBank Thành Công) được thành lập ngày 21/12/2001 trên cơ sở Chi nhánh cấp hai trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội Tính đến nay VietCombank Thành Công đã chính thức đưa vào hoạt động 7 phòng giao dịch là phòng giao dịch với tổng huy động vốn của cả Chi nhánh đạt 4,574 tỷ đồng, tăng 26,46% (tương đương 957 tỷ đồng) so với năm 2008, vượt 6.46% so với kế hoạch được giao và đạt 95,07% kế hoạch mục tiêu, tổng dư nợ tín dụng đến 31/12/2009 đạt 1,604 tỷ quy đồng, tăng 51% so với năm 2008 Tác giả tập trung vào việc phân tích thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong mối quan hệ với việc tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng của VietCombank Thành Công bao gồm việc phân tích môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và thông tin kinh tế, các thủ tục kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay và công tác kiểm toán nội bộ Từ thực trạng đó Tác giả đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó của hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietCombank Thành Công

Những kết quả đạt được: Ban lãnh đạo Chi nhánh đã xây dựng được bộ máy

kiểm soát hoạt động tín dụng khá phù hợp với 3 bộ phận: Quan hệ khách hàng, Quản lý rủi ro và Quản lý nợ Việc phân chia như vậy sẽ giúp phân tách rõ chức năng, nhiệm vụ giữa công tác marketing khách hàng và Quản lý rủi ro, từ đó giúp nâng cao chất lượng tín dụng của VietCombank Thành Công, kiểm soát tốt hơn rủi ro cho Ngân hàng và

Trang 5

tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế Các thủ tục kiểm soát gắn liền trong quy trình tín dụng được thiết kế vừa ngăn ngừa gian lận thông qua việc kiểm duyệt của các tầng kiểm soát đảm bảo sự giám sát lẫn Công tác kiểm tra sau sau của Tổ kiểm tra giám sát tuân thủ đối với hoạt động tín dụng ngày một quan tâm, cơ cấu tín dụng tại Chi nhánh có sự chuyển biến tích cực bằng cách giảm dần tỷ lệ cho vay các doanh nghiệp nhà nước mà hoạt động còn kém hiệu quả, ngày một đầu tư nhiều hơn cho các doanh nghiệp Cổ Phần, công ty TNHH, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt các dự án đầu tư hợp vốn đã được ngân hàng nhắm tới, hướng tới mục tiêu đa dạng hóa các thành phần kinh tế, ưu tiên các loại hình phục vụ cho sự phát triển cho đất nước Đồng thời Chi nhánh thực hiện nghiêm quy trình cho vay theo quy định của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và đạt nhiều kết quả khả quan trong việc xử lý nợ tồn

đọng

Những hạn chế còn tồn tại: Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của hệ thống kiểm soát nội

bộ đối với hoạt động tín dụng còn yếu kém trong việc phát hiện gian lận và sai sót trong

hoạt động tín dụng của ngân hàng Thứ hai, nguồn nhân lực của hệ thống kiểm soát nôi

bộ và hoạt động tín dụng được bố trí không hợp lý chưa thực hiện được chức năng của mình trong việc kiểm soát hoạt động tín dụng Cán bộ kiểm tra, giám sát tín dụng còn kiêm nhiệm nhiều công việc, trình độ chuyên môn chưa cao nên chất lượng kiểm tra còn kém Thứ ba, hoạt động của Tổ kiểm tra giám sát tuân thủ của VietComBank

Thành Công chỉ có tác dụng hoàn thiện chưa có vai trò cảnh báo rủi ro: Tổ kiểm tra

giám sát tuân thủ của VietComBank Thành Công chỉ tiến hành kiểm tra sau việc tuân thủ nghiệp vụ của các phòng ban Đối với hoạt động tín dụng thì các kiểm tra viên chưa thể hiện chức năng quan trọng của mình là phát hiện ra các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro để từ

đó đề ra các biện pháp phòng ngừa Thứ tư, thủ tục kiểm soát không chặt chẽ, chưa phát huy được tác dụng: việc áp dụng các thủ tục kiểm soát tại VietComBank Thành Công

thiếu đồng bộ, lỏng lẻo Thứ năm, chính sách tín dụng áp dụng tại VietComBank Thành

Công dựa vào việc chấm điểm phân loại khách hàng và xác định hạn mức tín dụng cho từng khách hàng mang tính cứng nhắc, chưa thực sự linh hoạt Thứ sáu, chưa xây dựng

Trang 6

được hệ thống cung cấp thông tin trong hoạt động tín dụng: VietComBank Thành Công chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thống nhất ngay trong nội tại chi nhánh, tình trạng từng cán bộ tín dụng cho vay và quản lý khoản vay, tình hình trả nợ của khách hàng và

không lưu lại những thông tin về khách hàng đó là khá phổ biến

Nguyên nhân của những hạn chế đó là Thứ nhất, hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng chưa phân định được rõ chức năng quản lý rủi ro và quản trị tín dụng Thứ hai, nhân sự kiểm soát quá ít, trình độ và ý thức của cán bộ tín dụng, cán bộ quản lý tín dụng, kiểm soát viên tín dụngchưa cao Hầu hết các cán bộ còn rất trẻ, họ

có chuyên môn nhưng lại thiếu trải nghiệm thực tiễn, thiếu đào tạo một cách bài bản chuyên sâu Thứ ba, hoạt động kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng không tập

trung, thẩm quyền phê duyệt tín dụng tập trung lớn trong tay giám đốc Chi nhánh Thứ

tư, hoạt động tín dụng chưa tuân thủ đúng quy trình: với quy trình được nêu ở trên, có thể thấy là quy trình được áp dụng đầy đủ khi đối tượng vay là doanh nghiệp lớn, hay một món vay lớn Đối với quy trình tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng

cá nhân của ngân hàng khá đơn giản, dẫn tới việc khi cho vay các nhóm khách hàng chỉ xét mục đích vay đơn thuần, các phương án hoàn trả nợ, năng lực hoạt động của khách hàng không được chú trọng thay vào đó là yếu tố tài sản đảm bảo, tuy nhiên lại chưa quan tâm đúng mức công tác thẩm định tài sản thế chấp

Trong chương 3: Sau khi trình bày phương hướng phát triển tín dụng và phương

hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng, Tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ để tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Công

Nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát: Môi trường kiểm soát có tác

động trực tiếp đến việc thực hiện và kết quả của các thủ tục kiểm soát được áp dụng Một môi trường kiểm soát tốt có thể hạn chế được phần nào sự thiếu hụt của một số các thủ tục kiểm soát Thứ nhất, hoàn thiện cơ cấu tổ chức để phân định rõ chức năng nhiệm vụ của các bộ phận tham gia quy trình tín dụng Mô hình tổ chức hoạt động tín

Trang 7

dụng của Chi nhánh cần tách bạch, phân định rõ chức năng khởi tạo tín dụng, chức năng quản lý rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng

Thứ hai, sắp xếp và tăng cường chính sách đào tạo đối với cán bộ tín dụng, cán bộ quản lý tín dụng, cán bộ kiểm soát và thiết lập chế tài thưởng phạt Một là, nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành Hai là, nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng và kiểm soát viên tín dụng trong quá trình tuyển dụng và đào tạo Ba là, thiết lập chế tài thưởng phạt để tạo chính sách động lực đối với người lao động

Thứ ba, xây dựng lại mô hình tính điểm trong phân tích tín dụng và xác định giới

hạn tín dụng: khi Chi nhánh áp dụng mô hình tính điểm trong phân tích đánh giá tín dụng để xác định hạng của doanh nghiệp thì cần nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế cũng như đưa ra quan điểm đánh giá khác nhau đối với từng hạng doanh nghiệp cụ thể Sử dụng Giới hạn tín dụng trong cấp tín dụng cụ thể cho khách hàng: khi đã có GHTD, các bộ phận thực hiện như tín dụng, bảo lãnh và đặc biệt là bộ phận khách hàng sẽ nắm được quan điểm đánh giá của ngân hàng đối với khách hàng Quan điểm này được lượng hoá cụ thể bằng một mức giá trị cụ thể, đó là GHTD Từ

đó, các bộ phận sẽ tiến hành đối chiếu GHTD với mức dư nợ thực tế của khách hàng Nếu GHTD lớn hơn mức giao dịch hiện tại của khách hàng thì phải tăng dư nợ và chi nhánh sẽ tập trung các biện pháp cần thiết để thực hiện mục tiêu này Nếu GHTD bằng mức giao dịch hiện tại thì chỉ cho vay mới khi đã trả nợ cũ và dừng tham gia vào các phương án ít hiệu quả và chuyển sang tập trung các phương án có hiệu quả hơn Nếu GHTD nhỏ hơn mức giao dịch hiện tại thì chi nhánh tuyệt đối không cho vay mới mà tập trung các biện pháp giảm dư nợ xuống mức GHTD Chi nhánh phải chuẩn bị phương án từ chối khách hàng trong giai đoạn này, sao cho vừa bảo đảm mục tiêu giảm dư nợ, nhưng không gây ấn tượng xấu cho khách hàng Đối với các khách hàng

có GHTD nhỏ hơn nhiều so với mức giao dịch hiện tại (do phải điều chỉnh giảm GHTD so với kỳ trước) thì Chi nhánh phải có biện pháp theo dõi thường xuyên các khách hàng loại này, bảo đảm thu hồi vốn nhanh, tránh thất thoát

Trang 8

Nhóm giải pháp hoàn thiện thủ tục kiểm soát: Thứ nhất, xây dựng kế hoạch

kiểm tra, kiểm soát hoạt động tín dụng: việc kiểm tra kiểm soát thường xuyên sẽ góp phần giúp cho hoạt động tín dụng thêm lành mạnh, chấn chỉnh ngay những vấn đề xảy

ra gây nguy cơ rủi ro cho hoạt động tín dụng Tăng cường bổ xung thêm các thủ tục kiểm soát để ngăn ngừa gian lận và phát hiện sai sót như: giữa các cán bộ tín dụng nên

có sự kiểm tra chéo định kỳ và thực hiện luân chuyển cán bộ tín dụng trong việc quản

lý khách hàng vay trong Chi nhánh Thứ hai, hoàn thiện công tác phân công phân nhiệm để phân chia trách nhiệm trong phân cấp quyền phán quyết tín dụng: những dự

án lớn vượt quyền phán quyết tín dụng của Giám đốc Chi nhánh và Hội đồng tín dụng

cơ sở thì thường được chuyển về Hội sở chính để thẩm định Nhưng việc giải ngân, cho vay thì lại do ngân hàng cấp dưới nên bộ phận kiểm soát dưới cơ sở thường chủ quan không thấy được trách nhiệm của mình Do đó trách nhiệm của bộ phận thẩm định, bộ phận quản trị tại chi nhánh và tại Hội sở chính phải được thể hiện rõ trong báo cáo thẩm định với từng chỉ tiêu, và ghi rõ nguồn số liệu được cung cấp và các kết luận Thứ ba,

nâng cao khả năng xác định nguy cơ rủi ro của khách hàng trong việc cấp tín dụng: có

rất nhiều yếu tố có thể gây ra rủi ro đối với một doanh nghiệp Tuy nhiên, một doanh nghiệp thường không gặp phải tất cả các nguy cơ rủi ro mà chỉ có một số nguy cơ rủi ro chính Vấn đề quan trọng là phải xác định được các nguy cơ rủi ro chính đó là gì Để xác định các nguy cơ rủi ro, cán bộ tín dụng phải áp dụng kỹ thuật phân tích tổng hợp tình hình doanh nghiệp: phân tích định tính, phân tích chỉ số tài chính,phân tích dòng tiền Thứ tư, tăng cường quản lý giám sát vốn vay để ngăn ngừa việc sử dụng vốn vay sai mục đích: Chi nhánh cần phải tổ chức theo dõi chặt chẽ tiến độ hoàn thành từng hạng mục dự án đầu tư, tiến độ thi công đối chiếu với hoạt động thanh quyết toán cho từng công trình, cập nhật hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, theo dõi chặt chẽ dòng tiền thanh toán, kiểm tra sử dụng vốn đúng quy định Theo dõi tình hình trả nợ của đơn vị, đảm bảo tiến độ trả nợ đúng cam kết Đối với tài sản đảm bảo yêu cầu đơn

vị hoàn thiện thủ tục pháp lý theo đúng quy định hiện hành khi tài sản đảm bảo đáp ứng

đủ điều kiện cầm cố, thế chấp, và đăng ký giao dịch đảm bảo, khuyến nghị mua bảo hiểm cho các cơ sở kinh doanh của đơn vị và ngân hàng là người thụ hưởng đầu tiên

Trang 9

trong các hợp đồng bảo hiểm Nếu phát hiện những vi phạm trong quá trình sử dụng vốn vay sai mục đích, cán bộ giám sát có thể kiến nghị thu hồi nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn Ngoài ra, việc nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo cũng là một công việc quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh,

nó đòi hỏi cán bộ tín dụng phải luôn theo dõi, giám sát khoản vay để phát hiện kịp thời những dấu hiệu phát sinh rủi ro

Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ: hoạt động của kiểm toán

nội bộ đối với hoạt động tín dụng là một công cụ hữu hiệu để phát hiện ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai phạm trong quá trình cho vay Hiện nay bộ phận kiểm toán nội bộ thuộc sự điều hành của ban kiểm soát thuộc hội đồng quản trị của ngân hàng ngoại thương, còn bộ phận kiểm tra giám sát tuân thủ vẫn theo mô hình chịu sự điều hành của Tổng giám đốc (Giám đốc chi nhánh) do đó tính độc lập chưa cao nên hiệu quả của hệ thống không đạt được như mong muốn Do đó để tăng cường vai trò của hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ thì Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cần cơ cấu lại hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ trực thuộc Ban kiểm soát Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị quyết định bổ nhiệm miễn nhiệm và đánh giá hiệu quả công việc Đồng thời quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ kiểm tra nội bộ phải được quy định rõ ràng để

từ đó quy định trách nhiệm của cán bộ thực hiện công việc kiểm soát hoạt động tín dụng Ngân hàng Ngoại thương cần xây dựng các chương trình kiểm tra để giám sát phòng ngừa các gian lận và sai sót đồng thời kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm

và hoàn chỉnh ban hành quy chế, quy trình về kiểm tra kiểm toán nội bộ

Nhóm giải pháp hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm soát tín dụng: các loại báo cáo phục vụ cho công tác quản lý của ban giám đốc, báo

cáo phục vụ yêu cầu của Ngân hàng nhà nước yêu cầu của khách hàng, báo cáo phục vụ tác nghiệp của cán bộ tín dụng trong việc phân tích quản trị tín dụng đều phải lấy từ phần mềm kế toán Do đó việc xây dựng hệ thống báo cáo hợp lý sẽ giúp cán bộ tín dụng có nhiều thời gian và nguồn lực tập trung cho việc kiểm soát hoạt động tín dụng Trong công tác tín dụng, thông tin là yếu tố đóng vai trò quyết định giúp cho Ngân hàng

Trang 10

ra quyết định có đầu tư hay không Các thông tin từ phía khách hàng cung cấp nhiều khi lại thiếu đầy đủ, chính xác, do vậy cán bộ tín dụng không thể chỉ dựa vào các luồng thông tin do khách hàng cung cấp trong dự án mà cần phải nắm bắt, xử lý các thông tin

về mọi vấn đề liên quan đến phương án, dự án từ nhiều nguồn khác nhau Vì vậy việc đầu tư và triển khai hệ thống lưu trữ dữ liệu tập trung cung cấp thông tin cho toàn hệ thống là rất cần thiết Đồng thời xây dựng hệ thống thông tin để quản lý danh mục tín dụng, hạn mức tín dụng đối với từng khách hàng vay vốn đảm bảo cho các cấp quản lý

có thể kiểm soát thông qua việc phê duyệt trên hệ thống máy tính

Để các giải pháp đã đưa ra được hiệu quả, Tác giả cũng có một số kiến nghị với Nhà nước, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Ngoại thương cần phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, phân tích tín dụng, đo lường rủi ro cho cán bộ Ngân hàng nhà nước cần nâng cao chất lượng thông tin tại Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng thương mại (CIT) Mặt khác tăng cường hiệu quả thanh tra kiểm soát hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại với mô hình tổ chức bộ máy thanh tra ngân hàng theo ngành dọc từ Trung ương xuống cơ sở

và có sự độc lập tương đối về điều hành và hoạt động nghiệp vụ nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro tín dụng Nhà nước cần tạo lập và hoàn thiện môi trường pháp lý bảo đảm an toàn tín dụng và Chính phủ cần giao cho Bộ Tài chính sớm ban hành khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Công ty xếp hạng tín nhiệm Nhà nước cần quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến phát mại tài sản như: quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, ban ngành có liên quan Đồng thời sớm ban hành khung giá nhà đất mới để làm cơ sở khách quan cho bộ phận thẩm định tài sản đảm bảo hoặc thành lập một cơ quan chuyên trách định giá tài sản để đảm bảo đầy đủ tính pháp lý và khách quan

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, chức năng kiểm tra kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp Đối với bất kỳ một ngân hàng thương mại nào thì

hệ thống kiểm soát nội bộ là một bộ phận không thể thiếu, nó là cơ sở để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng an toàn và vững mạnh Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh có thể giúp đảm bảo cho ngân hàng đạt được các mục tiêu lợi nhuận trong dài hạn, duy trì công tác báo cáo tài chính và báo cáo quản trị đáng tin cậy Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp cho các hoạt động của ngân hàng tuân thủ luật pháp, các quy định chính sách, kế hoạch, các thủ tục và quy tắc nội bộ, giảm thiểu rủi ro gặp phải những khoản lỗ không mong muốn hoặc gây tổn hại đến danh tiếng của ngân hàng

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động sinh lời chủ yếu lại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro nên việc kiểm soát hoạt động này luôn là bài toán khó với các ngân hàng Mặc dù ngày nay, các ngân hàng hiện đại có xu hướng chuyển dịch sang đầu tư vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhưng tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản, giữ vị trí quan trọng trong danh mục tài sản của các ngân hàng thương mại Kiểm soát hoạt động tín dụng là biện pháp quan trọng để đảm bảo an toàn tín dụng Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh ngân hàng nói chung và nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng nói riêng

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề trên trong thời gian làm việc và tìm hiểu thực tế tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam –

Chi nhánh Thành Công (VietComBank Thành Công) tôi chọn đề tài: “ Hoàn thiện hệ

thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Công ” làm đề tài luận văn của mình

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn hệ thống kiểm soát nội

bộ trong mối quan hệ với kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành công

từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động của hệ thống này với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Chi nhánh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietCombank Thành Công đặt trong mối quan hệ chung với hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống kiểm soát nội bộ với việc kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Công

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài, học viên đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp mô tả và khái quát hóa đối tượng nghiên cứu Các phương pháp này kết hợp chặt chẽ với nhau để rút ra những kết luận phục vụ cho đề tài

5 Đóng góp của Luận văn

Thứ nhất, Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ trong quan hệ với kiểm soát hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại

Thứ hai, Luận văn đã phân tích và đưa ra những định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Công Từ đó giúp ban lãnh đạo ngân hàng nhận thức đúng về hệ thống kiểm soát nội bộ và vận dụng để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng

Trang 13

6 Kết cấu Luận văn

Tên Luận văn : “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm

soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Công ”

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietcomBank Thành Công

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietcomBank Thành Công

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.1 Khái niệm và các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ có một vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp nói chung và của một tổ chức tín dụng nói riêng Cuối những năm 80, khi một loạt các công ty của Hoa Kỳ bị đổ vỡ, người ta đã xác minh được nguyên nhân chính của sự đổ vỡ là do hệ thống kiểm soát nội bộ của các công ty này yếu kém Kể từ đó, khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ ra đời và tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các ngân hàng hiện đại trên thế giới ngày càng quan tâm đến mức

độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

Theo định nghĩa của Viện Kiểm toán quốc tế, “Hệ thống kiểm soát nội bộ” là tập hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng, được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động Theo đó kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu của đơn vị

Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của đơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ với bốn yếu tố chính: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát

Trang 15

và hệ thống kiểm toán nội bộ Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và

xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm: đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát và môi trường bên ngoài Hệ thống kế toán là hệ thống thông tin chủ yếu của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán Các thủ tục kiểm soát do các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng và chế độ ủy quyền Kiểm toán nội

bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ nhu cầu quản trị nội bộ đơn vị Là mội trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp , bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách

và thủ tục về kiểm soát nội bộ

1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức được thiết lập nhằm thực hiện các mục tiêu, chính sách lớn của tổ chức, thông qua việc thực hiện các mục tiêu cụ thể, chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, bảo vệ, quản lý và sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế

và hiệu quả Đối với doanh nghiệp nói chung, tài sản của đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình, chúng có thể bị đánh cắp, bị lợi dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác như

hệ thống sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng… Đối với các ngân hàng thương mại nói riêng, ngoài tài sản của ngân hàng còn có tài sản của khách hàng là các khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, các giấy tờ có giá, các tài sản bảo đảm, tài sản cầm

Trang 16

cố thế chấp của khách hàng tại ngân hàng Mặt khác, tài sản của ngân hàng không chỉ

ở trong ngân hàng mà còn nằm bên ngoài ngân hàng Đó là các khoản tiền cho khách hàng vay, các khoản đầu tư vào các dự án liên doanh liên kết… Ngân hàng sử dụng phần lớn nguồn vốn huy động được để cho vay, nên cho vay là khoản mục sinh lời chủ yếu Rủi ro từ những khoản mục cho vay này ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Do đó ngoài bảo vệ tài sản hữu hình hiện có tại ngân hàng, các ngân hàng thương mại còn phải bảo vệ tài sản của khách hàng bằng một hệ thống công nghệ tin học hiện đại, đảm bảo sự bảo mật của hệ thống thông tin ngân hàng, bảo vệ tài sản ngoài ngân hàng bằng cách kiểm soát chặt chẽ các rủi ro có thể xảy ra, đặc biệt là rủi ro tín dụng

Thứ hai, bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực,

hợp lý, đầy đủ và kịp thời Thông tin kinh tế do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý Như vậy, các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy

về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế tài chính Đối với ngân hàng thì ngoài thông tin được cung cấp của

bộ máy kế toán còn có thông tin về khách hàng như tình hình kinh doanh, tình hình tài chính, tình hình về dự án đầu tư của khách hàng… do bộ phận quan hệ khách hàng cung cấp, các thông tin này cần chính xác và tin cậy và được thẩm định xác minh trước khi ban lãnh đạo đưa ra quyết định đầu tư hay cho vay

Thứ ba, bảo đảm cho hoạt động của tổ chức tuân thủ pháp luật và các quy định,

quy trình nội bộ về quản lý và hoạt động, và các chuẩn mực đạo đức do tổ chức đặt ra Trong ngân hang thì hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được tuân thủ đúng mức Cụ thể hệ thống kiểm soát nội bộ của một ngân hàng thương mại cần: Một là duy trì và tuân thủ các chính sách có liên quan đến hoạt động của ngân hàng bao gồm các quy chế, quy định về tín dụng, về nguồn vốn, ngoại hối của nhà nước, ngân hàng nhà nước, và của từng ngân hàng nói riêng Do đó ngoài việc đòi hỏi

Trang 17

phải chấp hành pháp luật của nhà nước thì ban quản trị tối cao của ngân hàng thương mại cũng yêu cầu phải tuân thủ các quy chế nội bộ

Hai là ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận trong mọi hoạt động của ngân hàng Hoạt động kinh doanh của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, do đó mọi hoạt động của từng nhân viên ngân hàng, từng bộ phận kinh doanh cần tuân thủ triệt để quy trình nghiệp vụ nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản của ngân hàng và của khách hàng Hệ thống kiểm soát nội bộ đóng vài trò chủ chốt trong quản trị rủi ro Như ta đã biết hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ chú trọng tới công tác hậu kiểm, tức là công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ, tiến hành khi sự việc đã xảy

ra Kiểm soát nội bộ mạnh phải ngăn chặn được sai phạm, dự báo và phòng ngừa rủi

ro chứ không đơn thuần là tìm ra nguyên nhân Do đó hệ thống kiểm soát nội bộ cần phát hiện các sai phạm trong quá trình tác nghiệp, xử lý nghiệp vụ, thực hiện các quy trình nghiệp vụ của các nhân viên ngân hàng như nghiệp vụ kho quỹ, tiền gửi có kỳ hạn, chuyển tiền, thanh toán quốc tế… và đề xuất các biện pháp xử lý các sai phạm

đó

Ba là đảm bảo việc nghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập báo cáo tài chính trung thực và khách quan Việc ghi chép kế toán trong ngân hàng thương mại do nhiều phòng thực hiện trên hệ thống phần mềm kế toán Do đó số liệu trên sổ

kế toán ngân hàng cần phải được kiểm soát cẩn thận đảm bảo trung thực và chính xác

vì nếu có sai sót sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài sản của khách hàng và từ đó làm giảm uy tín của ngân hàng

Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình mà ban giám đốc đã thiết lập, áp dụng cho từng lĩnh vực hoạt động của ngân hàng cũng như các quy định của pháp luật trong những lĩnh vực

đó

Thứ tƣ, đảm bảo hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý Các quá trình kiểm

soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác

Trang 18

nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp Bên cạnh đó định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp

Ngày nay, kiểm soát nội bộ đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh tế của các ngân hàng thương mại và tổ chức Kiểm soát nội bộ giúp các nhà quản trị quản lý hữu hiệu và hiệu quả hơn các nguồn lực kinh tế của công ty mình như: con người, tài sản, vốn …,góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp ngân hàng xây dựng được một nền tảng quản lý vững chắc phục vụ cho quá trình mở rộng, và phát triển đi lên của mình Đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng, do tính chất phức tạp của nó cùng với những ảnh hưởng lớn mạnh của nó tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, ban lãnh đạo ngân hàng càng đặc biệt chú trọng tới công tác quản lý chặt chẽ hoạt động này Chính

sự kiểm soát này giúp hoạt động tín dụng của ngân hàng tăng trưởng, phát triển theo đúng định hướng đã vạch ra, cung cấp cho nhà quản lý ngân hàng và cán bộ tín dụng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay Thông qua hệ thống kiểm soát tín dụng nội bộ các nhà quản lý đánh giá được sự hợp lý của các chính sách ngân hàng đưa ra trong từng thời kỳ, điều chỉnh chính sách tín dụng phù hợp với thực tiễn,

từ đó hoàn thiện và xây dựng được một chính sách tín dụng tốt hơn, đồng thời giúp các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra những khoản cho vay có vấn đề nhanh hơn Một chính sách tín dụng rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng

Nó giúp cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt được nhiều mục tiêu, chẳng hạn như tăng cường khả năng sinh lời, hạn chế rủi ro và đáp ứng được những đòi hỏi của các cơ quan quản lý

Trang 19

1.2 Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các nước trên thế giới Ở một số nước thì khái niệm này dùng để chỉ một tổ chức tài chính tiền tệ mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền gửi từ các cá nhân hay tổ chức kinh

tế sau đó để cho các cá nhân hay tổ chức khác vay lại Phạm vi hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ cho các nhóm ngành nghề riêng biệt Trong khi

đó ở một số nước khác thì lại cho rằng ngân hàng thương mại là ngân hàng được phép kinh doanh tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng

Một cách tiếp cận khác lại cho thấy bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một Ngân hàng thương mại Hay ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch

vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế

Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam: Ngân hàng thương mại là một

tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Trên thực tế, các ngân hàng thương mại ở nước ta ngoài việc thực hiện các hoạt động ghi trong luật nêu trên thì còn phải thực hiện các hoạt động khác phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội thực hiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy, các

ngân hàng thương mại thường được hiểu như một tổ chức tín dụng thực hiện các dịch

vụ tổng hợp về kinh doanh tiền tệ như nhận gửi của khách hàng để cho vay, cung cấp lại vốn đầu tư, các dịch vụ thanh toán và chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước

Trang 20

Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại: để thực hiện chức năng

kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại thực hiện tổng hợp nhiều hoạt động nghiệp

vụ, trong đó có thể chia thành 3 hoạt động nghiệp vụ chính, đó là: hoạt động nghiệp

vụ tài sản nợ (Nghiệp vụ tạo vốn), hoạt động nghiệp vụ tài sản có (Cho vay và đầu

tư), hoạt động trung gian (Dịch vụ ngân hàng)

Hoạt động nghiệp vụ tài sản nợ (Nghiệp vụ tạo vốn): đây là một trong hai

nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, Nghiệp vụ tài sản nợ của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ tạo vốn bằng nhiều hình thức khác nhau để tạo nguồn

vốn hoạt động cho ngân hàng Các nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:

Vốn tự có và coi như tự có: Nguồn vốn này của ngân hàng thương mại chiếm

tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ nguồn vốn hoạt động nhưng nó lại có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại Nguồn vốn này chính là cơ

sở để xác định lượng vốn được phép huy động, tỷ lệ được phép cho vay và khả năng đảm bảo thanh toán của ngân hàng cho khách hàng Nguồn vốn này có thể được cấp

từ Nhà nước (Ngân hàng thương mại quốc doanh) hoặc thu hút từ các cổ đông đóng góp (Ngân hàng thương mại cổ phần) Nguồn vốn này bao gồm vốn pháp định, các quỹ dự trữ, quỹ phúc lợi, khen thưởng và lợi nhuận chưa chia

Vốn huy động: Nguồn vốn này được các ngân hàng thương mại huy động từ

các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và từ dân cư theo các hình thức sau: Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền nằm trong tài khoản vãng lai hoặc tài khoản thanh toán của khách hàng và có thể rút ra bất kỳ lúc nào Bộ phận tiền gửi này bao gồm: tiền gửi thanh toán được bảo quản trên 3 tài khoản của ngân hàng là: tài khoản tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tài khoản séc và tài khoản vãng lai có thể dư có (thể hiện tiền gửi của khách hàng) hoặc dư nợ (thể hiện tài khoản ngân hàng cho khách hàng vay) Ưu điểm của tiền gửi không kỳ hạn là chi phí huy động thấp nhưng nhược điểm là tính ổn định không cao nên các ngân hàng thương mại thường phải thực hiện một mức dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có quy định cụ thể về thời hạn rút tiền của khách hàng Nó có thể là tiền gửi có kỳ hạn của

Trang 21

doanh nghiệp khi có các khoản thu và xác định được thời gian chi trả hoặc các khoản tiền tích luỹ của doanh nghiệp Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn quan trọng của ngân hàng Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được ngân hàng giao cho một quyển sổ tiết kiệm, sổ này coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ của ngân hàng Hai loại tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn định trong thời gian dài nên rất được các ngân hàng thương mại chú trọng và có biện pháp kích thích bằng việc tạo ra các sản phẩm huy động với thời hạn và mức lãi suất huy động khác nhau với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất huy động càng cao

Vốn vay: Ngân hàng có thể huy động vốn vay bằng cách vay ngắn, trung hoặc

dài hạn từ ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác hoặc nhận quỹ uỷ thác đầu tư của các tổ chức tài trợ (chính phủ hay quốc tế) để cho vay ưu đãi đối với một số đối tượng được lựa chọn

Vốn huy động khác: Ngân hàng có thể huy động vốn bằng cách phát hành các

loại chứng khoán (kỳ phiếu, trái phiếu ) để huy động vốn từ dân cư hay tổ chức, công ty nào đó

Hoạt động nghiệp vụ tài sản có: hoạt động nghiệp vụ tài sản có là hoạt động

nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của ngân hàng thương mại vào các hoạt động kinh

doanh chủ yếu sau:

Hoạt động cho vay: Là việc ngân hàng thương mại cho khách hàng vay một

số tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định và khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả ngân hàng một khoản tiền bao gồm cả gốc và lãi Nghiệp vụ cho vay là hoạt động nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các ngân hàng thương mại và cũng là hoạt động nghiệp vụ có thể thúc đẩy hay kìm hãm các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau như: Theo thời gian: gồm có cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn; theo đối tượng vay gồm cho vay nông nghiệp, công nghiệp, công ích, cá nhân

Trang 22

Hoạt động đầu tư: bao gồm đầu tư chứng khoán và đầu tư liên doanh, liên

kết

Hoạt động trung gian (Dịch vụ ngân hàng): trong hoạt động ngân hàng, các

dịch vụ ngân hàng được coi là các hoạt động nghiệp vụ bên thứ ba bên cạnh các hoạt động nghiệp vụ có và các hoạt động nghiệp vụ nợ Thông thường ngân hàng cung cấp các dịch vụ trung gian như: hoạt động bảo lãnh (là việc ngân hàng cam kết trả thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên yêu cầu bảo lãnh), hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, vàng bạc đá quý , nhận uỷ thác ký gửi, hoạt động tư vấn đầu

tư, hoạt động đại lý kinh doanh chứng khoán

Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho nhau Trong đó hoạt động nghiệp vụ nợ là cơ sở để thực hiện hoạt động nghiệp vụ có Hoạt động nghiệp vụ có làm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, góp phần

mở rộng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng do được tăng vốn dự trữ, tăng khả năng huy động vốn Trên cơ sở hoạt động nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng thương mại có thể thực hiện được các hoạt động nghiệp vụ trung gian Nếu thực hiện tốt hoạt động nghiệp vụ trung gian thì ngân hàng thương mại có điều kiện tăng nguồn vốn vì hoạt động nghiệp vụ trung gian vừa gần hoạt động nghiệp vụ có lại vừa gần hoạt động nghiệp vụ nợ

1.2.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại

Trong lịch sử, quan hệ tín dụng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, lực lượng sản xuất còn thấp kém nên xã hội chưa có sản phẩm dư thừa để dự trữ, chưa có cơ sở để nảy sinh mầm mống của chế độ

tư hữu Trong xã hội này chưa có quan hệ trao đổi, mua bán và vay mượn Cùng với

sự phát triển của xã hội loài người lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động được hình thành Lúc này, con người sản xuất sản phẩm không chỉ đủ tiêu

Trang 23

dùng mà còn có một phần tích luỹ để dự trữ Trong xã hội bắt đầu xuất hiện mầm mống của chế độ tư hữu về tư liệu lao động và của cải làm ra Xã hội có sự phân chia giàu nghèo và các giai cấp hình thành Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất cùng với sự phân công lao động xã hội là cơ sở cho sản xuất hàng hoá ra đời Và những quan hệ vay mượn đầu tiên chính là nguồn gốc sâu xa của các quan hệ tín dụng Như vậy có thể khẳng định tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với

sự ra đời tồn tại và phát triển của của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá Tín dụng ra đời là một yếu tố khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội

Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế Sự luân chuyển dòng vốn giữa một bên cần vốn và một bên có vốn nhàn rỗi đã xuất hiện quan hệ tín dụng Tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng mang tính truyền thống và đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng thương mại Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh

tế, tín dụng được coi là một quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người

đi vay với điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về số tiền hoàn trả (gốc và lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hoá trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi vay trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường Trong quan hệ tín dụng

có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay tuân theo hai nguyên tắc cơ bản:

Thứ nhất tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Điều này giúp cho ngân hàng có thể quản lý, giám sát được nguồn tiền giải ngân và đảm bảo rằng vốn của ngân hàng được an toàn, ngân hàng có khả năng thu lợi nhuận trong đầu

Trang 24

tư các dự án Mặt khác chính sự giám sát này còn giúp khách hàng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay của mình

Thứ hai tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn Trong kinh tế thị trường, tín dụng là giao dịch chuyển quyền sử dụng vốn đầu tư trong một thời kỳ nhất định Tiền vay phải được bảo đảm không bị giảm giá, nó phải được thu hồi đầy đủ và

có sinh lời Nguyên tắc này đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội được ổn định, các mối quan hệ của ngân hàng phát triển theo xu hướng an toàn và ổn định

Như vậy, Tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng Đó

là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi

1.2.2.2 Phân loại hoạt động tín dụng

Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng lớn

và đa dạng, việc phân loại chỉ có tính chất tương đối Trên cơ sở các căn cứ phân loại khác nhau mà hình thành các hình thức tín dụng khác nhau

Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Tín dụng ngắn hạn: là các khoản cho vay mà thời hạn không quá 12 tháng (1 năm) Mục đích là đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về mua nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng, thanh toán của cá nhân có giá trị nhỏ

Tín dụng trung hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 12 tháng và không quá

60 tháng Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ thời hạn thu hồi vốn nhanh

Tín dụng dài hạn: là các khoản vay có thời hạn lớn hơn 60 tháng Mục đích là

sử dụng vốn vay gần như tín dụng trung hạn nhưng với những công trình quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn

Trang 25

Căn cứ vào mục đích tín dụng

Tín dụng cho sản xuất lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hoá Nó đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, cho vay chi phí sản xuất hoặc đáp ứng nhu cầu thiếu vốn trong quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp

Tín dụng tiêu dùng: Cho vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua chịu hàng hoá, xây dựng nhà ở hoặc các phương tiện cần thiết khác

Phân loại theo tính chất bảo đảm

Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức tín dụng đươc cấp phát trên cơ sở tài sản thể chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba

Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà dựa trên uy tín của khách hàng

Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn

Tín dụng vốn lưu động: là loại cho vay được cấp để bổ sung nguồn vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất như mua nguyên vật liệu, hàng hóa dự trữ, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Cho vay vốn lưu động thường được sử dụng để bù đắp mức vốn lưu động của doanh nghiệp

Tín dụng vốn cố định: là loại cho vay được cấp để hình thành vốn cố định Loại cho vay này thường dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới Thời hạn cho vay đối với loại cho vay này là trung và dài hạn

Căn cứ vào mức độ rủi ro

Cách phân loại này cũng giống như hình thức xếp hạng tín dụng theo tiêu thức rủi ro Nó đóng vai trò rất lớn đối với các ngân hàng trong việc đánh giá tính rủi ro của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời Theo cách phân loại này,

Trang 26

tín dụng được phân thành: tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, tín dụng quá hạn

có khả năng thu hồi, tín dụng quá hạn khó thu hồi Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng an toàn, có khả năng thu hồi vốn cao Tín dụng có vấn đề: là những khoản tín dụng đã quá hạn với thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn Tín dụng quá hạn khó thu hồi: là những khoản tín dụng quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ kém, tài sản thế chấp bị giảm giá hoặc mất giá

1.2.2.3 Quy trình tín dụng trong Ngân hàng thương mại

Để giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần làm gia tăng doanh lợi, quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại làm lành mạnh công tác tín dụng, qui định rõ trách nhiệm của từng thành viên trong tổ chức, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban Quy trình cho vay được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ của khách hàng và kết thúc khi tất toán thanh lý hợp đồng tín dụng theo sơ đồ 1.1

Đồng thời, quy trình tín dụng thiết lập thủ tục hành chính, thiết kế thủ tục cho vay phù hợp quy định của pháp luật, thích ứng từng nhóm khách hàng, từng loại vay, tạo cơ sở kiểm soát tiến trình cấp tín dụng, điều chỉnh chính sách cho vay phù hợp, giúp cho nhà quản trị nhanh chóng xác định những khâu công việc cần điều chỉnh Quy trình cấp tín dụng tổng quát bao gồm các giai đoạn sau :

Một là lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng: cán bộ tín dụng nghiên cứu và thẩm định

hồ sơ vay vốn, tìm hiểu và phân tích về khách hàng như tư cách và năng lực pháp lý, năng lực điều hành, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh mô hình tổ chức bố trí lao động trong doanh nghiệp.Quy định về điều kiện vay vốn tính pháp lý của hồ sơ vay vốn phải được tuân thủ theo quy định của luật các tổ chức tín dụng Bên cạnh quy định chung, ngân hàng còn đưa ra các quy định cụ thể phù hợp với đơn vị

Hai là phân tích tín dụng: trên cơ sở hồ sơ đề nghị vay vốn từ giai đoạn 1chuyển

sang, cán bộ tín dụng tiến hành đánh giá khả năng tài chính của khách hàng Đồng

Trang 27

thời phân tích thẩm định dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và những rủi ro có thể xảy ra để phục vụ cho việc ra quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay

Ba là quyết định tín dụng: Bộ phận có thẩm quyền ra quyết định cho vay hoặc từ

chối cho vay Nếu đồng ý cho vay thì tiến hành các thủ tục pháp lý như ký hợp đồng tín dụng để xác định số tiền vay, thời gian vay, tiến độ giải ngân, mức thu nợ hợp lý, các điều kiện cho vay để đảm bảo an toàn và hiệu quả

Bốn là giải ngân trên cơ sở đảm bảo đủ tờ trình giải ngân, bảng kê rút vốn vay,

sổ theo dõi tiền vay và chứng từ rút vốn vay, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với hợp đồng tín dụng, giải ngân phải đúng với tiến độ sử dụng vốn vay

Năm là giám sát khoản vay: thu thập các thông tin từ nội bộ ngân hàng và báo

cáo tài chính theo định kỳ cán bộ tín dụng tiến hành theo dõi việc trả nợ gốc lãi của khách hàng, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay tình hình sản xuất kinh doanh, đánh giá lại tài sản đảm bảo tiền vay Từ đó đưa ra các báo cáo kết quả giám sát và các biện pháp xử lý

Trang 28

Khách hàng Cán bộ tín dụng (1) Hồ sơ xin vay

Thông tin tư vấn, hướng dẫn - Dự án, pa kd

(2)

Qua trao đổi, mua

(10a) (12b) (14)

Thanh lý hợp đồng Xử lý tài sản kh (11b

Sơ đồ 1.1: Quy trình tín dụng của Ngân hàng thương mại

Trang 29

1.2.3 Hiệu quả của hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại

1.2.3.1 Hiệu quả và các tiêu chí phản ánh chất lượng của hoạt động tín dụng

Hiệu quả của hoạt động tín dụng

Thứ nhất, hoạt động tín dụng có hiệu quả tạo điều kiện cho các ngân hàng đảm

bảo an toàn vốn và tài sản của mình cũng như của khách hàng đến gửi tiền tại ngân hàng Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của ngân hàng là bảo toàn và phát triển vốn bởi ngân hàng là trung tâm tín dụng, trung tâm thanh toán nên có đảm bảo thu hồi được nợ thì mới đảm bảo thanh toán được tiền gửi cho các khách hàng

Thứ hai, Hệ thống ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng có chức

năng tạo vốn bổ sung một cách đa dạng về thời hạn, về quy mô cũng như về phương hướng khi tổng nguồn vốn hiện có không đáp ứng yêu cầu vay vốn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và thực hiện đầy đủ chức năng, vai trò của ngân hàng thương mại Nếu hoạt động tín dụng không được coi trọng, xuất hiện rủi ro thì việc luân chuyển vốn trong nền kinh tế sẽ trì trệ và ảnh hưởng chung đến tăng trưởng kinh tế Đối với ngân hàng thì nợ quá hạn phát sinh dẫn đến chi phí ngân hàng tăng và hiệu quả sử dụng vốn ngân hàng sẽ giảm, lợi nhuận giảm

Thứ ba, hoạt động tín dụng của ngân hàng có tác động mạnh mẽ đến chu kỳ

của quá trình tái sản xuất trên tầm vi mô cũng như trên tầm vĩ mô Một mặt, người ta

sử dụng tín dụng ngân hàng để đảm bảo thực hiện quá trình tái sản xuất Đồng thời, người ta sử dụng tín dụng ngân hàng để điều chỉnh tính chu kỳ của quá trình sản xuất bằng việc điều tiết lượng tín dụng đối với từng doanh nghiệp cũng như đối với toàn

bộ nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đến yêu cầu tăng trưởng cao nhưng bền vững

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng hoạt động tín dụng của ngân hàng phải gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Khi nền kinh tế Việt nam đang chuyển dần sang cơ chế thị trường với hành lang pháp lý chưa

Trang 30

hoàn chỉnh, chưa đồng bộ thì khả năng rủi ro trong hoạt động tín dụng lại càng lớn và đòi hỏi phải có biện pháp hữu hiệu nhằm kiểm soát hoạt động này

Các tiêu chí phản ánh chất lƣợng của hoạt động tín dụng

Chất lượng của hoạt động tín dụng thực chất là kết quả của việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn khả năng rủi ro xảy ra đối với hoạt động tín dụng Có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động tín dụng, Luận văn chỉ xin đề cập đến một số chỉ tiêu chủ yếu hiện nay mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng

Đó là:

Nợ quá hạn: Nợ quá hạn là những khoản nợ mà khách hàng không trả được khi

đến hạn thanh toán đã thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Có thể nói đây là một

chỉ tiêu rộng rãi nhất để đánh giá kết quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả tín dụng của ngân hàng càng thấp, việc quản

lý hoạt động tín dụng của ngân hàng chưa tốt

Tỷ lệ nợ quá hạn: nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu nợ quá hạn thôi thì chưa đủ để đánh

giá một cách đúng đắn hiệu quả tín dụng của ngân hàng Ngoài chỉ tiêu số tuyệt đối, người ta còn sử dụng chỉ tiêu số tương đối là tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ

lệ giữa nợ quá hạn và tổng số dư nợ hiện có của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn được

Chỉ tiêu này phản ánh bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ chưa thanh toán bị quá hạn Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn, phản ánh việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng là chưa tốt Ngược lại, tỷ lệ này thấp phản ánh việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng đạt kết quả tốt

Trang 31

Tuy nhiên tỷ lệ này thấp và bằng 0 không có nghĩa là việc quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng là tốt, mà số tiền rủi ro khi đó chính là tổng dư nợ hiện tại của ngân hàng Không phải những khoản vay chưa đến hạn thanh toán là không có rủi ro,

vì thế ngoài hai chỉ tiêu định lượng trên người ta còn sử dụng chỉ tiêu định tính

Các khoản tín dụng có vấn đề: là những khoản vay chưa đến hạn, chưa được

xem là nợ quá hạn nhưng trong quá trình theo dõi, ngân hàng phát hiện thấy khách

hàng có những dấu hiệu không trả được nợ

Ngoài các chỉ tiêu trên, để đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng còn có thể

sử dụng các chỉ tiêu như: Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ( theo Quyết định

493 thì nợ xấu là nợ nhóm 3,4,5, còn nợ nhóm 1 là nợ thông thường và nợ nhóm 2 là

nợ cần chú ý),Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất, Nợ không có tài sản đảm bảo

1.2.3.2 Rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại

Khái niệm rủi ro tín dụng

Ngân hàng là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, đây là một loại hàng hoá đặc biệt

Vì vậy, ngân hàng thường xuyên đối mặt với nhiều rủi ro Ngoài các loại rủi ro thông thường mà các doanh nghiệp gặp phải, các ngân hàng còn đối mặt với các rủi ro riêng của nó như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro đạo đức, rủi ro lạm phát, rủi ro tỷ giá hối đoái Trong điều kiện hiện nay, cung cấp tín dụng vẫn là một hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng và đồng thời rủi ro tín dụng cũng là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động của ngân hàng Sở dĩ như vậy là vì đối với các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1\2 đến 2\3 nguồn thu của ngân hàng Hơn nữa, rủi

ro trong kinh doanh ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng

Vì thế rủi ro tín dụng được rất nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng

Trang 32

Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán gốc và lãi không đúng kỳ hạn so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức

là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng

Theo quyết định 493/2005 QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam thì: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng

là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Nếu coi tín dụng là việc “tin tưởng” mà đưa ra cho khách hàng sử dụng giá trị hiện tại với mong muốn nhận được giá trị tương lai trong một thời gian nhất định thì rủi ro tín dụng chính là khả năng mà mong muốn đó không được đáp ứng hay nói một cách khác đó là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa kết quả thực tế

và kết quả kỳ vọng theo kế hoạch- đúng hạn nhận được đầy đủ gốc và lãi Với mục tiêu đúng hạn theo hợp đồng tín dụng có thể hiểu được là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do các bên đối tác trong hợp đồng tín dụng không có khả năng hoặc không

có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam kết Như vậy rủi ro tín dụng là khả năng bên vay không trả, hoặc không trả đúng hạn hoặc không trả đẩy đủ gốc và lãi cho ngân hàng

Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng đồng thời cũng đối mặt với nhiều rủi ro nhất Một bài toán khó đặt ra cho các ngân hàng hiện nay là phải quản lý hoạt động này như thế nào cho hiệu quả Các ngân hàng hiện đại ngày nay đang có xu hướng chuyển dần sang cung cấp thêm các dịch vụ tài chính khác

Trang 33

nhưng tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản

của ngân hàng

1.2.3.3 Phân loại rủi ro tín dụng và nguyên nhân rủi ro tín dụng

Phân loại rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng chủ yếu là rủi ro về định giá bởi vì tín dụng tạo ra giá trị hiện tại

để đổi lấy giá trị tương lai Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, có thể phân rủi ro tín

dụng thành nhiều loại khác nhau

 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành

các loại sau đây :

Sơ đồ 1.2: Phân loại rủi ro tín dụng

Rủi ro giao dịch là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do

hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro

giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân

tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi

ro có liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo,

chủ thể đảm bảo ); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay

và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật

Rủ i ro

Nộ i tạ i

Rủ i ro

Tậ p trung

Trang 34

Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế

trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại cho vay có rủi ro cao)

 Căn cứ vào thời hạn khoản vay

Theo cách phân loại này thì rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro theo khoản vay ngắn hạn và rủi ro theo khoản vay trung, dài hạn

Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay

Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

Các ngân hàng khi cho vay luôn phải đối mặt với rủi ro Với khả năng cho vay, các ngân hàng thương mại thúc đẩy quá trình đầu tư, sản xuất và lưu thông hàng hóa,

do đó góp một ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và đối với các doanh nghiệp Tuy nhiên, để xác định nguyên nhân gây ra rủi ro, cần tập trung vào một số nguyên nhân sau:

 Nguyên nhân từ ngoài ngân hàng

Rủi ro tín dụng từ phía người vay là một trong những loại rủi ro thường đem lại tổn thất nhiều nhất cho ngân hàng Các nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng có rất nhiều, có thể sắp xếp theo hai nhóm như sau:

Nhóm nguyên nhân khách quan, là những tác động bên ngoài đến khách hàng

như do thiên tai, hỏa hoạn, thay đổi đột ngột chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch, do hành lang văn bản pháp lý chưa phù hợp, do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi

Trang 35

Rủi ro do môi trường kinh tế không thuận lợi là sự biến động quá nhanh không

dự đoán được của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay Nền kinh tế Việt nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp (nuôi trồng chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu Quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế cũng dẫn đến những hệ quả tất yếu làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên do các khách hàng tiềm lực tài chính lớn đã bị các ngân hàng nước ngoài thu hút bằng các sản phẩm, dịch vụ mới với nhiều tiện ích hơn

Sự tấn công của hàng nhập lậu làm điêu đứng các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn vào các doanh nghiệp này Sự tràn lan của hàng nhập lậu tại các thành phố lớn với các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải, quần áo, mỹ phẩm…là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta

Ngoài ra, sự thiếu quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý, công khai đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư

và sẽ rời bỏ lại những ngành không mang lại lợi nhuận, và do đó dẫn đến sự chuyển dịch vốn từ ngành này sang ngành khác Nếu để sự cạnh tranh phát triển một cách tự phát mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước sẽ dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư ở một số ngành, gây khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia

Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều luật và các văn bản hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động

Trang 36

tín dụng ngân hàng Song, việc triển khai vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và gặp phải nhiều vướng mắc Như việc cưỡng chế tài sản thu hồi nợ, mặc dù các văn bản luật đều có quy định: Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay, nhưng trên thực tế các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để toà án xử lý theo con đường tố tụng…Hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống từ NHNN cũng cần phải luôn cải thiện, nâng cao chất lượng và nhất là nắm bắt kịp tốc độ cải tiến công nghệ mới của các NHTM hiện nay Việc thanh tra tại chỗ là phương pháp quản

lý nhanh nhất và hiệu quả nhất nhằm phát hiện xử lý kịp thời những rủi ro trong hoạt động tín dụng của các NHTM Nếu thanh tra ngân hàng chỉ hoạt động một cách thụ động, không cảnh báo và có biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu, để khi hậu quả nặng nề xảy ra rồi mới can thiệp thì rủi ro và nguy cơ đe dọa sự an toàn trong hệ thống là rất lớn Hệ thống thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động tương đối hiệu quả và đã đạt được bước đầu khả quan Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là một cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thậm chí cập nhật không kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu tra cứu thông tin của các NHTM

Nhóm nguyên nhân chủ quan, là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng Trước

hết là vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn rất ít so với nhu cầu Năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao Trong đó có trường hợp, ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng do khách hàng cố ý lừa đảo ngân hàng, cho dù công việc kinh doanh có lãi họ vẫn không trả nợ ngân hàng đúng hạn với hy vọng sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt, sử dụng vốn vay không đúng mục đích hoặc chây ì không trả nợ ngân hàng Để đạt được mục đích, người đi vay thường dùng mọi biện pháp để ứng

Trang 37

phó với ngân hàng như cung cấp sai thông tin bao gồm thông tin về doanh nghiệp, về mặt hàng kinh doanh, khả năng trả nợ, làm khả năng đánh giá của cán bộ ngân hàng không chính xác

 Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Nguyên nhân đầu tiên thuộc về ngân hàng phải kể đến là việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay Nguyên nhân thứ hai về phía ngân hàng là chính sách tín dụng và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phương pháp xem xét phân tích còn hạn chế chưa chính xác

Những quy trình trong nghiệp vụ tín dụng có thể dẫn đến những rủi ro sau:

Sơ đồ 1.3: Những rủi ro xảy ra do sai lầm trong quy trình cho vay

Lập hồ sơ tín dụng Thông tin không chính xác

căn cứ chứng minh mục đích sử dụng vốn

vật tư hình thành từ vốn vay

vốn vay đã bị bán hoặc không tiêu thụ đ ượ c

Trang 38

Nguyên nhân thứ ba là kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp Nguyên nhân thứ tư là thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng Nguyên nhân nữa phải kể đến đó là năng lực và phẩm chất cán

bộ tín dụng và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ của cán bộ ngân hàng Vấn đề con người cũng cần chú trọng nâng cao tinh thần đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp

vụ Tình trạng một số cán bộ tín dụng tiếp tay với khách hàng làm giả hồ sơ vay, nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng đã tồn tại trên thực tế và để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín ngân hàng

Hiện nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung Việc đánh giá, thẩm định

và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng Rủi ro tín dụng có tác dụng trực tiếp tới chất lượng của hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Có nhiều tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng của NHTM như: nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ

sở hữu, nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) - có khả năng chuyển thành nợ xấu cao Do

đó công tác quản lý rủi ro tín dụng là rất quan trọng đối với ngân hàng Để đảm bảo cho công tác này được thực hiện tốt, ngân hàng cần có những bước thực hiện cụ thể như đa dạng hóa danh mục tín dụng, xây dựng chính sách tín dụng, quy trình phân tích tính toán xác định rủi ro, quản lý và giám sát sau khi cấp tín dụng,… Các biện pháp này gọi chung là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh và hữu hiệu đối với hoạt động tín dụng

Trang 39

1.3 Đặc điểm hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng ở ngân hàng thương mại

1.3.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt động

của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong đó toàn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội

bộ hay không Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng có tính chất môi trường tác động đến việc thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ

Môi trường kiểm soát chung được hiểu là các nhân tố xung quanh tác động đến

sự hữu hiệu của các chính sách, thủ tục kiểm soát của ngân hàng như đặc thù quản lý,

cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát

Một là, đặc thù về quản lý: Các đặc thù về quản lý đề cập tới các quan điểm

khác nhau trong điều hành hoạt động của ngân hang của các nhà quản lý Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách chế độ các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra kiểm soát trong ngân hang Bởi chính các nhà quản lý này sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại ngân hang Các nhân tố thuộc đặc thù về quản lý chủ yếu liên quan tới quan điểm, thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra kiểm soát trong ngân hàng Trên thực tế tính hiệu quả của các hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong các hoạt động của một ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào nhà quản lý tại ngân hàng đó Nếu nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt động trong ngân hàng thì mọi thành viên của ngân hàng sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra kiểm soát đồng thời tuân thủ mọi quy định

đề ra Ngược lại nếu hoạt động kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắc chắn các quy chế về kiểm soát nội bộ sẽ không được vận hành một cách hiệu

Trang 40

quả Trong hoạt động tín dụng, nếu chủ trương của Ban giám đốc là cho vay an toàn

và hiệu quả thì các chính sách và quy trình cho vay sẽ chặt chẽ để đảm bảo thu hồi được nợ gốc và lãi khi đáo hạn Và ngược lại nếu Ban giám đốc muốn tăng dư nợ tín dụng thì chế độ và chính sách cho vay nới lỏng hơn, hiệu quả tín dụng không cao có thể gây rủi ro tổn thất cho ngân hàng

Hai là, cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý sẽ tạo điều kiện

cho môi trường kiểm soát tốt hơn Một cơ cấu tổ chức hợp lý từ trên xuống dưới đảm bảo cho việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định cũng như việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong toàn bộ ngân hàng Ngoài ra các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế toán của ngân hàng cũng được ngăn ngừa có hiệu quả Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải được thiết lập để kiểm soát được toàn bộ hoạt động của ngân hàng và thực hiện sự phân chia chức năng quyền hạn giữa các bộ phận không bị chồng chéo hay bỏ trống, tạo khả năng kiểm tra kiểm soát lẫn nhau trong từng bước công việc cụ thể Đối với hoạt động tín dụng, một bộ máy hoạt động tốt phải đảm bảo được sự phân tách nhiệm vụ giữa người đề xuất tín dụng, người thẩm định, phê duyệt tín dụng và người quản trị tín dụng Một người không được đảm trách một giao dịch từ đầu đến cuối, đảm bảo sự độc lập tương đối

và tránh chồng chéo công việc giữa các bộ phận Để thiết lập một cơ cấu tổ chức tín dụng thích hợp và hiệu quả, các nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thiết lập được sự điều hành và sự kiểm soát các hoạt động trước, trong và sau khi cho vay trên toàn bộ hoạt động tín dụng

Phải có sự phân chia rõ ràng ba chức năng: xử lý nghiệp vụ tín dụng, ghi chép sổ

và bảo quản tài sản Chẳng hạn như việc xử lý nghiệp vụ do phòng khách hàng doanh nghiệp thẩm định và thực hiện, việc hạch toán vào chương trình phần mềm do bộ phận kế toán tiền vay phòng kinh doanh dịch vụ thực hiện, còn việc bảo quản tài sản (

đó là tài sản cầm cố thế chấp) do bộ phận của phòng ngân quỹ thực hiện

Ngày đăng: 14/01/2021, 23:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Rủi ro giao dịch là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
i ro giao dịch là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng (Trang 33)
Thu hồi nợ Hàng hoá, vật tư hình thành bằng vốn vay đã bị bán hoặc không  tiêu  thụ đ ược  - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
hu hồi nợ Hàng hoá, vật tư hình thành bằng vốn vay đã bị bán hoặc không tiêu thụ đ ược (Trang 37)
Bảng 2.1: Dƣ nợ tín dụng qua các năm - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
Bảng 2.1 Dƣ nợ tín dụng qua các năm (Trang 56)
Bảng 2.3 Doanh số huy động vốn đƣợc thể hiện qua bảng biểu sau: - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
Bảng 2.3 Doanh số huy động vốn đƣợc thể hiện qua bảng biểu sau: (Trang 58)
Tình hình huy động vốn qua các năm - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
nh hình huy động vốn qua các năm (Trang 58)
Bảng 2.5 Báo cáo kết quả kinh doanh của VietComBank Thành Công - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
Bảng 2.5 Báo cáo kết quả kinh doanh của VietComBank Thành Công (Trang 61)
Sơ đồ 2.2: Mô hình tín dụng - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
Sơ đồ 2.2 Mô hình tín dụng (Trang 63)
thuộc vào tình hình thực tế trên địa bàn và năng lực quản lý. Mức thẩm quyền cao nhất là 60 tỷ đồng, thấp nhất là 20 tỷ đồng  đối với từng lần cho vay dự án đầu tư và  mở L/C, bảo lãnh miễn ký quỹ và các khoản cho vay khác có giá trị nằm trong Giới  hạn t - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công
thu ộc vào tình hình thực tế trên địa bàn và năng lực quản lý. Mức thẩm quyền cao nhất là 60 tỷ đồng, thấp nhất là 20 tỷ đồng đối với từng lần cho vay dự án đầu tư và mở L/C, bảo lãnh miễn ký quỹ và các khoản cho vay khác có giá trị nằm trong Giới hạn t (Trang 65)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w