1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 11

TUYẾN ĐƯỜNG HÀ NỘI – LẠNG SƠN TRƯỚC THẾ KỶ XX

6 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 469,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vị trí quan trọng của Lạng Sơn và kinh đô nước ta lúc bấy giờ cũng như tầm quan trọng của việc đi lại cai quản các địa phương vùng biên giới, tiến quân chặn đánh các đợt [r]

Trang 1

TUYẾN ĐƯỜNG HÀ NỘI – LẠNG SƠN TRƯỚC THẾ KỶ XX

Nguyễn Thị Hòa*, Đặng Thị Lan

Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Hà Nội – Lạng Sơn là tuyến đường được hình thành đầu tiên của đường Thiên Lý, nay là Quốc lộ 1A Tuyến đường bắt đầu được xây dựng từ thời nhà Lý (1010 - 1225), xuất phát từ Thăng Long, qua Bắc Ninh, Bắc Giang lên vùng biên giới Việt – Trung ở Lạng Sơn, kết thúc tại trấn Nam Quan (nay là cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị) Năm 1019, đoạn đường cuối của tuyến đường được hoàn thành, sau đó nhà Lý

mở rộng tuyến đường thành quan lộ Tới thời nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lê, nhà Mạc, tuyến đường tiếp tục được sử dụng, cải tạo Tuy nhiên, về cơ bản hiện trạng tuyến đường giống như thời nhà Lý, đó là những đoạn đường đất nhỏ hẹp bị ngăn cách bởi sông suối, khó khăn đi lại khi mưa, lũ Đến Thời nhà Nguyễn (1802 - 1945), tuyến đường được mở rộng, nắn thẳng và bắc cầu qua sông suối, chỗ bùn lầy đắp thêm đất Những năm cuối thế kỉ XIX, nhằm phục vụ cho công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa Việt Nam, Thực dân Pháp sửa chữa, mở rộng tuyến đường Trong suốt tiến trình lịch sử trước thế kỉ XX, tuyến đường Hà Nội – Lạng Sơn được coi là huyết mạch quốc gia trong việc đi lại thông thương, ngoại giao với Trung Quốc Tuyến đường có vị trí, vai trò quan trọng trong cả lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội đối với đất nước, triều đình và nhân dân Điều đó khẳng định sự đúng đắn, nhạy bén của các triều đại phong kiến Việt Nam trong việc quan tâm phát triển giao thông, nhất là việc mở và cải tạo, nâng cấp tuyến đường Hà Nội – Lạng Sơn

Từ khóa: Tuyến đường; Hà Nội; Lạng Sơn;Nam Quan; thế kỷ XX

MỞ ĐẦU *

Xuất phát từ nhu cầu đi lại, cai quản các địa

phương và yêu cầu của việc bang giao, hoạt

động quân sự, các triều đại phong kiến Việt

Nam đã quan tâm và chú trọng việc giao

thông, mở đường bộ từ các kinh thành, phủ

tới các địa phương và biên giới Việt – Trung

Hà Nội – Lạng Sơn là một trong các tuyến

đường đó

Tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn, trước 1831

được gọi là tuyến đường Thăng Long – Lạng

Sơn (hay Nam Quan), là mạch đường khởi đầu

cho trục đường Thiên Lý Bắc Kỳ, sau là Thiên

Lý Bắc Nam Đối với nước ta, tuyến đường

này đã đóng góp vai trò hết sức to lớn trong

phát triển kinh tế, ngoại giao, thông thương,

quốc phòng, Phạm vi tuyến đường chạy

qua, nhất là Lạng Sơn là nơi trực tiếp diễn ra

những cuộc tiến - lui quân khi có giao tranh

giữa ta và phong kiến phương Bắc; là nơi tiếp

đón hàng trăm đoàn sứ bộ của hai nước Việt -

Trung trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc

Ngoài ra, đây còn là nơi giao thương, buôn

bán giữa triều đình và nhân dân hai nước

Tuyến đường không chỉ là cửa ngõ ra vào

giữa hai nước Việt - Trung, nối liền miền

thượng du - đồng bằng, các đô thị, trung tâm,

* Tel: 0973748369, Email: hoakhoasu@dhsptn.edu.vn

đơn vị hành chính, các trạm, phục vụ hoạt động khai thác để đáp ứng mục tiêu quân sự, ngoại giao từ thời dựng nước và giữ nước mà còn là nền tảng cơ sở của đường 1A ngày nay

Vì vậy, việc tìm hiểu về việc xây dựng, hoạt động và vai trò của tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn trước thế kỷ XX có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bài viết cung cấp cho bạn đọc thêm nhận thức

về lịch sử Việt Nam thời cổ - trung - cận đại Khi làm rõ về lịch sử và vai trò của tuyến đường, bài viết có ý nghĩa giáo dục rất lớn cho thế hệ trẻ Từ đó, hình thành thái độ, tư tưởng, tình cảm đúng đắn, biết trân trọng những công lao của cha ông trong quá trình xây dựng và hoàn thiện tuyến đường cũng như quá trình xây dựng và phát triển đất nước Thông qua bài viết, chúng tôi hy vọng cung cấp thêm nguồn tư liệu để phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử dân tộc

và lịch sử địa phương

TÀI LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu và làm rõ về “Tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn trước thế kỷ XX”, chúng tôi khai thác và sử dụng tài liệu thành văn là các sách về lịch sử giao thông vận tải; các giáo trình lịch sử Việt Nam của trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Thái Nguyên; sách sử của các triều đại phong kiến,

Trang 2

đặc biệt là sử sách triều Nguyễn; các tài liệu

lịch sử địa phương của 4 tỉnh thành: Hà Nội,

Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn…

Các tác phẩm sử học của triều đại phong kiến

có ghi chép về đường sá, việc đi lại của nhân

dân như: Sử học bị khảo, Đại Việt Sử ký toàn

thư, Lịch triều hiến chương loại chí Đặc

biệt, thời nhà Nguyễn có tác phẩm Đồng

khánh dư địa chí (1888 -1890), Đại Nam nhất

thống chí, Đại Nam thực lục, Khâm định Ðại

Nam hội điển sự lệ, Châu bản triều Nguyễn,…

Về phương pháp nghiên cứu, chúng tôi sử

dụng phương pháp lịch sử kết hợp với

phương pháp logic là chủ yếu Phương pháp

lịch sử: Chúng tôi tiến hành tìm hiểu vấn đề

theo trình tự thời gian, trước tiên tìm hiểu quá

trình hình thành, xây dựng và khai thác tuyến

đường qua các triều đại phong kiến cho tới

đầu thế kỷ XX Phương pháp logic: Được vận

dụng khi tiến hành tìm hiểu biến đổi trong

xây dựng và khai thác, vị trí và vải trò của

tuyến đường qua từng thời kỳ… Ngoài ra,

chúng tôi sử dụng các phương pháp thống kê,

phân tích, tổng hợp, so sánh, miêu tả

KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN

Thực trạng xây dựng và hoạt động trên

tuyến đường trước thế kỉ XX

Trước thời nhà Nguyễn (trước năm 1802)

Như đã khẳng định ở trên, tuyến đường Hà

Nội – Lạng Sơn được mở từ thời đầu thời nhà

Lý (1010 - 1225), tức là khi đó nhà nước và

nhân dân mới có những hoạt động tác động

như đắp đất, phát quang mở đường đi…

Trước đó, tuyến đường ấy chỉ là những lối

đường đất mòn do người Trung Quốc khai

mở trong các cuộc viễn chinh xâm lược Việt

Nam từ thời Hán (207 - 201 TCN) và do dân

cư, gia súc đi lại nhiều tạo thành Sách Đại

Việt sử ký toàn thư ghi lại vào năm 980 “Lạng

Sơn nghe tin quân Tống sắp sang, làm tờ tâu

lên, Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ để

chống cự” [1, tr.184] Điều đó cho thấy ngay

từ trước nhà Lý, việc đi lại và thông tin liên

lạc giữa triều đình và vùng biên giới đã có Lối

mòn đi từ Thăng Long tới Nam Quan (Lạng

Sơn) đã được hình thành trước thời nhà Lý

phục vụ cho hoạt động kinh tế, chính trị, quân

sự, bang giao với phong kiến phương Bắc của

nước ta như đón tiếp đoàn sứ bộ của phương

Bắc, là đường đi của các đoàn sứ bộ Việt Nam sang Trung Quốc, là đường vận chuyển công văn, chiếu chỉ, thông tin liên lạc giữa các địa phương với triều đình,… Tuy nhiên, con đường mòn nhỏ, chạy qua các làng mạc hoang vu, dân cư còn thưa thớt, qua những đèo dốc và rừng hoang và bị chia cắt thành nhiều đoạn ngắn gây nhiều khó khăn khi di chuyển, vận tải

Xuất phát từ vị trí quan trọng của Lạng Sơn và kinh đô nước ta lúc bấy giờ cũng như tầm quan trọng của việc đi lại cai quản các địa phương vùng biên giới, tiến quân chặn đánh các đợt tấn công của phong kiến phương Bắc và giữ mối quan hệ bang giao với Trung Quốc, vua Lý Thái Tổ đã cho đắp đất mở tuyến đường từ Thăng Long lên biên giới Việt – Trung Theo sách Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng,“vua Lý Thái Tổ cho đắp xong con đường lộ từ Thăng Long đến biên giới Việt - Trung Năm 1019 thì đắp xong đoạn cuối từ

ải Chi Lăng tới trấn Nam Quan (sau này là Mục Nam Quan và hiện nay là cửa khẩu quốc

tế Hữu Nghị” [1, tr.271-272] Như vậy, thời

Lý Thái Tổ, năm 1019, đã đắp hoàn thiện đoạn đường biên giới Việt - Trung và tuyến đường Thăng Long - Lạng Sơn chính thức ra đời Đến thời Lý Thái Tông (1028 - 1054) đã được mở rộng thành đường quan lộ nhưng vẫn là đường đất và bị cắt đoạn với sông suối phải qua bằng thuyền bè

Tuyến đường thời này được chia ra từng cung, có các nhà trạm và các ụ đất cắm biển

gỗ để chỉ phương hướng Mỗi cung thuộc quyền cai trị hành chính của một giới chức do triều đình bổ nhiệm, nắm quyền cai trị hành chính, có trách nhiệm tu bổ hệ thống quan lộ nằm trong cung của mình Các nhà trạm đặt cách nhau khoảng 15-20km, đứng đầu mỗi trạm là một trạm trưởng chỉ huy một số phu trạm chạy công văn, giấy tờ (công văn được đựng trong ống tre, được chuyển đi bằng chạy

bộ, ngựa, thuyền)

Tới thời nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lê sơ, nhà Mạc, tuyến đường tiếp tục được sử dụng và cải tạo, tuy nhiên, về cơ bản hiện trạng tuyến đường giống như thời nhà Lý Thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh cho đắp đường Thiên Lý, trong đó có

Trang 3

đoạn Hà Nội - Lạng Sơn đủ rộng và chắc

chắn để voi, ngựa có thể đi được

Từ khi hình thành (1019) đến trước năm 1802,

Hà Nội – Lạng Sơn là tuyến đường đi lại,

thông thương của nhân dân giữa các địa

phương và cả với bên kia biên giới Đối với

triều đình, tuyến đường là để đi thị sát; vận

chuyển công văn, giấy tờ, thông tin đến các địa

phương Riêng đối với Lạng Sơn, có thể nói

đây là con đường duy nhất Tuyến đường cũng

là lối di chuyển của quân lính trong các cuộc

kháng chiến chống phong kiến phương Bắc

xâm lược Trong lịch sử trước thời nhà Nguyễn

đã có rất nhiều cuộc kháng chiến chống quân

Phương Bắc đi qua tuyến đường Hà Nội -

Lạng Sơn Ví như cuộc kháng chiến chống

quân Tống trên sông Như Nguyệt, trận Ải Chi

Lăng trong kháng chiến chống quân Minh,

kháng chiến chống quân Thanh của vua Quang

Trung… Đặc biệt, đây là tuyến đường chủ yếu

triều đình sử dụng để thông thương và thực

hiện các hoạt động bang giao (đi sứ và đón tiếp

các đoàn sứ Trung Quốc) Theo tấm bản đồ

“Từ Trung Hoa đến An Nam” trong

cuốn Histoire des Relations de la Chine avec

l’Annam - Vietnam du XVIau XIXsiècle (Lịch

sử quan hệ giữa Trung Hoa với Việt Nam từ

thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) của G Devéria,

xuất bản năm 1880 ở Paris, từ thế kỷ XV, việc

đi lại cũng như thông thương giữa Trung Hoa

với Việt Nam (và ngược lại) thông qua đường

từ Quảng Tây - Lạng Sơn (đường bộ) Trong

đó, từ Quảng Tây qua Lạng Sơn đến Đông

Kinh (Hà Nội ngày nay) có 3 con đường đi qua

cửa ải Nam Quan, ải Bình Nhĩ và ải Biện

Cường nhưng đều qua phủ Lạng Sơn theo

đường quan lộ về Đông Kinh [2]

Về phương tiện đi lại, vận tải: Nhân dân, quân

lính chủ yếu là đi bộ, còn quan lại triều đình

sử dụng phương tiện như võng, cáng, kiệu

hay cưỡi ngựa Phương tiện vận chuyển hàng

hóa có xe do trâu, bò, ngựa kéo (xe quyệt, xe

cút kít, xe một bánh, xe hai bánh)

Dưới thời Nguyễn

Sau khi vua Gia Long thống nhất nước nhà

(1802), ông thấy đường sá giao thông là vấn

đề quan trọng đối với việc chính trị và quân

sự nên đã sai quan trấn nhậm các doanh trấn

phải “đo đạc đường quan và các đường thủy

bộ” Vua Gia Long cho lệnh sửa lại con đường

quan lộ, định rằng “bề rộng phải là 3 trượng và phân chia con đường ấy ra từng cung một, cứ cách khoảng 15 cây số lại đặt trạm để chuyển

đệ công văn cùng vận tải đồ đạc của các quan chức bằng kiệu, bằng cáng, bằng ngựa Tại những trạm này, khách bộ hành có thể nghỉ ngơi, ăn uống và thuê phu vận tải cung cấp bởi các xã thôn lân cận” [3, tr.201] Mỗi dịch trạm có phu trạm và ngựa để kịp truyền công văn và khiêng cáng kiệu hay đồ đạc các quan Ông cho chăng dây và mở đường thẳng, gặp ngòi suối thì bắc cầu, chỗ bùn lầy xếp xây đắp đất Bên phải đường cái quan gặp chỗ nào cong thì giăng dây để uốn thẳng lại, cầu cống thuyền bến đều luôn được gia tăng tu bổ, đường rộng suốt phẳng như đá mài

Thời kỳ này, người ta đắp đường ở giữa cao lên và đào những con mương dẫn nước ở hai bên hoặc một bên đường Do đường đắp bằng đất nên khi mưa lũ hay bị bùn lầy, sạt lở Để gia cố và làm vững chắc cho đường, triều đình cho rải ít đá dăm và sỏi, gạch vụn, rồi đầm vào mặt đường, hai bên đường trồng thêm cây để chống sói mòn do mưa lũ, giảm

sự sụt lở của đất đá Những tuyến giao thông

và đoạn đường đê chống lũ lụt quan trọng, thường được quan tâm hơn, có quan hộ đê phụ trách riêng, luôn huy động dân công đắp

đê bằng công quỹ từ triều đình và đóng góp của địa phương

Đầu năm 1810, vua Gia Long sai Giám thành Nguyễn Văn Học lo việc sửa cầu cống đường

sá ở các địa phương Công việc gồm có "đo xem thế đất, lấy dân sửa đắp, cấp cho (dân) lương ăn hàng ngày" [4, tr.191] Lúc bấy giờ, con đường cũng được chia thành nhiều cung, mỗi cung trung bình dài khoảng 25 - 30 dặm (15 - 20km) Để có chỗ canh phòng, vận chuyển công văn giấy tờ và làm nơi đón đưa quan lại trú đêm trên đường; Gia Long cho dựng ở giữa hai cung một nhà trạm gồm ba gian, hai mái bằng gạch ngói hay cây lá, theo cùng một kiểu do bộ Công quy định, có hào

và tường bao bọc chung quanh, lại có chòi gác bốn phía Trên cửa ra vào có treo biển khắc tên trạm Ở mỗi trạm đều có nhiều phu trạm (khoảng 50 người) và ngựa (khoảng 3 con) để làm nhiệm vụ chuyển tải công văn giấy tờ, khiêng cáng và đồ dùng của quan lại qua đường Quản lý và điều hành sự vụ các

Trang 4

dịch trạm trên đường Thiên lý là chức năng

của ty Bưu chính, còn việc đưa lệnh của triều

đình và thu nhận báo cáo của các địa phương

là nhiệm vụ của ty Thông chính sứ Người

của hai cơ quan này phải túc trực ngày đêm

để điều hành công việc được thông suốt

Năm 1832, tiếp tục sự nghiệp của vua cha,

vua Minh Mạng dụ cho Bộ Công: “…Đường

cái quan có nhiều chỗ núi cao, lính trạm leo

trèo, nhân dân đi lại, có nhiều khó khăn trở

ngại Vậy truyền lệnh cho các quan địa

phương xem xét địa phận hạt mình, chỗ nào

có đá lớn ngăn trở, thì đốt cho nát phá bỏ đi,

cốt rộng từ 4 - 5 thước trở lên, đủ đi lại được;

chỗ nào vì nước mưa lụt chảy xói, lâu ngày

thành trũng sâu, thì đá lấp đầy, hoặc xây

thành bậc, cho được bằng phẳng, rồi ủy cho

phủ huyện thuê dân làm, trả công ưu hậu

bằng tiền và gạo, rộng cho thời hạn, cốt được

thành công để lợi ích lâu dài” [4, tr.191]

“Năm 1840, vua Minh Mạng cho đắp các

đường quan báo từ các nơi biên giới về, nhằm

đảm bảo việc truyền thông tin khi có biến

động” [1, tr.274]

Như vậy, thời nhà Nguyễn, tuyến đường Hà

Nội - Lạng Sơn được cải tạo, mở rộng và

hoàn thiện hơn với hệ thống cầu bắc qua các

con sông, suối lớn Triều đình đã quy định

trách nhiệm làm đường cho bộ Công lo việc

xây dựng và duy trì các nhà công, đường sá,

cầu cống, kênh mương và đê điều Đôi khi bộ

Lễ cũng được giao nhiệm vụ hỗ trợ bộ Công

trong việc giao thông Ví như dưới thời vua

Tự Đức: “Giao nhiệm vụ cho bộ Lễ, bộ Công

bàn về việc xây dựng, sửa sang đường sá, cầu

cống, trạm nghỉ, cách trưng bày trong các

trạm nghỉ trên con đường suốt từ Trị Thiên

đến Lạng Sơn để chuẩn bị đón sứ đoàn nhà

Thanh sang dự lễ Bang Giao” [5, tr.22]

Thời kì này các hoạt động và phương tiện đi

lại, vận chuyển trên tuyến đường vẫn như thời

trước nhưng thuận lợi hơn Hoạt động diễn ra

trên tuyến đường nổi bật của thời kỳ này là

hoạt động ngoại giao (đi sứ) và buôn bán

Thời nhà Nguyễn đã có nhiều đoàn sứ bộ

sang Trung Hoa với mục đích cầu phong,

cống tuế, tạ ân, chúc mừng, mua hàng hóa,

và ngược lại, Trung Hoa cũng đã cử nhiều

đoàn sứ bộ sang nước ta Những hoạt động

bang giao đó đều được tiến hành thuận lợi

thông qua tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, đường đi sứ từ Việt Nam sang Trung Hoa bắt đầu từ Kinh đô Huế, theo đường bộ ra Hà Nội, lên Bắc Ninh, đến Lạng Sơn và qua ải Nam Quan vào đất Quảng Tây rồi vào sâu trong nội địa Trung nguyên… Còn sứ nhà Thanh sang Việt Nam thì đi theo đường bộ qua ải Nam quan đến Bắc Thành (Hà Nội), rồi theo đường thủy để vào Kinh đô Huế… Khi

đi ra cũng theo lộ trình ấy, hoặc đôi khi đi bộ

ra tới Bắc Ninh rồi theo đường thủy trở về Trung Quốc [6]

Vào đầu triều Gia Long, triều đình định lệ sai

sứ sang nhà Thanh, cứ bốn năm sai sứ đi một lần Việc mua bán hàng hóa của các sứ bộ ngoại giao thời Nguyễn ở Trung Hoa như sau: Theo Châu bản Triều Nguyễn (tập 15, tờ 212-213): “Ngày 28 tháng 3 năm Minh Mạng thứ

7 (1826), Hiệp tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận tấu trình về việc ngày 18 tháng 3, hai sứ bộ sang trở về đến Thăng Long 2 chánh sứ Hoàng Kim Hoán và Hoàng Văn Quyền theo trạm về trước, 4 phó sứ còn lưu lại Thăng Long để kiểm soát đồ vật Hộ tào Nguyễn Công Thiệp đã cùng các phó sứ kiểm kê đồ vật mua được; chọn các loại hàng hóa nhẹ như gấm, đoạn… gồm 14 thùng, phân thành 12 gánh chuyển theo đường bộ về Kinh, từ ngày 25 tháng 3 Còn hàng nặng gồm 16 thùng thì niêm phong, giao Cục Tạo tác giữ gìn, cùng với 53 hòm tư trang của hai

sứ bộ và tùy tùng, chờ để chuyển về Kinh bằng đường biển” [6]

Từ sau năm 1884 Với Hiệp ước Hác-măng (1884), triều đình nhà Nguyễn đầu hàng và thừa nhận nền bảo

hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam Từ đó, Pháp bắt đầu công cuộc bình định nước ta, tiến tới đặt ách cai trị và khai thác thuộc địa

từ năm 1897 Để thực hiện điều đó, Pháp chú trọng phát triển hệ thống giao thông ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng Bên cạnh hệ thống giao thông đường sắt và đường thủy, đường bộ được chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế, khai thác tài nguyên và việc phục vụ các loại xe tiếp tế lương thực, vũ khí cho quân đội, trại lính nằm phân tán trên toàn lãnh thổ; cơ động di chuyển quân đối phó với các cuộc nổi dậy của người Việt Nam, kiểm

Trang 5

soát an ninh vùng biên giới Bởi vậy, Pháp đã

kế thừa tuyến đường Hà Nội – Lạng Sơn có

từ các triều đại phong kiến Việt Nam để mở

rộng, cải tạo, nâng cấp phục vụ cho công cuộc

cai trị và khai thác thuộc địa của mình

Vị trí và vai trò của tuyến đường

Tuyến đường Hà Nội – Lạng Sơn nối kinh đô

Thăng Long với Lạng Sơn, là con đường quan

lộ đầu tiên vươn tới vùng biên giới Việt -

Trung ở nước ta, là đoạn cốt yếu trong trục

đường Thiên lý của đất nước Trước thế kỉ

XX, tuyến đường được các triều đại phong

kiến quan tâm, trải qua nhiều giai đoạn hình

thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc và

luôn giữ vị trí huyết mạch, có vai trò quan

trọng đối với đất nước

Về chính trị: Tuyến đường là điều kiện thuận

lợi để chính quyền phong kiến đi lại, vận

chuyển công văn giấy tờ, di chuyển binh lính,

vận chuyển lương thực và đặt các chốt đóng

quân sự, cai quản các địa phương và vươn tới

kiểm soát biên giới, từ đó khẳng định chủ

quyền của dân tộc Tuyến đường chạy qua các

địa phương có vị trí địa chính trị chiến lược

quan trọng đối với miền Bắc nói riêng và cả

nước nói chung nên đã chứng kiến nhiều cuộc

xâm lược của quân bộ binh phong kiến phương

Bắc và sau đó là cuộc kháng chiến của triều

đình, nhân dân Vì thế, không thể phủ nhận vai

trò của tuyến đường trong lĩnh vực quân sự,

đảm bảo đọc lập tự chủ, trật tự quốc phòng - an

ninh Trong lịch sử, tuyến đường cũng được

xem là huyết mạch đưa đón các đoàn bộ sứ

của triều đình ta sang nước Trung Quốc và

ngược lại, với nhiều mục đích như cầu phong,

tạ ân, cáo thụ, chúc mừng, cống nạp Hà Nội

– Lạng Sơn là đường quan lộ duy nhất ở Bắc

Thành cho tới trước năm 1831 nhưng sau đó,

đây vẫn là con đường chủ đạo để đi lại giữa

Việt Nam và Trung Quốc Nó có vị trí, vai trò

không nhỏ trong hoạt động ngoại giao, đảm

bảng mối quan hệ bang giao Việt Nam – Trung

Quốc để giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc,

phạm vi lãnh thổ

Về kinh tế: Trước hết, tuyến đường đã thúc

đẩy việc đi lại trao đổi, buôn bán của nhân dân

và triều đình, hình thành hệ thống chợ trên dọc

tuyến đường, góp phần phát triển nội thương

Đặc biệt, tuyến đường vươn tới biên giới đã

hình thành các cửa ải thông thương với bên kia

biên giới, thúc đẩy việc mua bán giữa nhân dân hai nước ở dọc biên và giữa các triều đình Việt Nam với triều đình phong kiến phương Bắc, xa hơn là với thế giới Có thể nói, tuyến đường có vị trí địa kinh tế thuận lợi bởi có Hà Nội là Kinh đô Thăng Long - trung tâm chính trị - kinh tế, đã có sự phát triển lâu đời của kinh tế hàng hóa nổi tiếng với 36 phố phường; có Bắc Ninh với rất nhiều các làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ lâu đời; có Lạng Sơn – cửa ngõ buôn bán nước ta với Trung Quốc và châu Âu với nhiều phố, chợ, bến, nổi bật là phố Kỳ Lừa, Đồng Đăng, An Thịnh

Về văn hóa – xã hội: Việc phát triển kinh tế buôn bán đã hình thành các phố chợ, thị trấn, thị tứ, thay đổi bộ mặt nông thôn ở các địa phương; hình thành các đơn vị hành chính mới do giao thông thuận lợi nhân dân tụ họp buôn bán rồi sinh sống lâu dài tại đó Giao thông đi lại thuận lợi cũng tạo điều kiện và thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa các tộc người, nhân dân các địa phương Bởi trước khi tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn được xây dựng, việc lưu thông đi lại được tiến hành chủ yếu bằng đường thủy, đường bộ chỉ có đường tiểu quan, việc đi lại chủ yếu chỉ bó hẹp trong phạm vi làng xóm, nông dân chỉ loanh quanh trong làng hay trong lãnh địa của mình, xa lắm là đi sang làng bên Việc tăng cường tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa các địa phương và với bên kia biên giới đã có tác động làm tăng tính dân tộc, bản địa của văn hóa nước ta; đồng thời, sự tiếp thu có chọn lọc văn hóa bên ngoài và hòa trộn văn hóa các tộc người đã làm tăng tính phong phú, đa dạng trong nền văn hóa dân tộc

Với những giá trị trên, chúng ta có thể khẳng định tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn trước thế

kỉ XX là huyết mạch kinh tế, ngoại giao và hệ thần kinh quản trị quốc gia Và thực tế lịch sử dân tộc đã chứng minh sang thế kỉ XX rồi đến thế kỉ XXI ngày nay, tuyến đường vẫn có vị trí

và vai trò quan trọng Vị trí và vai trò quan trọng của tuyến đường trong lịch sử dân tộc cho phép chúng ta khẳng định nhãn quan và chính sách đúng đắn, nhạy bén của các triều đại phong kiến Việt Nam trong việc xây dựng

và khai thác tuyến đường nói riêng và phát triển giao thông vận tải nói chung Từ những năm cuối thế kỉ XIX và sang đầu thế kỉ XX,

Trang 6

tuyến đường được Pháp khai thác, nâng cấp

phục vụ việc cai trị và khai thác thuộc địa Tuy

nhiên, người Pháp cũng phải dựa trên tuyến

đường đã hình thành và hoàn thiện từ các triều

đại phong kiến Việt Nam để sửa chữa và sử

dụng Tuyến đường cũng là cơ sở quan trọng

để người Pháp tiến hành xây dựng đường sắt

Hà Nội – Lạng Sơn

Ngoài ra, khi so với hiện trạng các tuyến

đường giao thông đường bộ hiện nay, chúng

ta thấy giá trị, tính ưu việt của tuyến đường

Hà Nội - Lạng Sơn xưa trong việc đặt các nhà

trạm dừng chân để người đi lại nghỉ ngơi,

kiểm tra phương tiện (thay phương tiện) đảm

bảo an toàn, hiệu quả khi di chuyển, vận tải

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tuyến Hà Nội - Lạng Sơn trước thế kỉ XX là

tuyến đường huyết mạch vươn tới biên giới

Việt - Trung, là đoạn đường đầu tiên của

đường Thiên Lý Bắc Nam (sau được Pháp

nâng cấp thuộc đường thuộc địa số 1, nay là

đườngquốc lộ 1A), là “xương sống” trong

mạng lưới giao thông của nước ta Tuyến

đường bắt đầu từ Thăng Long và kết thúc tại

trấn Nam Quan (Lạng Sơn) được xây dựng từ

thời nhà Lý, hoàn thành vào năm 1019 Từ

năm 1019 cho tới trước thế kỉ XX, tuyến

đường nhiều lần được sửa chữa, nâng cấp bởi các triều đại phong kiến Việt Nam Tuy tuyến đường phần lớn vẫn là đường đất, khó khăn đi lại trong mùa mưa bão và phương tiện vận tải thì thô sơ lạc hậu nhưng đã cơ bản đảm bảo cho việc đi lại của triều đình và nhân dân trong các hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và sinh hoạt văn hóa – xã hội Tuyến đường có vị trí địa chính trị, địa kinh tế

và vai trò quan trọng đối với đất nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (1999), Địa chí Lạng Sơn, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội

2 Trần Đức Anh Sơn (2016), “Hoạt động thương mại của các sứ bộ Việt Nam ở Trung Hoa thời Thanh”, Câu chuyện lịch sử, https://anhsontranduc wordpress com, truy cập ngày 8/3/2018

3 Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Nxb Văn học, tr.201

4 Quốc sử quán triều Nguyễn (1964), Đại Nam thực lục (chính biên), tập 9, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.191

5 Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (1979), Châu bản triều Tự Đức 1848 - 1883, Ban Văn học chọn tuyển và tóm lược, Lưu hành nội bộ

6 Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch của Viện Sử học, Tập 8, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.315-316; 366-368; 305-308

SUMMARY

HANOI - LANG SON ROUTE BEFORE THE 20TH CENTURY

Nguyen Thi Hoa*, Dang Thi Lan TNU – University of Education

Hanoi - Lang Son is the first road of Thien Ly, now Highway 1A The route was built from the Ly Dynasty (1010 - 1225), originating from Thang Long, Bac Ninh and Bac Giang to the Vietnam - China border in Lang Son, ending in Nam Quan (now Huu Nghi international border gate) In 1019, the end of the route was completed, then the Ly Dynasty expanded the route into the road By the Tran Dynasty, the

Ho Dynasty, Le Dynasty, the Mac Dynasty, the route continues to be used, renovated However, basically the current state of the route is similar to the Ly Dynasty, which is the narrow stretch of land narrow by rivers and streams, difficult to travel when the rain or flood By the Nguyen Dynasty (1802 - 1945), the route was expanded, straightened and bridged across rivers and streams, earthed on wallows In the late nineteenth century, in order to serve the colonial rule and exploitation of Vietnam, the French colonialists repaired and expanded the route Before the 20th century, the Hanoi-Lang Son route was considered the national lifeblood for travel, trade, diplomacy with China The route has an important role in the political, military, economic, cultural and social aspects of the country, the dynasties and the people This affirmed the rightness and sensitivity of the feudal dynasties of Vietnam in paying attention to traffic development, especially the opening and renovation and upgrading of the Hanoi - Lang Son route

Keywords: Route; Ha Noi; Lang Son; Nam Quan; the 20 th century

Ngày nhận bài: 31/7/2018; Ngày phản biện: 29/8/2018; Ngày duyệt đăng: 28/9/2018

* Tel: 0973748369, Email: hoakhoasu@dhsptn.edu.vn

Ngày đăng: 14/01/2021, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w