Để góp phần vào công tác kiểm tra phát hiện các chất cấm trộn lẫn trong thuốc đông dược, chúng tôi tiến hành đề tài xây dựng phương pháp định lượng diclofenac natri lẫn trong chế phẩm [r]
Trang 1NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH THUỐC DICLOFENAC NATRI LẪN
TRONG CHẾ PHẨM ĐÔNG DƯỢC ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐIỀU TRỊ
HOẶC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH VỀ XƯƠNG KHỚP
BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỎNG HIỆU NĂNG CAO
Bùi Thị Luyến * , Nguyễn Thị Quỳnh, Bùi Thị Thanh Châm, Đỗ Thị Uyên
Trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Để góp phần vào công tác kiểm tra phát hiện các chất cấm trộn lẫn trong thuốc đông dược, chúng tôi tiến hành đề tài xây dựng phương pháp định lượng diclofenac natri lẫn trong chế phẩm đông dược được sử dụng điều trị hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với detector UV-vis Sau khi xử lý mẫu diclofenac natri được tiến hành định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với cột pha đảo (C8, 150 mm x 4,6 mm, 5 µm), pha động methanol/ đệm phosphat pH 2,5 (70:30 v/v) tốc độ dòng chảy là 1,0 ml/ phút, bước sóng phát hiện 275 nm Phương pháp phân tích có độ đặc hiệu; độ phù hợp của hệ thống với độ lệch chuẩn tương đối (RSD%) của thời gian lưu và diện tích pic trong các phép thử là 0,0844 và 0,519; khoảng tuyến tính được xây dựng nồng độ diclofenac natri trong khoảng 20-60 µg/ml với
độ tuyến tính r ≈1; giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng của phương pháp là 5 µg/ml và 16,5 µg/ml; độ thu hồi là 98,26% và độ lặp lại với RSD <2% Như vậy phương pháp đã xây dựng phù hợp đề xác định diclofenac natri trong dược liệu
Từ khóa: định lượng, chế phẩm đông dược, diclofenac, sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Tại Việt Nam: Nhằm đảm bảo chất lượng
dược liệu, thuốc y học cổ truyền, thuốc từ
dược liệu sử dụng trong phòng và điều trị
bệnh, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản chỉ
đạo tăng cường công tác quản lý chất lượng
dược liệu, thuốc y học cổ truyền, thuốc từ
dược liệu, đặc biệt Chỉ thị số 03/CT-BYT
ngày 24/02/2012 về việc tăng cường công tác
quản lý chất lượng dược liệu thuốc y học cổ
truyền, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở
khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền với
nhiều giải pháp đồng bộ [4]
Các tân dược được trộn lẫn gồm nhiều nhóm
hợp chất khác nhau, trong đó các nhóm được
sử dụng nhiều là nhóm thuốc glucocorticoid,
thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm
béo, thuốc hạ huyết áp [3], [7], [9]… Những
tác hại do thuốc đông dược có trộn tân dược
gây ra có thể là: Loét dạ dày, gây xốp xương,
phù, tăng huyết áp, loét đường tiêu hóa, xuất
huyết, dị ứng Hiện nay đã có một số nghiên
*
Tel: 0985 671586
cứu phát hiện các thuốc tân dược trộn lẫn trong thuốc đông dược, thực phẩm chức năng được triển khai nhu sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng hiệu năng cao, sắc ký khối phổ… Để góp phần vào công tác kiểm tra phát hiện các chất cấm trộn lẫn trong thuốc đông dược, chúng tôi sử dụng phương pháp HPLC với detector
UV - vis để định lượng diclofenac natri trộn lẫn trong chế phẩm đông dược được sử dụng điều trị hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp lưu hành trên thị trường
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguyên vật liệu, hóa chất và thiết bị
Nguyên liệu: Chế phẩm đông dược dạng bào
chế viên nén, viên nang cứng được sử dụng điều trị hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp, giảm đau đang lưu hành trên thị trường
Dung môi hóa chất: Đạt độ tinh khiết phân
tích (PA) và tinh khiết sắc ký (dùng cho HPLC); chuẩn diclofenac natri của Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, SKS0517047.04, hàm lượng 99,51%
Phương pháp nghiên cứu
Trang 2Khảo sát điều kiện xử lý mẫu: Tùy bản chất
của chất cần phân tích mà lựa chọn dung môi
chiết cho phù hợp Thông thường lựa chọn
dung môi chiết là methanol, ethanol,
dicloromethan, nước… có thể sử dụng hai
dung môi khác nhau để hiệu suất chiết tốt hơn
Theo tài liệu tham khảo [8] chúng tôi đưa ra
quy trình xử lý mẫu thuốc tân dược chiết từ
thuốc đông dược như sau:
Cân chính xác một lượng khoảng 0,5 g vào
ống ly tâm Thêm 10 ml dung môi chiết là các
dung môi hoặc hệ dung môi chiết Lắc xoáy
10 phút, siêu âm 20 phút ở nhiệt độ phòng, ly
tâm 6000 vòng/ phút trong 20 phút, gạn lấy
dịch trong cô cách thủy hoặc pha loãng nếu
(cần thiết), lọc qua màng lọc 0,45 µm Tiến
hành sắc kí
Phương pháp định lượng:
* Xây dựng phương pháp định lượng bằng
HPLC: Khảo sát pha động, tốc độ dòng, thể
tích tiêm
* Thẩm định phương pháp đã xây dựng: Về
độ đặc hiệu, tính thích hợp của hệ thống, độ
thu hồi và lặp lại, giới hạn phát hiện, giới hạn
định lượng, độ tuyến tính
* Ứng dụng phân tích mẫu chế phẩm đông
dược trên thị trường: Phân tích 5-10 mẫu
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Lựa chọn điều kiện sắc ký
Chọn bước sóng phát hiện
Để xác định bước sóng thích hợp phát hiện
diclofenac natri, chúng tôi tiến hành quét phổ
UV của dung dịch diclofenac natri 60 µg/ml
trên máy quang phổ UV-Vis Kết quả cực đại
hấp thụ của dung dịch này là 275 nm
Pha động
- Dung môi:
+ Methanol: Nước = 70: 30 : pic của diclofenac natri được rửa giải sớm, thời gian lưu khoảng 6 Tuy nhiên, pic không cân xứng, kết quả giữa các lần tiêm mẫu, sắc ký đồ không ổn định, có thể chưa rửa giải được hết
ở lần tiêm trước
+ Methanol: Đệm phosphat pH 2,5 = 50: 50: Sắc ký đồ xuất hiện nhiều pic nhiễu, khả năng tách không rõ ràng
+ Methanol: Đệm phosphat pH 2,5 = 70:30 thời gian lưu không quá dài, khoảng 9, pic cân đối, chân pic gọn, khả năng tách rõ ràng Như vậy, tỷ lệ pha động tốt nhất là methanol: đệm phosphat 2,5 = 70 : 30
- Tốc độ dòng: Khảo sát lần lượt ở tốc độ 0,5
ml/ phút; 1,0 ml/phút; 1,5 ml/phút thì thấy: Tốc độ dòng 1,5 ml/phút áp suất cột quá cao; 0,5 ml/phút thời gian lưu của chất phân tích quá dài Với 1ml/phút thời gian lưu của chất phân tích ngắn hơn và áp suất cột không quá cao
- Thể tích tiêm mẫu: Tiêm 20 µl cho pic chất
phân tích gọn, đẹp hơn so với khi tiêm 15 µl
Từ các khảo sát trên, chúng tôi xây dựng quy trình sắc kí có khả năng phân tích tốt diclofenac Na trong nguyên liệu như sau: Cột Nucleosil C8 (250 × 0,6 nm, 5 µm); pha động : methanol và đệm phosphat PH 2,5 (70:30); tốc độ dòng: 1,0 ml/phút; thể tích tiêm: 20 µl; Detector UV: Bước sóng đo ở 275 nm; nhiệt
độ phân tích: Nhiệt độ phòng; Nồng độ dung dịch chuẩn 60 µg/ml
Lựa chọn điều kiện xử lý mẫu
Dung môi chiết: Tiến hành chiết chất phân
tích trong mẫu chuẩn bằng các dung môi chiết, tiến hành 2 lần Phân tích theo quy trình
đã nêu và phân tích bằng phương pháp HPLC Tính tỷ lệ đáp ứng phân tích (diện tích pic) và khối lượng mẫu thử (A/m) Kết quả tính trung bình như sau:
Bảng 1 Kết quả khảo sát dung môi chiết diclofenac trong mẫu chế phẩm đông dược
Khối lượng (m) Dung môi chiết Thời gian lưu Diện tích pic A (mAU.min) Tỷ số A/m
0,5002 Acetonitril : H2O = 1:1 8,7992 97,346 194,614
Trang 3Hình 1 Kết quả khảo sát lựa chọn dung môi chiết
Hình 2 Sắc kí đồ đánh giá độ chọn lọc của diclofenac natri
Như vậy, kết quả khảo sát ở bảng và hình cho thấy: Khả năng chiết (A/m) của diclofenac natri bằng dung môi ethanol là cao nhất Do đó lựa chọn dung môi chiết là ethanol Tuy nhiên khi tiến hành sắc ký bằng dung môi ethanol thì pic không cân xứng Nên sau khi chiết bằng ethanol, tiến hành cô lấy cắn và pha loãng bằng methanol đến nồng độ mong muốn
Kiểm tra lượng natri diclofenac còn lại trong cắn sau 2 lần chiết
Lấy phần cắn còn lại ở trên, thêm 10 ml ethanol Lắc xoáy 5 phút, siêu âm 20 phút ở nhiệt độ phòng, ly tâm 6000 vòng/ phút trong
20 phút, gạn lấy dịch trong cô cách thủy hoặc pha loãng (nếu cần thiết), lọc qua màng lọc 0,45 µm Tiến hành sắc kí
Kết quả: Trên hệ thống sắc ký đồ không xuất hiện pic của diclofenac natri Do đó chiết hai
lần với ethanol 96% đảm bảo chiết được hết diclofenac natri trong mẫu cần nghiên cứu
Từ các kết quả khảo sát trên, điều kiện phân tích được lựa chọn như sau:
Cân chính xác một lượng khoảng 0,5g vào ống ly tâm Thêm 10 ml dung môi chiết là các dung môi hoặc hệ dung môi chiết Lắc xoáy
10 phút, siêu âm 20 phút ở nhiệt độ phòng, ly tâm 6000 vòng/ phút trong 20 phút, gạn lấy dịch trong Tiến hành 2 lần, gộp dịch chiết và
cô lấy cắn Hòa cắn trong 1 ml methanol, pha loãng dung dịch 10 lần, lọc qua màng lọc 0,45
µm Tiến hành sắc kí
Thẩm định quy trình định lượng
Độ chọn lọc/ đặc hiệu
Tiến hành phân tích mẫu trắng, mẫu dung dịch chuẩn và mẫu trắng thêm chuẩn theo các điều kiện HPLC đã lựa chọn được Kết quả phải đạt như sau:
Dung môi A/m
Diclofenac natri
Mẫu dd chuẩn
Mẫu trắng (nền mẫu)
Trang 4- Trên sắc đồ mẫu trắng không xuất hiện các
pic có cùng thời gian lưu với pic của các chất
phân tích trên sắc đồ mẫu dung dịch chuẩn và
mẫu trắng thêm chuẩn
- Trên sắc đồ mẫu trắng thêm chuẩn có các pic có thời gian lưu tương tự như trên sắc đồ của dung dịch chuẩn
Độ phù hợp của hệ thống
Phân tích lặp lại 7 lần dung dịch chuẩn phân tích trên hệ thống HPLC với các điều kiện đã nêu ở
trên Kết quả thu được như sau:
Bảng 2 Kết quả đánh giá độ phù hợp của hệ thống HPLC
STT Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5 Lần 6 Lần 7 Trung
bình RSD
Thời gian
lưu
(phút)
8,7978 8,7929 8,7898 8,8001 8,8080 8,8104 8,7999 8,7998 0,0844
Diện tích
(mAu.t) 49,49 49,72 49,86 50,17 50,21 49,77 49,72 49,85 0,519
Nhận xét kết quả khảo sát thích hợp của hệ thống cho thấy:
Độ lệch chuẩn tương đối (RSD%) của thời gian lưu và diện tích pic trong các phép thử là 0,0844
và 0,519 đều nhỏ hơn 2% Như vậy, Hệ thống HPLC mà chúng tôi sử dụng là thích hợp để định
lượng diclofenac natri trong dược liệu
Tuyến tính
Pha dung dịch chuẩn diclofenac natri có nồng độ 20 µg/ml – 60 µg/ml từ dung dịch gốc rồi tiến
hành phân tích trên hệ thống HPLC Xây dựng đường chuẩn thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa
nồng độ chất phân tích và diện tích pic tương ứng Từ kết quả thu được ở bảng trên chúng tôi
thiết lập mối tương quan giữa diện tích pic thu được trên sắc ký đồ và nồng độ dung dịch (tính
theo lượng diclofenac Na đưa vào)
Bảng 3 Kết quả đánh giá độ tuyến tính của diclofenac natri
Nồng độ
Phương trình hồi quy:
y = 2,5465x- 2,3467
hệ số tương quan: r = 0,9997 Diện tích
(mAu.t) 49,5918 73,207 98,4076 125,672 150,683
Hình 3 Đường biểu diễn mối tương quan giữa nồng độ và diện tích pic của diclofenac Na
Phương trình hồi quy biểu thị mối tương quan này là: y = 2,5465x – 2,3467 với hệ số tương quan
R2 = 0,9995 Điều này cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa diện tích pic với nồng độ của 2
chất phân tích
Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ)
Diện tích
pic
Nồng độ (µg/ml)
Mẫu trắng (nền mẫu)
Trang 5Chúng tôi tiến hành xác định LOD như sau: Pha dung dịch chuẩn diclofenac natri có nồng độ giảm dần cho đến khi S/N = 2-3 Từ kết quả LOD tính LOQ theo công thức: LOQ= LOD x 3,3 Kết quả thực nghiệm thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4 Kết quả phân tích giới hạn phát hiện của diclofennac natri
Từ kết quả ở bảng cho thấy: LOD của diclofenac natri khoảng 5 µg/ml Từ kết quả trên tính LOQ theo công thức: LOQ khoảng 16,5 µg/ml
Độ thu hồi và độ lặp lại
Độ thu hồi và lặp lại của phương pháp tiến hành trên nền mẫu chuẩn Chuẩn bị dung dịch chuẩn
có nồng độ 60 µg/ml Thêm vào nền mẫu 60 µg/ml, tiến hành theo quy trình đã nêu Làm 6 mẫu song song Lượng chuẩn tìm lại tính theo đường chuẩn Kết quả thực nghiệm như sau:
Bảng 5 Kết quả phân tích độ thu hồi và độ lặp lại của diclofenac natri
STT Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5 Lần 6 Trung bình
SD = 1,174
RSD
=1,99%
Diện tích pic
(mAU.min) 149,44 147,14 149,59 147,67 142,26 150,57 58,955
Lượng chuẩn thu hồi 59,61 58,70 59,67 58,91 56,79 60,05
Theo AOAC, tại mức hàm lượng chất trong khoảng độ thu hồi của phương pháp phải đạt và độ lặp lại của phương pháp RSD=1,99% < 2% Như vậy độ thu hồi và lặp lại của diclofenac natri nằm trong khoảng giới hạn cho phép, đạt yêu cầu của AOAC
Ứng dụng phương pháp HPLC để phân tích mẫu chế phẩm đông dược trên thị trường
Ứng dụng phương pháp HPLC trong 7 mẫu chế phẩm đông dược trên thị trường Chuẩn bị mẫu như quy trình đã lựa chọn Tiến hành sắc ký Kết quả trong 7 mẫu trên không trộn lẫn diclofenac natri
Bảng 6 Danh mục mẫu chế phẩm đông dược trên thị trường
1 HC1 Tọa Cốt Hoàn vương Nhà thuốc đông y gia truyền Vạn Xuân Đường
2 HC2 Dưỡng Cốt Hoàn Công ty cổ phần Traphaco
3 HC3 Thống Cốt An Công ty thảo dược Difoco
4 VN1 Viên Vai Gáy Công ty cổ phần dược phẩm Quốc tế Abipha
5 VN2 Viên Xương Khớp Sen Việt Group
6 VN3 Uy Linh Phong Bảo
Thanh Đường Công ty cổ phần Bảo Thanh Đường
7 HC4 Thoái Phong Cốt Nhà thuốc Đông Y Gia truyền Ông Lang Hoán
Hình 4 Sắc ký đồ phân tích mẫu chế phẩm đông dược (VN1)
Trang 6BÀN LUẬN
Lựa chọn phương pháp phân tích
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao có
nhiều ưu điểm: Có độ đặc hiệu, kết quả chính
xác, độ nhạy cao, kết quả chính xác và đang
được ứng dụng nhiều trong phân tích thuốc
Sắc ký lỏng hiệu năng cao với nhiều detector
khác nhau cho phép phân tích nhiều hoạt chất
có cấu trúc và tính chất đa dạng Dựa vào các
đặc điểm trên chúng tôi tiến hành xây dựng
quy trình phân tích diclofenac natri và lựa chọn
phương pháp tối ưu góp phần vào việc kiểm
soát tình trạng trộn trái phép thuốc tân dược
vào thuốc đông dược và thực phẩm chức năng
Lựa chọn xử lý mẫu
Xử lý mẫu trong phân tích là bước quan trọng
ảnh hưởng đến độ chính xác của phương pháp
phân tích Chúng tôi lựa chọn 7 mẫu thuốc
đông dược trên thị trường thuộc nhóm sản
phẩm điều trị hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh về
xương khớp, giảm đau Đây là nhóm sản
phẩm có khả năng trộn lẫn các thuốc giảm
đau chống viêm không steroid Qua nghiên
cứu thực nghiệm và tham khảo các tài liệu
[6], [7] [8], chúng tôi đã xây dựng được quy
trình xử lý mẫu hiệu suất cao, đạt yêu cầu
phân tích
Thẩm định phương pháp phân tích
Kết quả thẩm định theo hướng dẫn của ICH
trên nền mẫu thuốc điều trị hoặc hỗ trợ điều
trị các bệnh về khớp, quy trình đảm bảo tính
đặc hiệu Khoảng tuyến tính được xây dựng
nồng độ diclofenac natri trong khoảng 20-60
µg/ml, kết quả cho thấy có sự tương quan
chặt chẽ giữa nồng độ hoạt chất và diện tích
pic tương ứng với hệ số tương quan xấp xỉ 1
Độ thu hồi và lặp lại có giá trị RSD < 2%
Phương pháp có độ nhạy cao với giới hạn
định lượng là 16,5 µg/ml
Về ứng dụng phương pháp xây dựng được
trong phân tích mẫu thực
Ứng dụng phương pháp HPLC trong 7 mẫu
đông dược trên thị trường, và trong 7 mẫu
kiểm tra không chứa diclofenac
KẾT LUẬN
Từ kết quả thực nghiệm thu được, chúng tôi
có kết luận sau:
- Phương pháp xử lý mẫu khá đơn giản với điều kiện không quá phức tạp nên dễ thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, không đòi hỏi trang thiết bị đặc biệt, dễ dàng triển khai áp dụng và tiết kiệm chi phí, thời gian
- Đã xây dựng và thẩm định được phương pháp định lượng diclofenac natri trộn lẫn trong chế phẩm đông dược bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao, detetor UV Kết quả thẩm định cho thấy phương pháp có độ chọn lọc đảm bảo, độ nhạy cao
- Ứng dụng phương pháp đã xây dựng tiến hành phân tích 7 mẫu chế phẩm đông dược đang lưu hành trên thị trường và trong 7 mẫu không chứa diclofenac
KHUYẾN NGHỊ Phát triển phương pháp HPLC trên các nền mẫu khác đối với chế phẩm đông dược (dạng dung dịch, nang mềm) và mở rộng đối tượng nghiên cứu trên các thuốc chống viêm giảm đau khác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Tử An (2010), Kiểm nghiệm dược phẩm,
Nxb Y học, Hà Nội
2 Bộ Y tế (2010), Dược điển Việt Nam IV, Nxb Y
học, Hà Nội
3 Phan Thanh Mậu (2011), Nghiên cứu định tính và định lượng Sildenafil trộn trái phép trong thực phẩm chức năng bằng LC-MS, HPLC, Khóa luận tốt
nghiệp Dược sỹ, Trường Đại học Dược Hà Nội
4 Viện kiểm nghiệm thuốc TW, (2013), Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc và mỹ phẩm năm 2013 và kế hoạch công tác năm 2014, Hà Nội
5 Ernst E (2002), “Adulteration of Chinesse
herbal medicines with synthetic drugs”, Journal of international medicine, 252, pp 107-113
6 Ramsay H M., Goddard W., Gill S (2003),
“Herbal creams used for atopic eczema in Birminghan, U.K Illegally contain potent
corticosteroids”, Arch Dis Child., 88,
pp.1056-1061
7 Kenichi Kumasaka, Takashi Kojima (2005),
“Screening and quantitative analysis for
Trang 7sylfonylurea-type oral antidiabetic agents in
adulterated health food using thin-layer
chromatography and high-performance liquid
chromatography”, Journal of Health Science,
51(4), pp 453-460
8 Nielsen – Kudsk F (1980)
“HPLC-determination of some antiflammatory, weak
analgestic and uricosuric drugs in human blood
plasma and its application to pharmacokinetics”, J Pharm Blomed Anal., 31, pp 504-511
9 Ning Li, Mei Cui, Lu X., Quin F (2010), “A rapid and reliable UPLC – MS/MS method for identification and quantification of fourteen synthetic and diabetic drugs in adulterated Chinese proprietary medicines and dietary supplements”,
Chromatgoraphia, 70, pp 1353-1357
SUMMARY
STUDYING THE METHOD OF QUANTIFICATION OF DICLOFENAC
SODIUM IN TRADITIONAL HERBAL MEDICINES USED FOR TREATMENT
OR SUPPORT OSTEOARTHRITIS BY HIGH PERFORMANCE LIQUID
CHROMATOGRAPHY
Bui Thi Luyen * , Nguyen Thi Quynh, Bui Thi Thanh Cham, Do Thi Uyen
TNU - University of Medicine and Pharmacy
In order to contribute to the detection of banned substances in traditional herbal medicines, we conducted a study on the method of quantification of diclofenac sodium in traditional herbal medicines which are used for treatment or support for osteoarthritis by high performance liquid chromatography (HPLC) After precipating, diclofenac sodium was eluted by HPLC using a reverse-phase column (C8, 150 mm x 4.6 mm, 5 µm), mobile phase contains methanol/ phosphat buffer (70:30 v/v, pH 2.5), at a flow rate of 1.0 ml/min, and a wavelength detection at 275 nm The methods have analytical specificity,the suitability of the system with the relative standard deviation (RSD) of the retention times and the area of the peaks in the tests was 0.0844 and 0.519, respectively A linear response was observed in the range of 20.0-60.0 µg/ mL with a linearity is approximate 1 (r ≈ 1.0) The limit of detection (LOD) and limit of quantitation (LOQ) was 5 µg/ml and 16.5 µg/ml in turn for Diclofenac Sodium The recovery rate was 98.26% and repetition rate with RSD <2% Therefor, the method was appropriately formulated to determine diclofenac sodium in herbal medicines
Key words: Dertermination, herbal medicines, diclofenac, high performance liquid
chromatography (HPLC)
Ngày nhận bài: 07/8/2018; Ngày phản biện: 06/9/2018; Ngày duyệt đăng: 31/10/2018
*
Tel: 0985 671586