1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ASIATICOSIDE TỪ CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM

5 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 408,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của nghiên cứu là khảo sát đơn yếu tố nhiệt độ sấy, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu, nồng độ dung môi ethanol, ảnh hưởng tới quá trình tách chiết asiaticoside từ vỏ cây ngũ gia bì c[r]

Trang 1

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ASIATICOSIDE

TỪ CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM

Lê Thị Nga * , Nguyễn Văn Tùng, Vũ Thị Hằng, Cao Thị Duyên,

Lê Thị Phượng, Lưu Hồng Sơn, Tạ Thị Lượng, Trần Văn Chí

Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Mục đích của nghiên cứu là khảo sát đơn yếu tố nhiệt độ sấy, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu, nồng độ dung môi ethanol, ảnh hưởng tới quá trình tách chiết asiaticoside từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim cho kết quả tương ứng: 80 o C ; 15/1 (v/w); 80% Trên cơ sở khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện chiết tách, chúng tôi nhận thấy nhiệt độ sấy, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu, nồng độ dung môi là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến quá trình chiết tách Bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm Box- Behnken đã tìm được điều kiện tối ưu quá trình tách vỏ cây ngũ gia bì chân chim ở nhiệt độ sấy 79,52°C, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu 17,51/1 (v/w), ethanol 79,42%, hàm lượng asiaticoside là 0,0545% Kết quả thực nghiệm cho kết quả có độ tương thích cao với mô hình

Từ khóa: ngũ gia bì chân chim, asiaticoside, tách chiết, tối ưu, Box- Behnken

MỞ ĐẦU*

Chân chim (Schefflera heptaphylla) là chi lớn

nhất, có thành phần loài rất đặc sắc, đa dạng;

hiện đã thống kê được khoảng 56 loài (chiếm

39,7% tổng số loài của cả họ) và 4 thứ, trong

số đó có tới 40 loài (chiếm 71,2% số loài

trong chi, hay 28,4% tổng số loài của cả họ)

là đặc hữu Đây thực sự là nguồn tài nguyên

chứa các hợp chất tự nhiên rất phong phú và

có nhiều tiềm năng ở Việt Nam [3], ngũ gia bì

chân chim mọc hoang ở nhiều tỉnh miền bắc

nước ta [2]

Chân chim có một số tác dụng dược lý: Tăng

lực, chống lạnh, hạ đường huyết, kiểu

oestrogen, ảnh hưởng đối với thuốc gây ngủ

Ngoài ra, chân chim còn được kết hợp với

dược liệu khác để chữa: Phong thấp đau

xương, bệnh cước khí, chân sưng đau, chân tê

buốt sưng đau, da lở ngứa do thấp nhiệt [4]

Cây ngũ gia bì chân chim là một loại cây dễ

kiếm trong tự nhiên và được sử dụng với

nhiều công dụng khác nhau Trong vỏ thân

của cây ngũ gia bì chân chim có chứa

asiaticoside [1]

Asiaticoside và scheffoleoside B được phân

lập từ vỏ thân cây Schefflera heptaphylla [5]

Asiaticoside là 1-O-acyl-D-glucose pyranose

được tìm thấy trong tự nhiên Asiaticoside có

*

Tel: 01685141798

khả năng kháng khuẩn và hoạt tính diệt nấm chống lại được mầm bệnh và nấm, asiaticoside còn có khả năng đuổi muỗi hiệu quả [4] Vì vậy asiaticoside được sử dụng nhiều trong lĩnh vực dược phẩm

Việc tách chiết asiaticoside chịu ảnh hưởng bởi dung môi, điều kiện chiết Vì vậy mục đích của nghiên cứu là nhằm tối ưu hóa quá trình tách chiết asiaticoside tổng số từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim tại trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vật liệu nghiên cứu

Vỏ cây ngũ gia bì chân chim (Schefflera heptaphylla) được thu hái tự nhiên tại trường

Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Nguyên liệu được rửa sạch, sau đó đem đi sấy

ở nhiệt độ 80o

C đến độ ẩm dưới 10%, tiến hành bảo quản trong túi PE đặt trong hộ nhựa kín, lưu trữ ở nhiệt độ phòng, tránh ánh sáng

và ẩm

Dung môi: Dùng dung môi ethanol (dạng tinh khiết – Việt Nam)

Bố trí thí nghiệm

Asiaticoside được chiết từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim bằng dung môi ethanol 50, 60, 70,

Trang 2

80, 90% (v/v) Nhiệt độ sấy là 60, 70, 75, 80,

85oC trong các khoảng thời gian 3 h, 4 h, 5 h,

6 h với tỷ lệ dung môi: nguyên liệu lần lượt là

10:1; 15:1; 20:1 (v/w) Sau khi tiến hành khảo

sát các đơn nhân tố, chúng tôi lựa chọn 03

yếu tố là các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến

hàm lượng asiaticoside tổng số trong vỏ cây

ngũ gia bì chân chim, để đánh giá khả năng

ảnh hưởng của chúng, chúng tôi sử dụng

phương pháp bề mặt chỉ tiêu theo thiết kế thí

nghiệm của Box – Behnken với ba yếu tố, ba

cấp độ

Xác định hàm lượng asiaicoside tổng số

Cân 3 g bột vỏ cây ngũ gia bì chân chim cho

vào giấy lọc buộc kĩ để tránh bột rau chảy ra

ngoài Sau đó cho gói bột vào phần thân của

bình soxhlet, còn dung môi cho khoảng 250

ml vào bình cầu bên dưới rồi tiến hành tách

chiết ở nhiệt độ sôi của dung môi Sau khi

chiết xong phần dịch chiết sẽ được cho vào

bình tam giác, rồi tiến hành lọc thô, lọc tinh

Cuối cùng dịch chiết được chứa trong

eppendorf đem đi phân tích sắc kí Đánh dấu

mức dịch chiết ở bình tam giác và xác định

thể tích dịch chiết Hàm lượng asiaticoside

(X) của mẫu sẽ được tính dựa vào nồng độ

của asiaticosdie chuẩn thông qua diện tích

peak chuẩn và diện tích peak ghi nhận được

của mẫu công thức sau: [1]

Trong đó:

Sas: Diện tích peak của Asiaticoside chuẩn

Sm: Diện tích peak của Asiaticosdie mẫu

A: Nồng độ mẫu Asiaticoside chuẩn (mg/ml)

K: Thể tích của dịch chiết Asiaicoside (ml)

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng phần

mềm xử lý số liệu SPSS 18

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Ảnh hưởng của nồng độ ethanol

Từ kết quả bảng 1 cho thấy khi chiết ở nồng

độ khác nhau thì sẽ cho hàm lượng

asiaticoside khác nhau và hàm lượng

asiaticoside bắt đầu tăng lên khi chiết ở nồng

độ từ 50% đến 70% Hàm lượng asiaticoside đạt cao nhất tại nồng độ ethanol 80% tương ứng với hàm lượng asiaticoside 0,037% Tiếp tục tăng nồng độ ethanol lên 90% thì hàm lượng asiaticoside không tăng Do vậy, nồng

độ ethanol 80% là thích hợp nhất để thực hiện quá trình tách chiết asiaticoside từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim

Bảng 1 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ

ethanol đến hàm lượng asiaticoside của vỏ cây

ngũ gia bì chân chim

CT Nồng độ

(%)

Hàm lượng asiaticoside (mg/100 g)

CT1 50 0,027b ± 0,002 CT2 60 0,028b ± 0,002 CT3 70 0,030b ± 0,002 CT4 80 0,037a ± 0,001 CT5 90 0,036a ± 0,001

Ghi chú: Trên cùng 1 cột các giá trị mang cùng chữ số mũ thì khác nhau không có ý nghĩa ở mức

α = 0,05

Ảnh hưởng của thời gian chiết

Từ bảng 2 ta thấy thời gian tách chiết có ảnh hưởng đến quá trình chiết tách asiaticoside từ nguyên liệu vỏ cây ngũ gia

bì chân chim Ta có thể nhận thấy hàm lượng asiaticoside tăng khi tăng thời gian chiết từ 3 h đến 4 h Tuy nhiên khi tăng thời gian chiết lên 5 h thì có hàm lượng bị giảm

từ 0,040% xuống 0,036% Tiếp tục tăng thời gian chiết lên 6 h thì hàm lượng asiaticoside tiếp tục giảm từ 0,040% xuống 0,035% Khi chiết ở thời gian là 4 h thì cho hàm lượng asiaticoside là cao nhất, vì vậy chúng tôi chọn thời gian chiết thích hợp là 4 h

Bảng 2 Ảnh hưởng của thời gian chiết

CT Thời gian chiết

(giờ) asiaticoside (%) Hàm lượng

CT4 6 h 0,035b ± 0,002

Ghi chú: Trên cùng 1 cột các giá trị mang cùng chữ số mũ thì khác nhau không có ý nghĩa ở mức

α = 0,05

Ảnh hưởng nhiệt độ sấy

Từ kết quả bảng 3 cho thấy nhiệt độ sấy là yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng asiaticoside

K A Sas Sm

Trang 3

tổng thu được sau quá trình chiết Từ bảng 3

ta có thể thấy hàm lượng asiaticoside tăng đều

khi tiến hành tăng nhiệt độ từ 60oCđến 80o

C

Hàm lượng tăng cao từ 0,037% lên 0,048%

Tuy nhiên, khi tiếp tục tăng nhiệt độ lên 85oC

thì hàm lượng asiaticoside có xu hướng giảm

Hàm lượng asiaticoside thu được cao nhất khi

chiết ở 80o

C Vì vậy nhiệt độ sấy thích hợp là

80oC

Bảng 3 Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy

CT Nhiệt độ (°C) Hàm lượng

asiaticoside (%)

CT1 60 0,037c ± 0,001

CT2 70 0,040b ± 0,002

CT3 75 0,041b ± 0,002

CT4 80 0,048a ± 0,002

CT5 85 0,042b ± 0,001

Ghi chú: Trên cùng 1 cột các giá trị mang cùng

chữ số mũ thì khác nhau không có ý nghĩa ở mức

α=0,05

Ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu

Từ bảng 4 cho thấy tỷ lệ dung môi/ nguyên

liệu có ảnh hưởng tới hàm lượng asiaticoside

được chiết từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim

Hàm lượng asiaticoside trong dịch chiết tăng

lên khi tỷ lệ: dung môi/ nguyên liệu tăng Từ

tỷ lệ 10/1 đến 15/1, hàm lượng asiaticoside

tăng nhanh nhưng từ tỷ lệ 15/1 đến 20/1 thì

hàm lượng asiaticoside lại tăng chậm Đạt

hàm lượng asiaticoside cao nhất 0,055% ở tỷ

lệ dung môi/ nguyên liệu là 20/1 Tuy nhiên

hàm lượng asiaticoside ở công thức tỷ lệ 15/1

và 20/1 sự sai khác không có ý nghĩa thống

kê Vì vậy chúng tôi chọn tỷ lệ dung môi/

nguyên liệu thích hợp là 15/1 để tiết kiệm

dung môi

Bảng 4.Ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu

CT

Tỷ lệ dung môi/

nguyên liệu

(ml/g)

Hàm lượng asiaticoside (%)

CT1 10/1 0,048b ± 0,002

CT2 15/1 0,054a ± 0,002

CT3 20/1 0,055a ± 0,002

Tối ưu hóa quá trình tách chiết

Chúng tôi sử dụng phương pháp bề mặt chỉ

tiêu theo thiết kế thí nghiệm của Box-

Behnken với ba biến ba cấp độ Các số liệu thu được từ dịch chiết vỏ cây ngũ gia bì chân chim được xử lý trên phần mềm Design- Expert 7.0 (Stat-Ease Inc, Minneapolis, USA) ANOVA được dùng để đánh giá kết quả thu được Tiến hành giải bài toán tối ưu theo phương pháp “hàm mong đợi” Sử dụng phần mềm Design-Expert 7.0 để tiến hành tối ưu hóa nhằm xác định được giá trị của ba yếu tố

mà tại đó hàm lượng asiaticoside là cao nhất

Áp dụng phương pháp phân tích hồi quy các

số liệu thực nghiệm, thu được mô hình đa thức bậc hai thể hiện hàm lượng asiaticoside: Y= +0,054 – 1,375*10-3*A + 8,75*10-4 *B – 1,25*10-3*C – 7,5*10-4*A*B + 9,5 *10 -3

*A*C - 5*10-4*B*C – 0,012 A2 – 9,75*10-4

*B2 – 0,021*C2 Trong đó Y là hàm lượng asiaticoside trong dịch chiết dự báo thu được

Bảng 5 Ma trận thực nghiệm Box- Behnken ba yếu

tố chiết asiaticoside từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim

TN

Biến thực

Hàm lượng asiaticoside (%)

A (nhiệt

độ sấy)

B (dung môi/

nguyên liệu)

C (nồng

độ ethanol)

16 80 15/1 80 0,055

Để đánh giá mô hình chúng tôi sử dụng phân tích ANOVA Kết quả phân tích ANOVA được thể hiện qua bảng sau:

Trang 4

Bảng 6 Phân tích phương sai ANOVA của mô hình chiết asiaticoside từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim

Sai số (pure error) 0,12 4 0,031

SS: Tổng phương sai; DF:Bậc tự do; MS: Trung bình phương sai; Chuẩn F: Chuẩn Fisher; Residual:

Phần dư; “Lack of Fit”: Chuẩn đánh giá độ không tương thích của mô hình với thực nghiệm

Từ kết quả phân tích ANOVA ta thấy giá trị xác suất của mô hình P-value = 0,0001<0,05 do đó

mô hình được lựa chọn để giải thích cho kết quả của thí nghiệm, Lack of fit test = 0,0743 (not

significant) có ý nghĩa đối với mô hình

Hình 1 Bề mặt đáp ứng hàm lượng asiaticoside

a Mô hình tương tác giữa tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu và nhiệt độ b Mô hình tương tác giữa nồng độ và

tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu c Mô hình tương tác giữa nồng độ và nhiệt độ

Phương án tốt nhất được dự đoán nhiệt độ sấy 79,52°C, tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu 17,51/1

(v/w), nồng độ ethanol 79,42% khi đó hàm lượng asiaticoside đạt 0,0545% Kết quả kiểm tra

bằng thực nghiệm cho kết quả tương ứng

Hình 2 Hàm kỳ vọng và điều kiện tối ưu ở hàm lượng asiaticoside

Trang 5

KẾT LUẬN

Điều kiện tách chiết thích hợp để thu được

hàm lượng asiaticoside được xác định như

sau: Nhiệt độ sấy 80o

C, tỷ lệ dung môi/

nguyên liệu 15/1 (v/w), nồng độ ethanol 80%

Chúng tôi sử dụng phương pháp bề mặt chỉ

tiêu theo thiết kế thí nghiệm của Box-

Behnken với ba biến ba cấp độ cho phương

án tốt nhất được dự đoán nhiệt độ sấy

79,52°C, tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu 17,51/1

(v/w), nồng độ ethanol 79,42% khi đó hàm

lượng asiaticoside đạt 0,0545% Kết quả kiểm

tra bằng thực nghiệm có độ tương thích cao

Kết quả của chúng tôi chỉ ra tiềm năng sử dụng

vỏ cây ngũ gia bì chân chim trong dược phẩm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Nghiên cứu điều kiện chiết tách asiaticoside từ rau má và ứng dụng sản xuất trà chức năng từ rau má, Luận văn thạc

sĩ Kỹ thuật công nghệ thực phẩm và đồ uống, Đại học Đà Nẵng

2 Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học

3 Lã Đình Mõi, Châu Văn Minh, Trần Văn Sung

và cs (2013), “Họ nhân sâm (araliaceae Juss.)

nguồn hoạt chất sinh học đa dạng ở Việt Nam” Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 5, Hà Nội ngày 18/10/2013, Nxb Nông nghiệp, tr 1153- 1157

4 Nguyễn Tấn Phát (2016), Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của lá Schefflera Sessiliflora De P V Thuộc họ ngũ gia

bì (Araliaceae), Luận án tiến sĩ hóa học, Học viện khoa học và công nghệ

5 Chun Wu, Ying-Hiu Duan, Man Meo Li (2013),

“Triterpenoid Saponins from the stem barks of

Scheffera Heptaphylla”, Phytochemistry, pp

1348- 1352

SUMMARY

THE STUDY OF THE EXTRACTION PROCESS OF ASIATICOSIDE

FROM THE BARK OF SCHEFFERA HEPTAPHYLLA

Le Thi Nga * , Nguyen Van Tung, Vu Thi Hang, Cao Thi Duyen, Le Thi Phuong,

Luu Hong Son, Ta Thi Luong, Tran Van Chi

TNU - University of Agriculture and Forestry

The purpose of this sudy was to investigate the single-element drying temperature, the solvent/ material ratio, ethanol solubility, which affected the extraction process of asiaticoside from the bark of Schefflera heptaphylla, resulting in 80oC; 15/1(v/w); 80% On the basis of the factors affecting the extraction conditions, we found that the drying temperature, the solvent/ material ratio and the solvent concentration were the factors influencing the extraction process Application

of Box-Behnken design found the optimum condition for the extraction process of Schefflera heptaphylla with drying temperature of 79.52oC, ethanol 79.42% and the material/solvent ratio extraction of 1/17.51 (w/v), asiaticoside content is 0.0545% Experimental results showed high compatibility with the model

Keywords: Schefflera heptaphylla, asiaticoside, extraction, optimize, Box-Behnken

Ngày nhận bài: 13/7/2018; Ngày phản biện: 07/8/2018; Ngày duyệt đăng: 31/10/2018

*

Tel: 01685141798

Ngày đăng: 14/01/2021, 22:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Từ kết quả bảng 1 cho thấy khi chiết ở nồng độ  khác  nhau  thì  sẽ  cho  hàm  lượng  asiaticoside  khác  nhau  và  hàm  lượng  - NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ASIATICOSIDE  TỪ CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM
k ết quả bảng 1 cho thấy khi chiết ở nồng độ khác nhau thì sẽ cho hàm lượng asiaticoside khác nhau và hàm lượng (Trang 2)
Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy CT  Nhiệt độ (°C)  Hàm lượng  - NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ASIATICOSIDE  TỪ CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM
Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy CT Nhiệt độ (°C) Hàm lượng (Trang 3)
tổng thu được sau quá trình chiết. Từ bảng 3 ta có thể thấy hàm lượng asiaticoside tăng đều  khi tiến hành tăng nhiệt độ từ 60oCđến 80o - NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ASIATICOSIDE  TỪ CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM
t ổng thu được sau quá trình chiết. Từ bảng 3 ta có thể thấy hàm lượng asiaticoside tăng đều khi tiến hành tăng nhiệt độ từ 60oCđến 80o (Trang 3)
Bảng 6. Phân tích phương sai ANOVA của mô hình chiết asiaticoside từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim - NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ASIATICOSIDE  TỪ CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM
Bảng 6. Phân tích phương sai ANOVA của mô hình chiết asiaticoside từ vỏ cây ngũ gia bì chân chim (Trang 4)
Từ kết quả phân tích ANOVA ta thấy giá trị xác suất của mô hình P-value = 0,0001&lt;0,05 do đó mô hình được lựa chọn để giải thích cho kết quả của thí nghiệm, Lack of fit test = 0,0743 (not  significant) có ý nghĩa đối với mô hình - NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ASIATICOSIDE  TỪ CÂY NGŨ GIA BÌ CHÂN CHIM
k ết quả phân tích ANOVA ta thấy giá trị xác suất của mô hình P-value = 0,0001&lt;0,05 do đó mô hình được lựa chọn để giải thích cho kết quả của thí nghiệm, Lack of fit test = 0,0743 (not significant) có ý nghĩa đối với mô hình (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w