1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

MỘT SỐ HỢP CHẤT GLUCOSIDE-FLAVONOID ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ LÁ XẠ CAN BELAMCANDA CHINENSIS (L.) DC. TẠI VIỆT NAM

5 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 302,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài báo này tập trung vào phân lập và xác định cấu trúc của một số hợp chất glucoside -flavonoid từ lá của cây Belamcada chinensis (L.) DC.. Cấu trúc của chúng được xác định nhờ c[r]

Trang 1

MỘT SỐ HỢP CHẤT GLUCOSIDE-FLAVONOID ĐƯỢC PHÂN LẬP

TỪ LÁ XẠ CAN BELAMCANDA CHINENSIS (L.) DC TẠI VIỆT NAM

Bùi Thị Bình 1 , Lê Công Huân 1,* , Khổng Thị Hoa 1 , Nguyễn Thị Hồng 1 ,

Đặng Thu Hằng 1 , Nguyễn Thị Hồng Hạnh 2 , Đỗ Thị Hà 3

1 Trường Đại học Y Dược Thái Bình, 2 Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên,

3 Viện Dược liệu

TÓM TẮT

Xạ can là một loại dược liệu được dùng làm thuốc chữa ho, tiêu đờm, viêm họng, viêm amidan có nhiều đờm, khản tiếng Bộ phận dùng là thân rễ hoặc lá dưới dạng thuốc sắc, bột làm viên ngậm hoặc dùng tươi Trong bài báo này tập trung vào phân lập và xác định cấu trúc của một số hợp chất

glucoside -flavonoid từ lá của cây Belamcada chinensis (L.) DC Kết quả đã phân lập ba hợp chất:

embinin (1), swertisin (2) và embigenin (3) Cấu trúc của chúng được xác định nhờ các phép phân tích phổ IR, NMR, MS và so sánh với các dữ liệu phổ đã công bố (Mingchuan Liu và cs (2012))

Từ khóa: Xạ can, lá, embinin, swertisin, embigenin.

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Xạ can có tên khoa học là Belamcanda

chinensis (L.) DC thuộc chi Belamcada

Adans họ Lay ơn (Iridaceae) Cây phân bố ở

Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Philipin Ở

Việt Nam, xạ can mọc hoang và được trồng ở

nhiều nơi để làm cây cảnh và làm thuốc [2]

Nghiên cứu thành phần hóa học của thân rễ

xạ can cho thấy có mặt của các nhóm chất

như iridal triterpenoid, isoflavonoid và

flavonoid, các nhóm hợp chất stillben, các

hợp chất phenolic và các triterpen [7] Trong

nước, một số tác giả nghiên cứu thành phần

hóa học của rễ xạ can, bước đầu nghiên cứu

thấy sự có mặt của các hợp chất flavonoid và

triterpenoid [3] Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn

chưa có nhiều công trình nghiên cứu thành

phần hóa học xạ can trên bộ phận lá

Trong các công bố gần đây, chúng tôi đã phát

hiện sự có mặt của các hợp chất

iristectorigenin A, irisflorentin, iridin D,

tertoigenin, 9-methoxy-dehydrodiconiferyl

alcol, neoligan trong phân đoạn dịch chiết

ethyl acetat của thân rễ xạ can [1] Trong bài

báo này, chúng tôi tiếp tục báo cáo những kết

quả nghiên cứu mới về chiết tách, phân lập và

xác định cấu trúc hóa học chất chính trên bộ

phận lá xạ can

*

Email: huanc3d@gmail.com

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu

Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu là lá xạ

can (Belamcada chinensis (L.)DC.) được thu

hái tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tháng 11/ 2016 Tên khoa học được ThS Nguyễn Quỳnh Nga, Khoa Tài nguyên - Viện Dược liệu giám định bằng phương pháp so sánh hình thái Tiêu bản mẫu hiện được lưu tại Khoa Tài nguyên - Viện Dược liệu Toàn bộ lá xạ can chất lượng tốt được lựa chọn, sấy ở 50oC đến độ

ẩm còn dưới 2%, xay thành bột làm nguyên liệu nghiên cứu thành phần hóa học

Dung môi, hóa chất

Các dung môi dùng cho chiết xuất và phân

lập hoạt chất: ethanol, n-hexan, ethylacetat, methanol, n-butanol Dung môi, hóa chất sử

dụng trong nghiên cứu đều đạt tiêu chuẩn tinh khiết phân tích (PA)

Thiết bị, dụng cụ

Các chất được phân lập bởi các cột sắc ký (cột thủy tinh) với hạt silica-gel 160 cỡ hạt 0,04 - 0,063 mm (Merck) Sắc ký lớp mỏng

sử dụng bản mỏng nhôm tráng sẵn silica-gel GF254 Nhiệt độ nóng chảy được đo bằng máy

đo điểm chảy nhiệt điện Gallenkamp (Sanyo electrothermal digital) Phổ hồng ngoại (IR) được ghi bằng máy Impac 410-Nicolet FT-IR

Trang 2

4

Phổ khối lượng (MS) được ghi bằng máy khối

phổ phun mù điện tử (MS) Hewlett Packard

HP 5890 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)

được ghi bằng máy Bruker AV-500 dùng

DMSO-d 6 làm dung môi Độ chuyển dịch hóa

học () được biểu thị bằng đơn vị phần triệu

(ppm), lấy mốc là pic của chất chuẩn nội

tetramethylsilan (TMS)

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân lập các hợp chất

Phân lập các hợp chất từ lá xạ can bằng sắc

ký lớp mỏng và sắc ký cột

Sắc ký lớp mỏng (TLC): Phát hiện chất bằng

đèn tử ngoại bước sóng 254 và 365 nm hoặc

dùng thuốc thử hiện màu H2SO410% được

phun đều khi hiện màu hoặc dung dịch

FeCl3/ethanol 5%

Phương pháp xác định các cấu trúc hóa học

các hợp chất

Bằng cách đo nhiệt độ nóng chảy, các phương

pháp phổ (phổ hồng ngoại IR, phổ khối lượng

MS, phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR và

13

C-NMR)

THỰC NGHIỆM

Lá xạ can khô nghiền nhỏ (2,5 kg) được chiết

hồi lưu với ethanol 96% (3 lần x 3 h) Lọc,

gộp dịch chiết và cất thu hồi dung môi dưới

áp suất giảm thu được cao ethanol (420,6 g)

Cao thu được đem phân tán trong nước và lắc

phân đoạn lần lượt với n-hexan (3 × 1,5 L) và

EtOAc (3 × 1,5 L) Các phân đoạn lần lượt

cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm thu

được cắn n-hexan (30,5 g), cắn EtOAc (18,6

g) và cắn nước (271,5 g)

Cắn nước được đưa qua cột diaion LH-20, rửa

giải theo gradient với dung môi ethanol -

nước (0:100%, 1:3, 1:1, 3:1, 100%:0) Cất thu

hồi dung môi dưới áp suất giảm thu được 5

cao phân đoạn, ký hiệu H1BC1A ~ H1BC1E

Phân đoạn H1BC1E (6,0 g) được đưa lên cột

pha thường, rửa giải bằng hệ D-M-W

(6:1:0,1, v/v/v) thu được 4 phân đoạn

H1BC2A~H1BC2D Tiếp tục phân lập phân

đoạn H1BC2B (1,3 g) bằng sắc ký cột pha

thường hệ dung môi rửa giải D-M-W (6:1:0,1, v/v/v) thu được phân đoạn H1BC3A và H1BC3B Phân đoạn H1BC3B (0,9 g) được phân tách trên sắc ký cột pha đảo với hệ dung môi rửa giải M-W (1:1,v/v) thu được hợp chất

1 (BCL1 370 mg) Phân đoạn H1BC1B+H1BC1C (1,0 g) được phân lập trên sắc ký cột pha thường rửa giải theo gradient với hệ dung môi D-M-W (10:1:0,1; 7:1:0,1; 5:1:0,1, v/v/v) thu được 2 phân đoạn H1BC9A và H1BC9B Phân đoạn H1BC9B (71 mg) được phân tách trên sắc ký cột pha thường hệ D-M (7:1, 6:1, 5:1, v/v) thu được

hợp chất 2 (BCL2, 27,4 mg) và hợp chất 3 (BCL3, 17,3 mg) được tinh chế bằng sắc ký

cột pha thường hệ D-M (8:1, v/v)

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Từ các kết quả phổ của các hợp chất phân lập

từ lá xạ can, nhóm nghiên cứu thu được kết quả như sau:

Hình 1 Cấu trúc của các hợp chất 1, 2, 3

Trang 3

Hợp chất 1: Chất rắn, màu vàng nhạt; tonc:

217-219oC; Rf = 0,67 (DCM : MeOH = 7:2);

IR (KBr, cm-1): 3309 (OH), 3060 (CH), 1728/

1610 (C=O), 1509, 1471, 1426 (C=C); 1240

(C-O); ESI-MS (m/z): 607,5 [M+H]+; 1

H-NMR (500 MHz, CD3OD, ppm): δ 6,71 (1H,

s, H-3); 6,72 (1H, s, H-8); 7,95 (2H, d, J = 8,5

Hz, H-2', 6'); 7,10 (2H, d, J = 8,5 Hz, H-3',

5'); 4,96 (1H, d, J = 10 Hz, H-1''); 4,41 (1H,

d, J = 8,5 Hz, H-2''); 3,86 (1H, m, H-3''); 3,43

(1H, m, H-4''); 3,45 (1H, m, H-5''); 3,67 (1H,

dd, J = 10,5; 5,5 Hz, Hb-6''); 3,53 (1H, m,

Ha-6''); 5,13 (1H, d, J = 1,5 Hz, H-1'''); 3,88

(1H, m, 2'''); 0,75 (1H, d, J = 6,5 Hz,

H-6'''); 3,97 (1H, s, 7-OMe); 3,91 (3H, s,

4’-OMe); 13C-NMR (125 MHz, CD3OD, ppm): δ

166,0 (C-2); 104,9 (C-3); 183,9 (C-4); 164,5

(C-5); 110,8 (C-6); 161,7 (C-7); 92,7 (C-8);

159,3 (C-9); 105,9 (C-10); 124,3 (C-1'); 129,4

(C-2', 6'); 115,7 (C-3', 5'); 161,2 (C-4'); 56,1

(7-OMe); 49,1 (4’-OMe); 78,9 1''); 82,4

(C-2''); 72,2 (C-3''); 72,2 (C-4''); 81,4 (C-5''); 63,4

(C-6''); 102,9 (C-1'''); 71,9 (C-2'''); 72,8 (C-3''');

73,4 (C-4'''); 69,8 (C-5'''); 18,2 (C-6''')

Hợp chất 1 được phân lập dưới dạng bột màu

vàng nhạt Phổ ESI-MS của chất 1 cho pic ion

ở m/z 607,5 ([M+H]+) phù hợp với khối lượng

phân tử 607 (C29H34O14) Phổ 1H-NMR của

hợp chất 1 là đặc trưng của các tín hiệu

proton trong hai vòng thơm của một flavon

Có hai tín hiệu singlet của proton trong vòng

A [δH 6,71 (1H, s, H-3) và 6,72 (1H, s, H-8)],

hai tín hiệu doublet của proton vòng B tương

tác ortho với nhau [δH 7,95 (2H, d, J = 8,5 Hz,

H-2', 6'); 7,10 (2H, d, J = 8,5 Hz, H-3', 5')];

tín hiệu singlet của nhóm OH δH 13.44 (1H, s,

5-OH); tín hiệu singlet của 2 nhóm methoxy

δH 3,96 (3H, s, 7-OMe) và 3,91 (3H, s,

4’-OMe) Các tín hiệu NMR cho thấy chất 1

chứa 2 phân tử đường Trên phổ còn xuất hiện

tín hiệu của gốc đường glucose liên kết với

aglycon bằng liên kết β-C-glycosid đặc trưng

bởi proton anomeric ở [δH 4,96 (1H, d, J = 10

Hz, H-1'')] và các tín hiệu khác 4,41 (1H, d, J

= 8,5 Hz, H-2''); 3,86 (1H, m, H-3''); 3,43

(1H, m, H-4''); 3,45 (1H, m, H-5''); 3,67 (1H,

dd, J = 10,5; 5,5 Hz, Hb-6''); 3,53 (1H, m,

Ha-6''); δC 78,9 1''); 82,4 2''); 72,2 (C-3''); 72,2 (C-4''); 81,4 (C-5''); 63,4 (C-6'') Trên phổ còn xuất hiện tín hiệu của gốc đường rhamnose liên kết với phân tử đường glucose với các tín hiệu đặc trưng δH 5,13

(1H, d, J = 1,5 Hz, 1'''); 3,88 (1H, m, H-2'''); 0,75 (1H, d, J = 6,5 Hz, H-6'''); δC 102,9

1'''); 71,9 2'''); 72,8 3'''); 73,4 (C-4'''); 69,8 (C-5'''); 18,2 (C-6''') Từ dữ liệu phổ thu được ở trên và so sánh với dữ liệu phổ embinin đã công bố trong tài liệu [7], có thể

kết luận hợp chất 1 là embinin

Hợp chất 2: Chất rắn, màu vàng nhạt; tonc: 243-244oC; Rf = 0,47 (DCM : MeOH = 7:2);

IR (KBr, cm-1): 3310 (OH), 3066 (CH), 1730/

1615 (C=O), 1519, 1470, 1425 (C=C); 1230 (C-O); ESI-MS (m/z): 469,0 [M+Na]+; 1 H-NMR (500 MHz, CD3OD, ppm): δ 6,67 (1H,

s, H-3); 6,76 (1H, s, H-8); 7,90 (2H, d, J = 8,5

Hz, H-2', 6'); 6,95 (2H, d, J = 8,5 Hz, H-3', 5'); 4,80 (1H, d, J = 10 Hz, H-1''); 3,90 (1H, t,

J = 8 Hz, H-2''); 3,47 (1H, m, H-3''); 3,41

(1H, m, H-4''); 3,46 (1H, m, H-5''); 3,68 (1H,

dd, J = 10,5; 5,5 Hz, 6''b); 3,53 (1H, m,

H-6''a); 3,96 (3H, s, 7-OMe); 13C-NMR (125 MHz, CD3OD, ppm): δ 166,4 (C-2); 102,8 (C-3); 184,3 (C-4); 159,6 (C-5); 109,7 (C-6); 166,4 (C-7); 91,9 (C-8); 154,7 (C-9); 104,2 (C-10); 122,9 (C-1'); 129,6 (C-2', 6'); 117,1 (C-3', 5'); 162,9 (C-4'); 56,5 (7-OMe); 73,9 (C-1''); 73,9 (C-2''); 80,5 (C-3''); 71,6 (C-4''); 82,6 (C-5''); 64,4 (C-6'')

Hợp chất 2 được phân lập dưới dạng bột màu vàng nhạt Phổ ESI-MS của chất 2 cho pic ion

ở m/z 469,0 ([M+Na]+) phù hợp với khối lượng phân tử 446 (C22H22O10) Phổ 1H-NMR

của hợp chất 2 cho thấy sự xuất hiện của các

tín hiệu proton trong hai vòng thơm của một flavon, trong đó có hai tín hiệu singlet của proton trong vòng A [δH 6,67 (1H, s, H-3) và 6,76 (1H, s, H-8)], hai tín hiệu doublet của proton vòng B tương tác ortho với nhau [δH

7,90 (2H, d, J = 8,5 Hz, H-2', 6'); 6,95 (2H, d,

J = 8,5 Hz, H-3', 5')]; tín hiệu singlet của

proton nhóm methoxy δH 3,96 (3H, s,

Trang 4

7-6

OMe) Trên phổ còn xuất hiện tín hiệu của

gốc đường glucose liên kết với aglycon bằng

liên kết β-C-glycosid đặc trưng bởi proton

anomeric ở [δH 4,80 (1H, d, J = 10 Hz, H-1'')]

và các tín hiệu khác 3,90 (1H, t, J = 8 Hz,

H-2''); 3,47 (1H, m, H-3''); 3,41 (1H, m, H-4'');

3,46 (1H, m, H-5''); 3,68 (1H, dd, J = 10,5;

5,5 Hz, Hb-6''); 3,53 (1H, m, Ha-6'') Phổ 13

C-NMR và DEPT cho thấy tín hiệu của 22

carbon, trong đó có 1 carbon methoxy [δC

56,5 (7-OMe)]; 15 tín hiệu đặc trưng cho hợp

chất euflavon gồm 9 carbon bậc 4 [δC 166,4

(C-2); 184,3 (C-4); 159,6 (C-5); 109,7 (C-6);

166,4 (C-7); 154,7 (C-9); 104,2 (C-10); 122,9

(C-1') và 162,9 (C-4')], 6 carbon bậc 3 [δC

102,8 (C-3); 91,9 (C-8); 129,6 (C-2', 6') và

117,1 (C-3', 5')] và các tín hiệu của phân tử

đường [δC 73,9 1''); 73,9 2''); 80,5

(C-3''); 71,6 (C-4''); 82,6 (C-5'') và 64,4 (C-6'')]

Trên cơ sở các dữ kiện phổ của 2 kết hợp với

tham khảo tài liệu [5], [6], hợp chất 2 được

xác định là apigenin 6-C-β-D-glucopyranosid

hay swertisin

Hợp chất 3: Chất rắn, màu vàng nhạt; tonc:

256-258oC; Rf = 0,51 (DCM : MeOH = 7:2);

IR (KBr, cm-1): 3319 (OH), 3065 (CH), 1720/

1615 (C=O), 1519, 1481, 1436 (C=C); 1245

(C-O); ESI-MS (m/z): 460,1 [M+H]+; 1

H-NMR (500 MHz, CD3OD, ppm): δ 6,69 (1H,

s, H-3); 6,74 (1H, s, H-8); 7,98 (2H, d, J = 9,0

Hz, H-2', 6'); 7,11 (2H, d, J = 9,0 Hz, H-3',

5'); 4,84 (1H, d, J = 10 Hz, H-1''); 3,93 (1H, t,

J = 8 Hz, H-2''); 3,46 (1H, m, H-3''); 3,41

(1H, m, H-4''); 3,46 (1H, m, H-5''); 3,68 (1H,

dd, J = 10,5; 5,5 Hz, Hb-6''); 3,53 (1H, m,

Ha-6''); 3,94 (3H, s, 7-OMe); 3,94 (3H, s,

4’-OMe); 13C-NMR (125 MHz, CD3OD, ppm): δ

166,0 (C-2); 104,7 (C-3); 184,0 (C-4); 164,5

(C-5); 124,3 (C-6); 166,0 (C-7); 91,9 (C-8);

154,3 (C-9); 104,6 (C-10); 124,3 (C-1'); 129,4

(C-2', 6'); 115,7 (C-3', 5'); 162,7 (C-4'); 56,1

(7-OMe); 49,5 (4’-OMe); 74,3 (C-1''); 76,6

(C-2''); 82,6 (C-3''); 73,6 (C-4''); 80,5 (C-5'');

63,5 (C-6'')

Hợp chất 3 được phân lập dưới dạng bột màu vàng nhạt Phổ ESI-MS của chất 3 cho pic ion

ở m/z 460,1 ([M+H]+) phù hợp với khối lượng phân tử 459 (C23H24O10) Cũng tương tự như

chất 2, phổ 1H-NMR của hợp chất 3 cho thấy

sự xuất hiện của các tín hiệu proton trong hai vòng thơm của một flavon, trong đó có hai tín hiệu singlet của proton trong vòng A [δH 6,69 (1H, s, H-3) và 6,74 (1H, s, H-8)], hai tín hiệu doublet của proton vòng B tương tác ortho với nhau [δH 7,98 (2H, d, J = 9,0 Hz, H-2', 6');

7,11 (2H, d, J = 9,0 Hz, H-3', 5')]; tín hiệu

singlet của 2 nhóm methoxy δH 3,96 (3H, s, 7-OMe) và 3,94 (3H, s, 4’-7-OMe); tín hiệu singlet của nhóm OH δH 13.44 (1H, s, 5-OH) Trên phổ cũng xuất hiện tín hiệu của gốc đường glucose liên kết với aglycon với liên

kết C-glycosid đặc trưng bởi proton anomeric

ở [δH 4,80 (1H, d, J = 10 Hz, H-1'')] cùng các

tín hiệu 4,84 (1H, d, J = 10 Hz, H-1''); 3,93 (1H, t, J = 8 Hz, H-2''); 3,46 (1H, m, H-3'');

3,41 (1H, m, H-4''); 3,46 (1H, m, H-5''); 3,68

(1H, dd, J = 10,5; 5,5 Hz, Hb-6''); 3,53 (1H,

m, Ha-6'') Phổ 13C-NMR và DEPT cho thấy tín hiệu của 23 carbon, trong đó có 2 carbon methoxy [δC 56,5 (7-OMe) và 49,5 (4’-OMe)]; 15 tín hiệu đặc trưng cho hợp chất euflavon gồm 9 carbon bậc 4 [δC 166,0 (C-2); 184,0 (C-4); 164,5 (C-5); 124,3 (C-6); 166,0 (C-7); 154,4 (C-9); 104,6 (C-10); 124,3 (C-1')

và 162,7 4')], 6 carbon bậc 3 [δC 104,7 (C-3); 91,9 (C-8); 129,4 (C-2', 6') và 115,1 (C-3', 5')] và các tín hiệu của phân tử đường [δC 74,3 1''); 76,6 2''); 82,6 3''); 73,6 (C-4''); 80,5 (C-5'') và 63,5 (C-6'')] Từ dữ liệu phổ thu được ở trên, kết hợp với tài liệu đã

công bố [3], [8] có thể kết luận hợp chất 3

phân lập được là embigenin

KẾT LUẬN Bằng các phương pháp sắc ký kết hợp với các phương pháp phổ, chúng tôi đã phân lập và nhận dạng cấu trúc của 3 hợp chất bằng các phương pháp phổ hiện đại (MS, 1

H-NMR, 13

C-NMR, HBMC) từ lá xạ can bao gồm embinin, swertisin, embigenin.

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Thị Bình, Đỗ Thị Hà, Nguyễn Thị Bích Thu

(2014), “Neolignan và các isoflavonoid phân lập

từ thân rễ xạ can (Belamcanda chinensis (L.) DC,

Tạp chí Dược học, 4, tr 54

2 Viện Dược liệu (2006), Cây thuốc và động vật

làm thuốc ở Việt Nam, tập II, Nxb KH&KT, tr

1095-1098

3 Bakhtiar B., Gleye J., Moules C., (1994),

“Desorption chemicacl ionization mass

spectrometry of C-glycosyl flavones”,

Phytochemical analysis, 5, pp 8-89

4 Bui Thi Binh, Tran Thi Hien, Do Thi Ha, Pham

Duc Chinh, Le Viet Dung, Nguyen Thi Bich Thu

(2016), “Anti-Inflammatory Effect of

(7R,8S)-Dehydrodiconiferyl Alcohol-9′Γ-Methyl Ether

from the Rhizome of Belamcanda Chinensis: Role

of Mir-146a and Mir-155”, Biomed Pharmacol,

9(3), pp 278-283

5 Choo C Y., Sulong N Y., Man F., Wong T W (2012), "Vitexin and isovitexin from the leaves of

Ficus deltoidea with in-vivo alpha-glucosidase

inhibition", Journal of ethnopharmacology,

142(3), pp 776 - 781

6 Mishra B B., Yadav S B., Singh R K., Tripathi

V (2007), "A novel flavonoid C-glycoside from

Sphaeranthus indicus L (family Compositae)", Molecules, 12(10), pp 2288 - 2291

7 Mingchuan Liu, Shengjie Yang, Linhong Jin, Deyu Hu, Zhibing Wu and Song Yang (2012),

“Chemical Constituents of the Ethyl Acetate

Extract of Belamcanda chinensis (L.) DC Roots and Their Antitumor Activities”, Molecules, 17,

pp 6156-6169

8 Yahan Na, Huan Li, Binbin Lin, Guo Kai Wang (2012), “C-glycosyl flavones from the leaves of

Iris tectorum Maxum”, Acta Pharmaceutica Sinia,

2(6), pp 598-601

SUMMARY

DERVATIVES OF GLUCOSIDE-FLAVONOID ISOLATED FROM THE LEAF OF

BELAMCADA CHINENSIS (L.) DC IN VIETNAM

Bui Thi Binh 1 , Le Cong Huan 1* , Khong Thi Hoa 1 , Nguyen Thi Hong 1 ,

Dang Thu Hang 1 , Nguyen Thi Hong Hanh 2 , Do Thi Ha 3

1

Thai Binh University of Medicine and Phamacy,

2

TNU - University of Medicine and Pharmacy,

3

National Institute of Medicinal Material

Belamcada chinensis (L.) DC is a medicinal plant that has been used to treat cough, sputum,

pharyngitis, tonsillitis, phlegmatic tonsillitis The stool is a rhizome or leaf in the form of decoction, powdered or fresh In this article, we have focused on the isolation and indentification

of some glucoside-flavonoid compounds from leaf of Belamcada chinensis (L.) DC The result

was isolated three compounds: embinin (1), swertisin (2) and embigenin (3) Their structures were

indentifed on the basic of physicochemical data and IR, NMR, MS spectral analysis in comparison with the pulish data

Keywords: Belamcada chinensis, leaf, embinin, swertisin, embigenin

Ngày nhận bài: 29/5/2018; Ngày phản biện: 30/6/2018; Ngày duyệt đăng: 31/10/2018

*

Email: huanc3d@gmail.com

Ngày đăng: 14/01/2021, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Cấu trúc của các hợp chất 1, 2 ,3 - MỘT SỐ HỢP CHẤT GLUCOSIDE-FLAVONOID ĐƯỢC PHÂN LẬP  TỪ LÁ XẠ CAN BELAMCANDA CHINENSIS (L.) DC. TẠI VIỆT NAM
Hình 1. Cấu trúc của các hợp chất 1, 2 ,3 (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w