1. Trang chủ
  2. » Ecchi

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ BÌNH LONG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

7 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 328,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ tháng 7/2011“Mô hình xây dựng năng lực cho cộng đồng dân tộc thiểu số sẵn sàng tham gia chương trình giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng” được chính [r]

Trang 1

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ BÌNH LONG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Nguyễn Thị Đông 1* , Nguyễn Thị Phương Mai 1 , Trần Thị Lệ Hằng 2

1

Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên, 2 Viện Năng lượng – Bộ Công thương

TÓM TẮT

Bình Long là một xã đặc biệt khó khăn của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, kinh tế chủ yếu dựa vào hoạt động nông lâm nghiệp, thu nhập bình quân đầu người đạt 11 triệu đồng/năm Trong những năm gần đây, người dân đã phát huy thế mạnh của vùng, phát triển kinh tế theo hướng nông lâm nghiệp Người dân Bình Long đã tham gia các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng góp phần đem lại những lợi ích nhất định về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nâng diện tích che phủ rừng lên khoảng 1.099 ha từ năm 2011 đến 2017, giảm diện tích núi đá không rừng, tăng mức

đa dạng sinh học, cải thiện kinh tế nông hộ và góp phần xóa đói giảm nghèo

Từ khóa: Quản lý rừng cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng bền vững, xã Bình Long

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Theo Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO)

lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) được hiểu là

các hoạt động gắn người dân với rừng, các

sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích

từ các sản phẩm này [1] Ở Việt Nam, xét về

khía cạnh quyền sở hữu rừng, LNCĐ được

hiểu là: Quản lý rừng của cộng đồng và quản

lý rừng dựa vào cộng đồng [1] Hiện nay,

LNCĐ được phát triển với khá nhiều hình

thức như: Cộng đồng quản lý theo truyền

thống; nhóm hộ gia đình; cộng đồng quản lý;

nhóm hộ tự liên kết quản lý [4] nguồn gốc có

thể do thôn bản tự tuyên bố hoặc là do nhận

giao khoán từ chính quyền địa phương hoặc

từ các chủ quản lý

Bình Long là 1 xã nghèo thuộc phía Đông

Nam huyện Võ Nhai, bình quân thu nhập theo

đầu người 11 triệu/năm Hơn 50% dân số là

người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp

Tính đến năm 2017, xã Bình Long có diện

tích đất lâm nghiệp là 1703,87 ha chiếm

61,35% diện tích đất tự nhiên, phần lớn là

rừng tự nhiên trên núi đá Nền kinh tế chủ yếu

dựa vào các hoạt động nông lâm nghiệp, đặc

biệt trong những năm gần đây, người dân đã

tích cực tham gia lâm nghiệp cộng đồng Tuy

nhiên, hiện vẫn chưa có đánh giá cụ thể về

hiệu quả của LNCĐ tới sự phát triển kinh tế,

*

xã hội, lâm sinh và môi trường tại xã Bình Long, xuất phát từ thực tế đó nhóm tác giả đã thực hiện đề tài “Đánh giá vai trò của lâm nghiệp cộng đồng tại xã Bình Long, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lâm

nghiệp cộng đồng tại xã Bình Long, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn cán bộ

xã và người dân xã Bình Long, các câu hỏi tập trung chủ yếu vào các hoạt động LNCĐ lợi ích và khó khăn khi thực hiện LNCĐ, hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng…

- Phương pháp đánh giá nhanh: Dựa trên các tiêu chí đánh giá về kinh tế, xã hội, lâm sinh

và môi trường, với mỗi tiêu chí lựa chọn chỉ tiêu cụ thể Khía cạnh kinh tế lựa chọn các chỉ tiêu về diện tích rừng được giao, hiện trạng rừng, tác động của LNCĐ đến thu nhập của các hộ… Chỉ tiêu về môi trường lựa chọn các chỉ thị: Độ che phủ của rừng cộng đồng, tác động tới nguồn nước, ảnh hưởng đến ĐDSH,… Các chỉ tiêu về xã hội: Tỷ lệ người tham gia quản lý rừng cộng đồng, công tác tập huấn, canh tác nông lâm nghiệp, số người

vi phạm rừng và hương ước…

Trang 2

- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng Excel

để tổng hợp số liệu điều tra

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phương thức quản lý rừng tại xã Bình Long

Xã Bình Long có hai hình thức quản lý rừng

chủ yếu:

Quản lý của chính quyền địa phương: Hiện tại

chính quyền xã đang quản lý 1703,87 ha đất

lâm nghiệp [5] Chính quyền xã được coi như

cơ quan quản lý chung nhất có trách nhiệm

phê duyệt, giám sát các hoạt động quản lý,

chăm sóc và bảo vệ rừng tự nhiên của các hợp

tác xã (HTX) cũng như cộng đồng dân cư

Đồng thời, hỗ trợ về mặt pháp luật, phổ biến

chính sách hỗ trợ của Nhà nước về quản lý và

bảo vệ rừng tới người dân Tạo mọi điều kiện

thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng

tại địa phương

Quản lý rừng theo thôn xóm: Mô hình quản lý

rừng theo thôn xóm được hình thành từ lâu

đời tuy nhiên từ năm 1960 do chính sách tập

thể hóa, đất đai được quản lý tập trung và có

kiểm soát, nên rừng tại xã Bình Long do

UBND xã quản lý Cộng đồng địa phương

không có quyền ra quyết định về tài nguyên

rừng và không có trách nhiệm bảo vệ rừng

dẫn đến nạn phá rừng nhanh chóng

Từ tháng 7/2011“Mô hình xây dựng năng lực cho cộng đồng dân tộc thiểu số sẵn sàng tham gia chương trình giảm phát thải khí nhà kính

từ mất rừng và suy thoái rừng” được chính thức triển khai tại xã Bình Long dưới sự hỗ trợ của tổ chức CERDA (Centre of Research and Development in Upland Area) nhằm mục đích chủ yếu là nâng cao năng lực quản lý của cộng đồng dân cư trong bảo vệ và phát triển rừng Dự án đã hỗ trợ công tác giao đất giao rừng, thành lập hợp tác xã (HTX) và các tổ tự quản để tăng cường phát triển sinh kế và bảo

vệ rừng Khác với HTX giai đoạn trước đây, HTX kiểu mới hoạt động dựa theo hướng cộng đồng dân cư là chủ thể bảo vệ rừng được giao, cùng với đó hình thức quản lý rừng theo xóm đang được thực hiện Tổng diện tích giao cho các xóm là 1099,1 ha HTX được xây dựng từ các tổ tự quản là các hộ dân trong cùng xóm tập hợp thành các hộ tự quản, có trách nhiệm tham gia bảo vệ và quản lý rừng, đồng thời khi tham gia HTX các hộ này có tư cách pháp nhân, để tham gia vào cơ chế thị trường thông qua các hợp đồng mua bán vật

tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao sinh kế giảm áp lực lên tài nguyên rừng Cơ cấu tổ chức hoạt động của HTX được trình bày tại hình 1 Hợp tác xã hoạt động trên tinh thần dân chủ công bằng và đồng thuận

Hình 1 Cơ cấu tổ chức của các hợp tác xã tại xã Bình Long [2]

Vai trò của Lâm nghiệp cộng đồng tại xã Bình Long

Vai trò LNCĐ đối với phát triển kinh tế

Theo thống kê của HTX Hòa Bình tính đến năm 2017 rừng tự nhiên trên núi đá tại xã Bình Long

có tổng diện tích giao cho các xóm là 1099,1 ha Hoạt động giao đất, giao rừng tại xã Bình Long được tiến hành khá tốt, 100% diện tích rừng được giao tại tất cả các xóm với 100% các hộ gia

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Ban Giám đốc

Ban

Kiểm

soát

Tổ chức điều phối

việc bảo vệ rừng Tổ dịch vụ Tổ tham vấn cộng đồng Tổ kỹ thuật Tổ xử lý vi phạm rừng Tổ quản lý Vốn quay vòng

Tổ tài chính

Trang 3

đình tham gia Rừng được giao sẽ tập trung quản lý theo xóm, không chia riêng rẽ từng hộ gia đình Ưu tiên các xóm có đông dân cư, ở gần rừng, thuận tiện cho các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, với chính sách giao rừng như vậy đã nhận được sự hưởng ứng của người dân Thống kê diện tích rừng tự nhiên núi đá giao cho mỗi xóm được thể hiện cụ thể tại hình 2

Hình 2 Thống kê diện tích rừng tự nhiên trên núi đá giao cho các xóm tại xã Bình Long [3]

Theo số liệu tại hình 2, diện tích giao khoán

rừng tại xóm Long Thành là lớn nhất 127,6 ha

với 97 hộ gia đình cùng tham gia bảo vệ; xóm

Bứa có diện tích rừng được giao thấp nhất 4,9

ha với 10 hộ gia đình quản lý Đồng Bản và

Đèo Ngà là hai xóm có số hộ gia đình tham

gia bảo vệ rừng nhiều nhất: Xóm Đồng Bản

117 hộ quản lý 79,5 ha rừng và xóm Đèo Ngà

107 hộ quản lý 70,6 ha rừng Tuy nhiên điều

này không ảnh hưởng đến chất lượng bảo vệ

rừng vì tất các hộ gia đình tham gia hợp tác

xã đều có trách nhiệm và vai trò như nhau

trong việc chăm sóc, bảo vệ và quản lý rừng

Hiện trạng rừng giao cho cộng đồng

Trạng thái rừng khi giao chủ yếu là rừng

nghèo và núi đá chưa thành rừng do đã khai

thác kiệt quệ và đất nương rẫy trên địa bàn cư

trú Phần lớn là những quần tụ non, thành

phần loài không đa dạng, không đồng đều

tuổi, kết cấu tầng tán không rõ ràng Những

cây gỗ quý như: Nghiến (Burretiodendron

hsienmu), Trai lý (Garcinia Fragraeoides),

Đinh hương (Dysoxylum cauliflorum)… vẫn

còn song chủ yếu là cây tái sinh

Sau khi giao cho cộng đồng và hộ gia đình

bảo vệ thì rừng thực sự có chủ, được chăm

sóc, giảm thiểu đáng kể tình trạng khai thác,

chặt phá rừng trái phép Cùng với đó là trách nhiệm bảo vệ rừng của người dân được nâng lên rõ rệt Nhiều diện tích núi đá không rừng được phủ xanh, rừng nghèo tăng trưởng đạt trạng thái rừng trung bình Rừng tự nhiên được chăm sóc và bảo vệ nghiêm ngặt nên đã dần phục hồi, nhiều loại cây quý hiếm được tái sinh

Lâm nghiệp cộng đồng tác động đến thu nhập của người dân

Theo số liệu UBND xã Bình Long, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lên tới 80,44%; trong đó

hộ nghèo chiếm 53,04% và hộ cận nghèo chiếm 27,4% Thu nhập bình quân đầu người 833.000 đ/người/tháng Như vậy, mức sống của người dân trong xã còn tương đối thấp Đối với các dự án LNCĐ tại Việt Nam, cộng đồng thường tập trung vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, thu nguồn lợi từ việc khai thác

gỗ và lâm sản ngoài gỗ Tuy nhiên, LNCĐ tại

xã Bình Long chủ yếu tập trung vào việc khoanh nuôi bảo vệ rừng, giảm phát thải do phá rừng và suy thoái rừng, tăng cường trữ lượng và bán tín chỉ carbon, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Qua 5 năm (2012 – 2017) tham gia dự án REDD+ với việc triển khai các hoạt động quản lý, chăm sóc và bảo

Trang 4

vệ rừng thì hiện tại xã Bình Long đã có tối

thiểu 1.099 ha rừng tự nhiên núi đá đủ điều

kiện để được tiến hành chi trả dịch vụ môi

trường rừng theo tiến trình chi trả vào năm

2017 Sau khi dự án kết thúc, chính quyền địa

phương đã cam kết sẽ trích nguồn kinh phí từ

Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh để hỗ

trợ kinh phí cho người dân tham gia bảo vệ và

phát triển rừng núi đá tại xã Bình Long Điều

này đã tạo tâm lý ổn định cho người dân tích

cực tham gia hoạt động chăm sóc và bảo vệ

rừng Cộng đồng khi bắt đầu nhận rừng sẽ

tiến hành đo đếm để xác định trữ lượng rừng

ban đầu Hàng năm, tiến hành đo đếm cây

rừng, xác định mức tăng sinh khối và khả

năng hấp thụ CO2 của cây rừng Từ đó, dự

đoán lượng giá khả năng hấp thụ CO2 hay

chính là tín chỉ carbon và các tín chỉ này sẽ

được mua bán trên thị trường carbon Căn cứ

vào mức giá do Viện Chiến lược, Chính sách

tài nguyên và Môi trường (Bộ Khoa học và

Công nghệ) cung cấp để tính quy đổi giá trị

tín chỉ carbon thành tiền cho 1 ha rừng với tỷ giá bán 5 USD/tấn CO2 tại thị trường

Nếu chia đều cho tất cả các hộ (1.449 hộ) tham gia vào hoạt động LNCĐ của HTX, trung bình mỗi hộ được chi trả 1.054.700 VNĐ/ năm

Hiện nay, dự án tiến hành chi trả theo diện tích rừng được giao quản lý, tính đến năm

2017 có 20 xóm trữ lượng rừng đạt tiêu chuẩn được chi trả, số tiền mỗi hộ được nhận trình bày tại hình 3

Số tiền mỗi hộ được nhận có sự chênh lệch khá lớn hộ thấp nhất là 548.133 đồng, hộ nhiều nhất được nhận 2.010.000 đồng/ năm tùy thuộc vào diện thích tham gia bảo vệ; trung bình được nhận 1.054.700 VNĐ/năm/hộ mức thu nhập này tương đương với giá trị kinh tế từ các hộ gia đình tham gia dự án 661 trồng mới 5 triệu ha rừng là 1.000.000 đồng/ha [4], thì giá trị kinh tế từ LNCĐ tại xã Bình Long chưa thực sự nổi bật nhưng đã góp phần thu hút được sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng, góp phần cải thiện cuộc sống của người dân ở đây

Bảng 1 Giá trị kinh tế do hấp thụ CO 2 mang lại tại rừng tự nhiên núi đá xã Bình Long

(Nguồn: Số liệu tính toán của tổ kỹ thuật HTX Bình Long 2012 *

, 2017 ** )

Hình 3 Số tiền được chi trả theo diện tích bảo vệ của mỗi hộ trong năm (triệu đồng)

Trang 5

Vai trò LNCĐ đối với lâm sinh và bảo vệ

môi trường

Nâng cao chất lượng rừng

Với mục tiêu bảo vệ tốt diện tích rừng vốn có,

tạo điều kiện cho rừng phục hồi và phát triển,

chất lượng rừng tại xã Bình Long đã có

chuyển biến tích cực Điều này được thể hiện

qua biến động diện tích các loại rừng của xã

Diện tích rừng trồng tăng từ 241,3 ha năm

2010 đến nay là 756,4 ha và rừng tự nhiên núi

đá tăng từ 764,3 ha năm 2010 đến nay là

1099,1 ha, trong đó rừng trồng tăng 515,06

ha; rừng tự nhiên núi đá tăng 334,8 ha đồng

thời với đó diện tích núi đá không rừng giảm

334,8 ha Diện tích rừng trồng tăng lên là do

các hộ gia đình chuyển đổi mục đích sử dụng

đất từ đất nông nghiệp sang đất lâm nghiệp

Diện tích rừng tự nhiên trên núi đá tăng là kết

quả của việc thực hiện tốt công tác khoanh

nuôi, quản lý và bảo vệ rừng của dân cư địa

phương Có thể thấy rằng, người dân đã quan

tâm đến công tác trồng và bảo vệ rừng

Tăng tính đa dạng sinh học

Trước đây, việc quản lý rừng còn lỏng lẻo,

nhận thức về quản lý và bảo vệ rừng của

người dân chưa cao, tình trạng người dân vào

rừng khai thác gỗ trái phép diễn ra khá phổ

biến, dẫn đến rừng bị tàn phá nghiêm trọng

Rừng núi đá của xã Bình Long có nhiều loại

gỗ quý như Nghiến (Burretiodendron

hsienmu), Trai lý (Garcinia Fragraeoides),

không tránh khỏi tình trạng bị khai thác kiệt

quệ, độ che phủ của rừng suy giảm nghiêm

trọng, nhiều khu vực bị trơ núi đá và cây bụi

Tuy nhiên, theo người dân tại xã Bình Long

trong khoảng 5 năm trở lại đây, rừng đã có sự

phục hồi do cộng đồng dân cư đã tích cực

tham gia chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng, từ

đó người dân cũng ý thức hơn tầm quan trọng

của lâm nghiệp đối với cuộc sống và môi

trường sinh thái Nhiều loài sinh vật rừng

được tái sinh, phát triển nhanh và ổn định

Ngoài ra, việc rừng phát triển tốt đã du nhập

một số loài động vật, thực vật phát triển cùng

với các loài bản địa, làm tăng ý nghĩa đa dạng

sinh học của rừng Đặc biệt, nhiều loài quý hiếm đã lâm vào tình trạng sắp tuyệt chủng được phục hồi như Nghiến, Táu, Trai lý, các loài Sóc, Gà rừng, Bạc má tần suất bắt gặp ngày càng nhiều Theo số liệu điều tra đa dạng sinh học tại rừng núi đá Bình Long nhóm cây gỗ có 113 loài, lâm sản ngoài gỗ

109 loài, côn trùng 36 loài, động vật 21 loài,

bò sát 17 loài, chim 58 loài [2]

Tác động của LNCĐ tới môi trường nước

Theo phản ánh của người dân xã Bình Long thời gian từ năm 2000- 2010, rừng tự nhiên bị khai thác kiệt, nhiều diện tích rừng bị trơ nền

đá gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới lượng nước tại địa phương Tình trạng thiếu nước xẩy ra thường xuyên, suy giảm mực nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nước giếng, tại những khe suối cũng thường xuyên cạn nước đặc biệt vào mùa khô Tuy nhiên, khi LNCĐ được thực hiện và rừng được phục hồi thì chất lượng nước tại địa phương cũng được cải thiện Theo kết quả điều tra tại các hộ gia đình, 86,2% các hộ được hỏi cho rằng nguồn nước hiện tại đủ cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Các hộ có đủ nguồn nước sạch hợp vệ sinh để sử dụng gồm cả nước giếng và nước máy Với các xóm Chịp, Đồng Bản, Trại Rẽo do địa hình phức tạp, cách xa trung tâm xã nên chưa thể thiết kế, triển khai đưa nước máy về xóm, các hộ gia đình chủ yếu dùng nước giếng khoan, nước giếng khơi Vào mùa khô (tháng 12, tháng 1) vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước ở các hộ dùng nước giếng khơi, nhưng mức độ đã giảm hơn trước đây Các khe suối đã xuất hiện dòng chảy thường xuyên và ổn định Các hộ gia đình cũng khai thác nguồn nước từ đây để phục vụ cho hoạt động nông nghiệp

Tình trạng hạn hán, lũ quét hay sạt lở đất đá cũng hạn chế, theo báo cáo của UBND xã từ năm 2011 đến nay mới chỉ có 1 vụ sạt lở nhưng mức độ ảnh hưởng không đáng kể

Vai trò của LNCĐ đối với phát triển xã hội

Mức độ tham gia quản lý rừng cộng đồng

Trang 6

Mức độ tham gia quản lý rừng cộng đồng

ngày càng tăng, theo thống kê từ ban quản trị

HTX Hòa Bình đến nay 100% số hộ dân

trong xã tham gia vào hoạt động quản lý, bảo

vệ rừng Các cuộc họp HTX hay tổ tự quản có

tỷ lệ người dân tham gia họp đạt 97% Tham

gia nhận đất, nhận rừng ngoài thực địa có

100% các hộ dân có mặt

Hoạt động tuần tra rừng được thực hiện

nghiêm túc Mỗi tổ tự quản đều có đội tuần

tra rừng riêng, định kỳ đi tuần tra 1 lần/tháng

với 3-5 người/lần tuần tra Tại những điểm

rừng giáp với Lạng Sơn, Bắc Giang có thể

tuần tra 2 lần/tháng Ngoài ra, nếu nghi ngờ

hay phát hiện có những diễn biến bất thường

(nghi ngờ cháy rừng, khai thác trái phép)

trong rừng, người dân sẽ chủ động báo cáo

cho tổ trưởng tổ tự quản và lập đội tuần tra đi

kiểm tra ngay Mỗi lần tuần tra bảo vệ rừng,

đội tuần tra được hỗ trợ 50.000 – 70.000

đồng/ngày/người đi tuần tra, do vậy khuyến

khích được sự tham gia của cộng đồng

Số lớp tập huấn và số người tham gia tập

huấn về quản lý rừng, kỹ thuật canh tác nông

lâm nghiệp

Với mục tiêu nâng cao năng lực quản lý,

quyền tiếp cận rừng và đất rừng, tạo ra những

tác động tích cực đến việc quản lý đất rừng,

bảo tồn thiên nhiên và phát triển các kỹ năng

phù hợp cho việc cải thiện sinh kế bền vững

của nhóm cộng đồng sống dựa vào rừng

Nhiều lớp tập huấn, các cuộc trao đổi về kỹ

thuật quản lý rừng, kỹ thuật canh tác nông

lâm nghiệp cho người dân được triển khai

thực hiện tại xã Bình Long, như:

- Tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ

thuật nông nghiệp và xây dựng các mô hình

thử nghiệm: Giống mới, phân bón mới, ủ phân

hữu cơ vi sinh, trồng lúa cải tiến, trồng khoai

tây hàng hóa, nông lâm kết hợp rừng trồng với

cây bản địa: Gừng trâu, chè hữu cơ khoáng,

liên kết, giới thiệu đầu ra cho sản phẩm…

- Thành lập tổ kỹ thuật REDD+, đào tạo một

số thành viên của HTX sử dụng máy GPS,

trực tiếp thực hiện điều tra đo đếm ô tiêu chuẩn để đo giao rừng, điều tra giám sát trữ lượng carbon và đa dạng sinh học Đồng thời cũng hỗ trợ đào tạo kỹ thuật và đo khoanh rừng cho các HTX mới (Phương Giao, Dân Tiến…)

- Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm dự án quốc tế, quốc gia, tỉnh, huyện và vùng dự án về phát triển LNCĐ

Hương ước và tình hình thực hiện các quy định trong hương ước

Để bảo vệ và phát triển rừng bền vững, các hộ đăng ký tham gia bảo vệ rừng tự nhiên trên núi đá đã tổ chức hội nghị thống nhất xây dựng và cam kết thực hiện Quy ước quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Quy ước được xây dựng dựa trên các quy định về pháp luật do Nhà nước ban hành, tinh thần đồng thuận nhất trí cao của cộng đồng dân cư, được UBND huyện Võ Nhai phê duyệt và có hiệu lực từ tháng 11/2013

KẾT LUẬN LNCĐ tại xã Bình Long đã đem lại hiệu quả tích cực về mặt xã hội và môi trường, góp phần cải thiện kinh tế cho người dân Khi nguồn hỗ trợ từ dự án 661 không còn nữa, thì nguồn thu nhập từ LNCĐ cũng giúp người dân duy trì các hoạt động quản lý và bảo vệ rừng

Về mặt xã hội, LNCĐ đã giúp người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo

vệ rừng Việc ra đời của các HTX tại xã Bình Long chính là kết quả của sự đồng thuận cao trong việc thực hiện lâm nghiệp cộng đồng tại địa phương Nâng cao ý thức, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng dân cư trong quản

lý, bảo vệ rừng Diện tích rừng tự nhiên đã tăng hơn 1.000 ha từ năm 2011 tới 2017 Giảm diện tích núi đá không rừng, tăng mức

đa dạng sinh học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ NN&PTNT (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, chương lâm nghiệp cộng đồng

2 CERDA & HTX Bình Long (2015), Báo cáo điều tra đa dạng sinh học rừng núi đá Bình Long

Trang 7

3 HTX Bình Long, Báo cáo kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh nhiệm kỳ 2012 – 2017, tháng

12 năm 2017

4 Nguyễn Bá Ngãi (2009), “Quản lý rừng cộng

đồng ở Việt Nam: Thực trạng, vấn đề và giải

pháp”, Kỷ yếu hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng, tr 4-20

5 UBND xã Bình Long (2017), Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bình Long

SUMMARY

ASSESSMENT OF COMMUNITY FOREST IN BINH LONG COMMUNE,

VO NHAI DISTRICT, THAI NGUYEN PROVINCE

Nguyen Thi Dong 1* , Nguyen Thi Phuong Mai 1 , Tran Thi Le Hang 2

1 Thai Nguyen University of Sciences,

2

Institute of Energy – Ministry of Industry and Trade

Binh Long is a particularly poor commune of Vo Nhai District in Thai Nguyen Province with a major economy based on agroforestry activities, the average income per head reaches 11 million VND/ year In recent years, people have promoted the strength of the region, economic development in the direction of agriculture and forestry Binh Long people have participated in community forestry activities, contributing to the benefits of socio-economic development and environmental protection Raise more than 1000 ha of forest cover from 2011 to 2017, reduce the area of non-forest rock, increase biodiversity, improve farm economy and contribute to poverty reduction

Key words: Community forestry, communal forest, forest protection and development, sustainable

forest management, Binh Long Commune.

Ngày nhận bài: 22/8/2018; Ngày phản biện: 20/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018

*

Ngày đăng: 14/01/2021, 22:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Xã Bình Long có hai hình thức quản lý rừng chủ yếu:  - ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ BÌNH LONG,   HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
nh Long có hai hình thức quản lý rừng chủ yếu: (Trang 2)
Hình 2. Thống kê diện tích rừng tự nhiên trên núi đá giao cho các xóm tại xã Bình Long [3] - ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ BÌNH LONG,   HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Hình 2. Thống kê diện tích rừng tự nhiên trên núi đá giao cho các xóm tại xã Bình Long [3] (Trang 3)
Bảng 1. Giá trị kinh tế do hấp thụ CO2 mang lại tại rừng tự nhiên núi đá xã Bình Long - ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ BÌNH LONG,   HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 1. Giá trị kinh tế do hấp thụ CO2 mang lại tại rừng tự nhiên núi đá xã Bình Long (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w