1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

THỰC TRẠNG BỆNH NGOÀI DA Ở CÔNG NHÂN MỎ THAN NA DƯƠNG, LẠNG SƠN

4 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 221,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Tiến năm 2004 [4] tại mỏ than Na Dương, Lạng Sơn, kết quả cũng cho thấy bệnh ngoài da ở công nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất trong số bệnh tật hay gặp [r]

Trang 1

THỰC TRẠNG BỆNH NGOÀI DA Ở CÔNG NHÂN

MỎ THAN NA DƯƠNG, LẠNG SƠN

Lê Thị Thanh Hoa * , Thân Đức Mạnh, Đỗ Hàm

Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên toàn

bộ công nhân mỏ than Na Dương, Lạng Sơn năm 2018 nhằm mô tả thực trạng bệnh ngoài da ở công nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh ngoài da chiếm tỷ lệ thấp nhất trong số các bệnh thường gặp, trung bình 1,0% Số trường hợp mắc viêm da tiếp xúc xuất hiện ở cả 2 nhóm nghiên cứu, trong khi bệnh nấm da chỉ xuất hiện ở nhóm có nguy cơ cao (nhóm I) với 0,3% So với các năm tỷ lệ bệnh ngoài da có xu hướng giảm hơn

Từ khóa: công nhân, bệnh ngoài da, viêm da tiếp xúc, nấm da, khai thác than

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Khai thác mỏ luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ có

thể làm gia tăng các bệnh tật do tác động của

các yếu tố môi trường như vi khí hậu nóng,

ẩm, ít gió, bụi than lẫn bụi đất đá, hơi khí

độc đây là các điều kiện thuận lợi dẫn đến

sự xuất hiện và gia tăng các bệnh ngoài da

[1], [2], [3] Bệnh ngoài da hầu hết không

nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây ra nhiều

bất tiện cho sinh hoạt và lao động, ảnh hưởng

đến năng suất lao động [5]

Để góp phần chăm sóc và bảo vệ quyền lợi

sức khỏe cho người lao động, chúng tôi thực

hiện đề tài “Thực trạng bệnh ngoài da ở

công nhân mỏ than Na Dương, Lạng Sơn”

nhằm mục tiêu: Mô tả thực trạng bệnh ngoài

da ở công nhân mỏ than Na Dương, Lạng Sơn

năm 2018

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Công nhân mỏ than

Na Dương, Lạng Sơn

Toàn bộ đối tượng nghiên cứu trên được phân

chia làm 2 nhóm có sự khác biệt rõ rệt về môi

trường làm việc cũng như các yếu tố liên

quan để so sánh mô tả:

Nhóm I: Lao động trực tiếp

Nhóm II: Lao động gián tiếp

*

Tel: 0912 868111

Tiêu chuẩn loại trừ: Các công nhân không

tham gia khám sức khỏe

Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại mỏ than Na Dương, Lạng Sơn Lý do chúng tôi chọn mỏ than Na Dương làm địa điểm nghiên cứu vì đây là nơi khai thác than lâu đời ở khu vực Lạng Sơn Than Na Dương có đặc tính đặc biệt là loại than nâu, hàm lượng lưu huỳnh, hàm lượng tro cao, dễ bốc cháy, chóng tàn, dễ phong hóa và gặp mưa khí sunphua phát ra gây độc hại và ô nhiễm môi trường nên loại than này ít được dùng trong đun nấu, chỉ thích hợp cho công nghệ xi măng lò quay phương pháp ướt và nhà máy nhiệt điện với công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng

8 năm 2018

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp và thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp

mô tả, thiết kế cắt ngang

- Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: Chọn quần thể

nghiên cứu theo phương pháp chủ đích Chủ động chọn toàn bộ số công nhân sản xuất trực tiếp (bao gồm công nhân làm việc ở các phân xưởng: Gạt, khoan nổ mìn, vận tải, sàng tuyển, cầu đường, cơ điện) và nhóm công nhân lao động gián tiếp vào nghiên cứu (phục

vụ phụ trợ, quản lý) Sau khi đã loại trừ tiêu

Trang 2

chuẩn không phù hợp (không tham gia khám

sức khỏe), tổng số công nhân được chọn là

511 người

Chỉ số nghiên cứu

- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: Giới, tuổi

đời, tuổi nghề;

- Tỷ lệ bệnh thường gặp ở công nhân;

- Tỷ lệ bệnh ngoài da ở công nhân

Xử lý số liệu: Nhập số liệu bằng Excel sau đó

phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0

Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến

hành dưới sự cho phép của cơ quan Y tế mỏ than Na Dương và được Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên thông qua

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nhóm

Giới Nam Nữ 327 (90,1%) 36 (9,9%) 89 (60,1%) 59 (39,9%) 416 (81,4%) 95 (18,6%)

Tuổi đời

Tuổi nghề

Kết quả nghiên cứu bảng 1 cho thấy công nhân nam chiếm đa số (81,4%), trong khi nữ chỉ chiếm 18,6% Điều này phản ánh đặc điểm lao động của ngành khai thác mỏ không phù hợp với nữ giới Đây là công việc lao động nặng nhọc, tiềm ẩn nhiều tác hại nghề nghiệp [1] Đặc biệt ở nhóm I, công nhân sản xuất trực tiếp , tỷ lệ nam giới chiếm tuyệt đối (100%) Đây là nhóm công nhân phải tiếp xúc với bụi với hàm lượng cao trong không khí, vượt tiêu chuẩn cho phép, ngoài

ra vi khí hậu không thuận lợi, phải làm việc trong môi trường nóng, ẩm, ít gió, tạo điều kiện cho các loại nấm mốc và vi khuẩn phát triển Theo tác giả Trần Thị Liên (1999) [2] và Nguyễn Qúy Thái (2004) [5] đó là điều kiện thuận lợi khiến cho công nhân dễ mắc các bệnh ngoài da, đặc biệt bệnh nấm da nghề nghiệp Về tuổi đời, cả hai nhóm nghề chủ yếu là công nhân có tuổi đời từ 31 -

40 tuổi (45,2% và 36,5%) Tuổi nghề của công nhân ở cả hai nhóm chủ yếu là 11 - 20 năm (43,5% và 48,6%) Như vậy mỏ than Na Dương cần có các giải pháp can thiệp để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho công nhân, bởi việc tiếp xúc thường xuyên với các tác hại nghề nghiệp sẽ dễ dẫn đến nhiều bệnh tật khác nhau, nhất là khi nhóm tuổi cận kề với nhóm tuổi đời cao chiếm đa

số, thì việc dự phòng bệnh tật càng hết sức cần thiết

Bảng 2 Cơ cấu bệnh tật của công nhân

Nhóm NC

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy bệnh ngoài da ở công nhân chiếm tỷ lệ rất thấp so với các loại hình bệnh tật khác ở cả hai nhóm nghiên cứu, trung bình 1,0% Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Tiến năm 2004 [4] tại mỏ than Na Dương, Lạng Sơn, kết quả cũng cho thấy bệnh ngoài

da ở công nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất trong số bệnh tật hay gặp ở người lao động khai thác than, chiếm 6,8% Tuy nhiên nếu so sánh với một số nghiên cứu khác như tỷ lệ mắc bệnh nấm da ở

Trang 3

0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6 1.8 2

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

1.3

0.8

1.3

0.6

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

0.4

0.4

0.2

Tỷ lệ %

Bệnh khác Vảy nến Nấm da Viêm da tiếp xúc

0

0.2

0.4

0.6

0.8

1

1.2

Nhóm

I

Nhóm II

0.3 0.3

Tỷ lệ %

Vảy nến Nấm da Viêm da tiếp xúc

công nhân khai thác than mỏ than Phấn Mễ,

Thái Nguyên của tác giả Nguyễn Quý Thái

năm 2004 [5] thì tỷ lệ mắc bệnh ngoài da của

công nhân mỏ than Na Dương thấp hơn rất

nhiều Bệnh lý ngoài da ở công nhân ngoài

chịu sự ảnh hưởng của cơ địa, thói quen sinh

hoạt thì đối với người lao động, nhất là khai

thác than thì yếu tố tác hại nghề nghiệp đóng

vai trò quan trọng Đối với công nhân mỏ

than Phấn Mễ thì công nhân phải làm việc

trong hầm lò, nhiệt độ, độ ẩm cao, ít gió, bụi

nhiều là điều kiện thuận lợi để các loại vi

khuẩn và nấm mốc phát triển Ngoài ra bụi

than ở mỏ than Phấn Mễ có đặc điểm bám

dính (than mỡ) khác với điều kiện lao động

của công nhân mỏ than Na Dương Công

nhân mỏ than Na Dương có đặc điểm lao

động khai thác lộ thiên, than ở mỏ Na Dương

là than nâu, hàm lượng lưu huỳnh cao, dễ bốc

cháy nên sự ảnh hưởng lên các loại hình bệnh

tật cũng khác biệt

Biểu đồ 1 Phân bố bệnh ngoài da theo nhóm nghề

Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm da

tiếp xúc xuất hiện ở cả hai nhóm nghề Riêng

bệnh nấm da chỉ có 1 trường hợp ở nhóm

nghề I là nhóm có nguy cơ cao hơn và 01

trường hợp mắc bệnh ngoài da khác, không

phải bệnh phổ biến

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ

mắc bệnh ngoài da năm 2018 thấp hơn so với

các năm trước Bệnh ngoài da hay gặp nhất là

viêm da tiếp xúc Điều này cũng phù hợp bởi

trong nguyên liệu đất đá, than và một số phân xưởng khác do đặc tính nghề nghiệp phải tiếp xúc với các yếu tố có khả năng gây kích ứng, bao gồm cả yếu tố vật lý và hóa học Tuy nhiên một đặc điểm khác biệt so với nghiên cứu của một số tác giả khác là tỷ lệ mắc bệnh nấm da rất thấp chỉ 0,2% Thực tế để chẩn đoán bệnh nấm da cần phải có các xét nghiệm cận lâm sàng giúp chẩn đoán xác định Do đó

y tế cơ quan cần phải lưu ý đối với các trường hợp bệnh lý này tránh bỏ sót các đối tượng mắc bệnh

Biểu đồ 2 Phân bố bệnh ngoài da theo năm

KẾT LUẬN

- Bệnh ngoài da ở công nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất trong số các bệnh thường gặp với 1,0%

- Số trường hợp mắc viêm da tiếp xúc xuất hiện ở cả 2 nhóm nghiên cứu, trong khi bệnh nấm da chỉ xuất hiện ở nhóm có nguy cơ cao (nhóm I) với 0,3%

- So với các năm tỷ lệ bệnh ngoài da có xu hướng giảm hơn

KHUYẾN NGHỊ

- Phòng An toàn và Trạm Y tế mỏ cần lên kế hoạch giảm thiểu các yếu tố nguy cơ ở người lao động bằng các biện pháp an toàn lao động

và chăm sóc sức khoẻ ban đầu

- Cán bộ y tế cần đặc biệt lưu ý tình trạng bệnh lý ngoài da ở công nhân ngay từ khi họ mới vào nghề

Trang 4

- Duy trì truyền thông dự phòng bệnh lý ngoài

da cho công nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Thị Thanh Hoa (2017), Thực trạng bệnh

đường hô hấp, yếu tố liên quan và hiệu quả một số

giải pháp can thiệp ở công nhân mỏ than Phấn

Mễ, Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ Y học, Trường

Đại học Y Dược Thái Nguyên

2 Trần Thị Liên (1999), Môi trường lao động và

bệnh nấm da nghề nghiệp ở công nhân hầm lò mỏ

than Mạo Khê, Vàng Danh, Báo cáo tổng kết đề

tài nghiên cứu khoa học cấp Viện, Viện Y học lao

động và vệ sinh môi trường, Bộ Y tế

3 Nguyễn Liễu, Phạm Vãn Tố (2004), "Đánh giá môi trường lao động và tình hình bệnh phổi – phế quản của công nhân khai thác than tại công ty Đông

Bắc, Quảng Ninh", Hội nghị khoa học quốc tế Y học lao động và Vệ sinh môi trường lần thứ I, 12 -

14/11/2003, Nhà xuất bản Y bọc 2004, tr 483 - 488

4 Hoàng Văn Tiến (2004), Nghiên cứu thực trạng môi trường và sự liên quan giữa một số yếu tố nghề nghiệp với sức khỏe bệnh tật của công nhân

mỏ than Na Dương, Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Y

học, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên

5 Nguyễn Quý Thái (2004), Đặc điểm dịch tễ học, yếu tố nguy cơ và giải pháp can thiệp phòng bệnh nấm da cho công nhân khai thác than tại Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y

Hà Nội

SUMMARY

THE SITUATION OF SKIN DISEASES OF COAL MINING WORKERS

IN NA DUONG, LANG SON

Le Thi Thanh Hoa * , Than Duc Manh, Do Ham

University of Medicine and Pharmacy - TNU

Through a descriptive, cross-sectional design, we conducted a study on all workers in the Na Duong coal mine, Lang Son in 2018 to describe the situation of workers' skin diseases Results showed that skin disease accounted for the lowest rate of common diseases (1.0%) The number of cases of contact dermatitis occurred in both groups, while fungal infections only occurred in the high-risk group (group I) of 0.3% Compared to the years, the rate of dermatitis tends to decrease

Key words: workers, skin diseases, contact dermatitis, skin fungus, coal mining

Ngày nhận bài: 27/8/2018; Ngày phản biện: 10/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018

*

Tel: 0912 868111

Ngày đăng: 14/01/2021, 22:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu - THỰC TRẠNG BỆNH NGOÀI DA Ở CÔNG NHÂN  MỎ THAN NA DƯƠNG, LẠNG SƠN
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (Trang 2)
Kết quả nghiên cứu bảng 1 cho thấy công nhân nam chiếm đa số (81,4%), trong khi nữ chỉ chiếm 18,6% - THỰC TRẠNG BỆNH NGOÀI DA Ở CÔNG NHÂN  MỎ THAN NA DƯƠNG, LẠNG SƠN
t quả nghiên cứu bảng 1 cho thấy công nhân nam chiếm đa số (81,4%), trong khi nữ chỉ chiếm 18,6% (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w