1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

6 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 311,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm lựa chọn được 2 giống ngô lai có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, có các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cao đó là: MRI-4 và MRI - 9 có nhiều đặc điểm vượt trội [r]

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA

MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Đào Thị Thu Hương 1 , Dương Sơn Hà 2 , Nguyễn Thị Thu Hà 1

1 Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật - ĐH Thái Nguyên

2

Trung tâm Khuyến Nông tỉnh Thái Nguyên

TÓM TẮT

Nghiên cứu thực hiện nhằm lựa chọn được 1 - 2 giống ngô lai mới có năng suất cao thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu của tỉnh Thái Nguyên để giới thiệu cho sản xuất Thí nghiệm gồm 8 giống: Giống MRI-1, MRI-2, MRI-3, MRI-4, MRI-5, MRI-9, MRI-10 và giống CP.111 (đối chứng) Cơ quan tác giả của các giống trên là Viện nghiên cứu Ngô, riêng giống đối chứng CP.111 của công ty TNHH CP Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy các giống đều có những đặc điểm sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao trong điều kiện canh tác tại tỉnh Thái Nguyên Thí nghiệm lựa chọn được 2 giống ngô lai có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, có các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất cao đó là: MRI-4 và MRI - 9 có nhiều đặc điểm vượt trội về khả năng sinh trưởng và năng suất nên được đề nghị để đánh giá chính xác hơn khả năng thích ứng của giống

Từ khóa: Thái Nguyên, tổ hợp ngô lai, sinh trưởng, phát triển, năng suất

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng trên thế

giới, đứng thứ ba sau lúa mỳ và lúa gạo Ở

Việt Nam, ngô là cây lương thực có vị trí thứ

2 (sau lúa), là cây trồng hàng hoá quan trọng

ở các vùng sinh thái Cây ngô có khả năng

chịu hạn, không kén đất, có thể trồng được

nhiều vụ trong năm Ngoài tác dụng làm

lương thực, nhất là tại vùng cao, ngô được

dùng chủ yếu làm nguyên liệu cho chế biến

thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu sinh học Việt

Nam có điều kiện phù hợp cho phát triển ngô

qui mô lớn tại hầu hết các vùng sinh thái, nhất

là tại miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ và

Tây Nguyên Ở nước ta, nhu cầu ngô hạt chế

biến thức ăn chăn nuôi để thay thế nhập khẩu

ngày càng lớn, năm 2013 phải nhập khẩu 1,9

triệu tấn ngô hạt trong tổng số trên 9,0 triệu

tấn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi có

giá trị trên 4 tỉ USD (Lê Nghĩa và Hữu Vinh,

2014) 1 Theo dự đoán nhu cầu ngô thế giới

sẽ là 852 triệu tấn vào năm 2020 (CIMMYT,

2011) 2, tăng 45% so với năm 1997, riêng

khu vực Đông Nam Á nhu cầu tăng 70% so

với năm 1997 (International Maize and Wheat

Improvement Center – CIMMYT, 2008) 3

Nhu cầu ngô của toàn thế giới tập trung trên

*

Tel: 0988 263262, Email: daothuhuong.ktnl@gmail.com

80% ở các nước đang phát triển và chỉ khoảng 10% từ các nước công nghiệp phát triển Các nước đang phát triển sẽ phải tự đáp ứng nhu cầu của mình trên diện tích ngô hầu như không tăng (James, 2010) 4

Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc của Việt Nam, với diện tích đất nông nghiệp

là 94.563 ha Trong cơ cấu cây trồng của Thái Nguyên, ngô là một trong những cây trồng chính để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển chăn nuôi Điều kiện khí hậu của Thái Nguyên khá khắc nghiệt, thường gặp hạn và rét đầu vụ ngô Xuân và cuối vụ ngô Đông Chính vì vậy để phát triển sản xuất ngô của tỉnh cần có các giống ngô có khả năng chống chịu tốt, đặc biệt là hạn và rét Mặc dù đã có nhiều giống ngô lai nhập nội được sử dụng trong sản xuất, nhưng các giống nhập nội có khả năng chống chịu kém hơn, giá giống đắt

và không chủ động được giống Các giống ngô Việt Nam có ưu thế hơn giống nhập nội

về khả năng chống chịu nhưng số lượng giống còn hạn chế, chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của sản xuất Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai triển vọng tại tỉnh Thái Nguyên”

Trang 2

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm tiến hành 8 tổ hợp ngô lai trong

đó có 1 giống đối chứng là CP.111

Phương pháp nghiên cứu

Địa điểm và thời gian thực hiện thí nghiệm

Thí nghiệm được triển khai thực hiện tại xã

Phúc Hà (thành phố Thái Nguyên) và xã Động

Đạt (huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên)

Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Xuân năm

2017, bắt đầu từ 5 tháng 2 năm 2017 đến 15

tháng 6 năm 2017 tại gia đình bà Vi Thị Duyên

(xã Động Đạt – huyện Phú Lương) và gia đình

ông Trương Văn Ngọc (xã Phúc Hà – huyện

Phú Lương)

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu

nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 8 công thức

(8 giống ngô thí nghiệm), diện tích ô thí

nghiệm 14 m2

(5 x 2,8 m) với 3 lần nhắc lại

Biện pháp kĩ thuật

Làm đất: Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ

dại, đảm bảo độ ẩm đất lúc gieo khoảng 75 -

80% độ ẩm tối đa đồng ruộng

Kỹ thuật gieo: Mật độ: 5,7 vạn cây/ha (70 x 25

cm), mỗi ô gieo 4 hàng Gieo sâu 3 - 4 cm, mỗi

hốc gieo 2 hạt, khi ngô có 3 - 4 lá thì tỉa lần 1,

đến 5 - 6 lá thì tỉa lần 2 và để mỗi hốc 1 cây

Phân bón: Lượng phân bón cho 1 ha: 10 tấn

phân chuồng + 140 kg N + 70 kg P205 + 90 kg

K2O Cách bón:

+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và phân lân

+ 1/4 lượng đạm

+ Bón thúc lần 1 khi ngô 4 - 5 lá: 1/4 lượng

đạm + 1/2 lượng Kali

+ Bón thúc lần 2 khi ngô 7 - 9 lá: 1/2 lượng

đạm + 1/2 lượng Kali

Chăm sóc: Khi ngô 4 - 5 lá: Xới vun nhẹ

quanh gốc kết hợp với bón thúc lần 1 Khi

ngô 7 - 8 lá: Xới xáo diệt cỏ dại kết hợp bón

thúc lần 2 và vun cao chống đổ Tưới nước:

Tưới nước, đảm bảo cho đất đủ ẩm (khoảng

70 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng) ở 3 thời

kỳ: Khi ngô 6 - 7 lá; khi ngô xoáy nõn (trước trỗ cờ 10 - 12 ngày); khi ngô thụ phấn xong -

chín sữa (sau ngô trỗ cờ từ 10 - 15 ngày)

Các chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi của giống ngô được áp dụng theo QCVN

01-56:2011 của Bộ Nông nghiệp & PTNT

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu của các lần nhắc lại là trung bình của các số liệu thu được từ các cây theo dõi ô thí nghiệm Các số liệu khi tính toán được xử lý trên Excel và phần mềm SAS 9.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Các giai đoạn sinh trưởng phát dục của các

tổ hợp ngô thí nghiệm vụ xuân năm 2017

Thời gian từ gieo đến trỗ cờ của các tổ hợp ngô thí nghiệm dao động từ 70 - 74 ngày (Phúc Hà) và từ 71 - 75 ngày (Động Đạt) Trong thí nghiệm giống MRI-2 trỗ cờ muộn nhất, kể cả 2 địa điểm nghiên cứu (Phúc Hà:

74 ngày và Động Đạt: 76 ngày) Các tổ hợp còn lại trỗ cờ sớm hơn hoặc tương đương đối chứng ở cả Phúc Hà và Động Đạt Thời gian

từ gieo đến tung phấn của các tổ hợp ngô thí nghiệm biến động từ 72 - 75 ngày (Phúc Hà)

và từ 72 - 78 ngày (Động Đạt) Khoảng cách giữa tung phấn - phun râu của các tổ hợp ngắn, dao động từ 1 - 2 ngày, đảm bảo thuận lợi cho quá trình thụ phấn, thụ tinh và hình thành hạt Thời gian sinh trưởng dao động từ

118 – 120 ngày (Phúc Hà) và 119 – 120 ngày (Động Đạt), với thời gian sinh trưởng này các giống ngô đều thuộc nhóm chín trung bình

Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính

và chống đổ của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ Xuân 2017

- Sâu đục thân (Chilo partellus): Các tổ hợp

MRI-4 và MRI-9, MRI-3 còn lại bị sâu đục thân hại với tỷ lệ thấp (<5% số cây bị sâu đục), được đánh giá ở điểm 1, tương đương

với đối chứng (kể cả 2 địa điểm nghiên cứu)

Các giống còn lại có tỷ lệ sâu đục thân hại trong khoảng từ 5 - < 15%, được đánh giá ở

điểm 2 (tại hai điểm nghiên cứu)

Trang 3

Bảng 1 Các thời kỳ phát dục và thời gian sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai

thí nghiệm vụ xuân năm 2017

Đơn vị: Ngày

Chỉ tiêu

Tổ hợp

Thời gian từ gieo đến

Phúc

Động Đạt

Phúc

Động Đạt

Phúc

Động Đạt

Phúc

Động Đạt

Bảng 2 Mức độ nhiễm một số loại sâu hại chính của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017

Đơn vị tính: Điểm

Chỉ tiêu

Tổ hợp

Phúc Hà Động Đạt Phúc Hà Động Đạt Phúc Hà Động Đạt

Bảng 3 Tình hình nhiễm bệnh đốm lá của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017

Tổ hợp Bệnh khô vằn (% cây hại) Bệnh đốm lá (Điểm)

- Sâu đục bắp (Heliothis zea và H armigera):

Các tổ hợp ngô thí nghiệm tại xã Phúc Hà và

xã Động Đạt bị sâu đục bắp hại với tỷ lệ thấp

(<5% số bắp bị sâu đục), được đánh giá ở

điểm 1, tương đương với đối chứng

- Rệp hại (Rhopalosiphum maidis): Theo dõi

thí nghiệm chúng tôi thấy vụ xuân năm 2017,

hầu hết các tổ hợp thí nghiệm bị rệp hại cờ,

tuy nhiên mức độ hại nhẹ (có từ một đến một

vài quần tụ rệp trên lá cờ) được đánh giá ở

điểm 2, tương đương với đối chứng

- Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani f.sp

Sasakii): Tỷ lệ cây bị bệnh khô vằn của các tổ

hợp ngô thí nghiệm biến động từ 4,69 - 11,08% (Phúc Hà) và từ 4,59 - 10,8% (Động Đạt) Hai giống MRI-4 và MRI-9 là hai giống

có tỷ lệ cây nhiễm bệnh khô vằn nhẹ hơn so với giống đối chứng (CP.111) và các giống khác ở cả hai điểm nghiên cứu

- Bệnh đốm lá (Helminthoprium maydis): Các

tổ hợp ngô thí nghiệm bị bệnh đốm lá từ rất nhẹ đến nhẹ, được đánh giá ở điểm 1 và điểm

2 Trong đó giống MRI-4 và MRI-9 (cả 2 địa điểm nghiên cứu) bị nhiễm bệnh rất nhẹ (1 - 10% tỷ lệ diện tích lá bị bệnh), được đánh giá

Trang 4

ở điểm 1 Các giống còn lại bị nhiễm bệnh

nhẹ (11 - 25% tỷ lệ diện tích lá bị bệnh), được

đánh giá ở điểm 2 (cả 2 địa điểm nghiên cứu)

Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017

- Số bắp/cây: Số bắp/cây của các tổ hợp ngô

thí nghiệm dao động từ 1 - 1,2 bắp (cả 2 địa

điểm nghiên cứu) Sai khác số bắp/cây của

các tổ hợp ngô thí nghiệm không phụ thuộc

chủ yếu vào đặc tính của giống (P > 0,05)

- Chiều dài bắp: Số liệu chỉ tiêu chiều dài bắp

cho thấy các tổ hợp ngô lai khác nhau có

chiều dài bắp sai khác nhau ở mức độ tin cậy

95% (P<0,05) tại xã Phúc Hà và 99%

(P<0,01) tại xã Động Đạt

- Đường kính bắp: Kết quả phân tích số liệu

chúng tôi nhận thấy các tổ hợp khác nhau ảnh

hưởng rõ rệt đến chỉ tiêu đường kính bắp ở

mức độ tin cậy 99% (P<0,01) tại cả hai điểm

nghiên cứu

- Số hàng hạt /bắp: Số hàng/bắp của các tổ

hợp ngô thí nghiệm dao động từ 12,9 – 14,5

hàng/bắp (Phúc Hà) và từ 12,8 - 14,8

hàng/bắp (Động Đạt) Nhìn chung số hàng

hạt/bắp phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính của

giống (P < 0,05), trong thí nghiệm giống

MRI-4 có số hàng hạt nhiều nhất (xếp nhóm

a), tiếp đến là giống MRI-9 (xếp nhóm b), các

giống này có số hàng/bắp nhiều hơn giống đối chứng CP.111 (xếp nhóm) Các tổ hợp còn lại

có số hàng/bắp ít hơn giống đối chứng (xếp nhóm c) ở cả hai điểm nghiên cứu Các giống còn lại có số hàng/bắp ít hơn giống đối chứng

- Số hạt/bắp: Số hạt/bắp của các tổ hợp ngô

thí nghiệm dao động từ 225,1 – 482,3 hạt (Phúc Hà) và từ 229,1 – 499,1 hạt (Động Đạt) Sự sai khác nhau về số hạt/bắp của các tổ hợp ngô thí

nghiệm chủ yếu là do đặc tính của giống (P < 0,01) tại cả hai điểm nghiên cứu

- Khối lượng 1000 hạt: Số liệu phân tích cho thấy khối lượng 1000 hạt của các tổ hợp ngô thí nghiệm có sự sai khác giữa các giống ở

mức độ tin cậy 95% (P<0,05) ở cả hai địa

điểm nghiên cứu Chỉ tiêu trên biến động từ 248,8 – 213,5 g (Phúc Hà) và từ 265,4 – 206,8 g (Động Đạt) Trong đó MRI-9 và MRI-4 có khối lượng nghìn hạt cao hơn giống

đối chứng (CP.111) và các tổ hợp còn lại

- Năng suất thực thu của các tổ hợp thí nghiệm biến động từ 73,68 – 84,79 tạ/ha (Phúc Hà) và từ 74,68 – 85,79 tạ/ha (Động Đạt) Các tổ hợp ngô thí nghiệm trồng tại huyện Phú Lương có năng suất thực thu cao hơn Phúc Hà Trong đó MRI-9 và MRI-4 có năng suất thực thu cao hơn giống đối chứng (CP.111) và các tổ hợp còn lại

Bảng 4 Số bắp/cây, chiều dài bắp, đường kính bắp của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017

THL/Giống

S.bắp/

cây

C.dài bắp (cm)

D.kính bắp Số hàng hạt/bắp S.bắp/ cây

C.dài bắp

(cm)

D.kính

bắp Số hàng hạt/bắp

CP.111 (Đ/c) 1,0 16,7e 3,9e 13,9b 1,0 16,8e 3,8c 14,1b

P <0,05 <0,05 <0,01 <0,05 <0,05 <0,05 <0,01 <0,05

(Ghi chú: Trong cùng một cột, các công thức có kí tự giống nhau không sai khác ở mức tin cậy 95%)

Trang 5

Bảng 5 Số hạt/bắp và khối lượng 1000 hạt của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017

THL/Giống

Số hạt/bắp 1000 hạt (g) Khối lượng Số hạt/bắp 1000 hạt (g) Khối lượng

(Ghi chú: Trong cùng một cột, các công thức có kí tự giống nhau không sai khác ở mức tin cậy 95%)

Bảng 6 Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ xuân năm 2017

Đơn vị: tạ/ha

Chỉ tiêu

Tổ hợp

Năng suất thực thu

KẾT LUẬN

Kết quả cho thấy trong 8 tổ hợp ngô lai thí

nghiệm đã chọn ra được 2 giống có khả năng

sinh trưởng phát triển tốt có các yếu tố cấu

thành năng suất và năng suất cao đó là:

MRI-4 và MRI-9 có năng suất thực thu cao hơn đối

chứng và các tổ hợp còn lại Đưa tổ hợp

MRI-4 và MRI-9 vào khảo nghiệm sản xuất để

đánh giá chính xác hơn khả năng thích ứng

của giống Đồng thời thử nghiệm để xác định

một số biện pháp kỹ thuật như mật độ, phân

bón cho tổ hợp MRI-4 và MRI-9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Nghĩa và Hữu Vinh (2014), Cây ngô – nghiên cứu và sản xuất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

2 CIMMYT (2011), “Maize global Alliance for Improving Food Security and the livelihoods of the Resource - poor in the Developing World”,

Proposal submitted by CIMMYT and IITA to the CGIAR Consortium Boad, 1 June 2011, pp 2-9

3 International Maize and Wheat Improvement Center – CIMMYT (2008), “Marianne Banziger J

H Crouch and J Dioxon”, Maize Facts and Future, 3-8 March 2008, pp 22-27

4 James C (2010), Global Status of Commercialized biotech/GM Crops 2009, ISAAA

Brief 41 – 2009: Excutive Summary

Trang 6

SUMMARY

RESEARCHING ON THE GROWTH AND DEVELOPMENT OF HYBRID

MAIZE COMBINATIONS IN THAI NGUYEN PROVINCE

Dao Thi Thu Huong 1* , Duong Son Ha 2 , Nguyen Thi Thu Ha 1

1

College of Economics and Techniques – TNU

2

Thai Nguyen provincial Agricultural Extension Office

The research is conducted to evaluate the growth and development of hybird maize combinations cultivated in Thai Nguyen province The materials of the experiment was 8 hybird maize combinations collected in the National Corn Research Institute, including MRI-1, MRI-2, MRI-3, MRI-4, MRI-5, MRI-9, MRI-10 and CP.111 (the control) The results show that, all of these combinations have good features and high productivity Two combinations naming MRI-4 and MRI-9 combinations showed very good abilities of growth and development and high productivity MRI-4 and MRI-9 combinations was the best one interm of yield and growth, it has been proposed to be the material for further study for adaptability of the combinations

Keywords: Thai Nguyen, hybird maize, combinations, growth, development, productivity

Ngày nhận bài: 20/8/2018; Ngày phản biện: 05/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018

*

Tel: 0988 263262, Email: daothuhuong.ktnl@gmail.com

Ngày đăng: 14/01/2021, 22:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các thời kỳ phát dục và thời gian sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ xuân năm 2017 - ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ  HỢP NGÔ LAI TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 1. Các thời kỳ phát dục và thời gian sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ xuân năm 2017 (Trang 3)
Bảng 2. Mức độ nhiễm một số loại sâu hại chính của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017 Đơn vị tính: Điểm - ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ  HỢP NGÔ LAI TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 2. Mức độ nhiễm một số loại sâu hại chính của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017 Đơn vị tính: Điểm (Trang 3)
Bảng 4. Số bắp/cây, chiều dài bắp, đường kính bắp của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017 - ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ  HỢP NGÔ LAI TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 4. Số bắp/cây, chiều dài bắp, đường kính bắp của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017 (Trang 4)
Bảng 5. Số hạt/bắp và khối lượng 1000 hạt của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017 - ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ  HỢP NGÔ LAI TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 5. Số hạt/bắp và khối lượng 1000 hạt của các tổ hợp ngô lai vụ xuân năm 2017 (Trang 5)
Bảng 6. Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ xuân năm 2017 - ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ  HỢP NGÔ LAI TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 6. Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ xuân năm 2017 (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w