1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 10

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

6 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 255,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, các công ty cần chú ý xây dựng quy trình chi trả cổ tức dựa trên hai nhân tố chính là kết quả kinh doanh và chi phí lãi vay... Al-Kuwari (2009), “Determinants of the[r]

Trang 1

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Đàm Thị Phương Thảo * , Nguyễn Tiến Mạnh

Trường Đại học Công nghệ Thông tin & Truyền thông - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Chính sách cổ tức là một trong những nội dung rất quan trọng trong tài chính doanh nghiệp và đây cũng là vấn đề mà cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này là số liệu dạng bảng được thu thập chủ yếu từ các báo cáo tài chính của 39 công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán trong giai đoạn 2013 đến 2017 Nhóm tác giả đưa ra 10 biến độc lập và tiến hành đánh giá sơ bộ bằng hệ số tự tương quan Pearson, sau đó phân tích hồi quy tuyến tính và đưa

ra kết quả Nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng kiểm soát; hình thức chi trả cổ tức bằng tiền hoặc cổ phiếu; sở hữu nhà nước là các nhân tố có tác động sâu sắc đến chính sách cổ tức của các công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết Ngoài ra, các công ty cần chú ý xây dựng quy trình chi trả cổ tức dựa trên hai nhân tố chính là kết quả kinh doanh và chi phí lãi vay

Từ khóa: chính sách cổ tức, công ty cổ phần xây dựng, thị trường, chứng khoán, hồi quy

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Do khủng hoảng kinh tế trên thế giới dẫn đến

sự suy giảm tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam,

khiến cho thị trường chứng khoán gặp nhiều

biến động, đặc biệt là giá cổ phiếu lên xuống

thất thường Các doanh nghiệp và các cổ đông

rất chú trọng đến lợi ích của họ khi đầu tư cổ

phiếu vào một mã chứng khoán Thêm vào

đó, chính sách cổ tức là một thước đo thể hiện

hiệu quả hoạt động kinh doanh của một doanh

nghiệp, nó ảnh hưởng lớn đến cấu trúc vốn và

lợi nhuận của công ty

Ngành xây dựng là ngành có những đặc thù

riêng, đòi hỏi cơ cấu vốn và tỷ trọng vốn cao

bởi sản phẩm có quy mô lớn, kết cấu phức

tạp, thời gian sử dụng lâu dài và giá trị lớn

Theo mặt bằng chung, công ty nào có khả

năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế hơn sẽ ưu

tiên nhiều hơn cho việc giữ lại lợi nhuận tái

đầu tư đáp ứng nhu cầu tăng trưởng

Theo thống kê của nhóm tác giả ở bảng 2,

trong giai đoạn từ 2013 đến 2017, tỷ lệ các

công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt giảm từ

83,3% trong năm 2013 xuống còn 51,9%

trong năm 2016 và đến năm 2017 thì tăng nhẹ

lên 76,7%; Hình thức chi trả cổ tức bằng cổ

*

Tel: 0983 498333, Email: dtpthao@ictu.edu.vn

phiếu tăng dần từ 11,1% trong năm 2013 lên vọt 22,2% trong năm 2016 và giảm mạnh xuống 6,6% trong năm 2017 Hình thức chi trả bằng cả tiền mặt và cổ phiếu ngày càng được nhiều công ty áp dụng Cụ thể từ 5,6% trong năm 2013 lên 16,7% trong năm 2017 Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về chính sách cổ tức của các DN niêm yết trên thị trường [1][3] Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu sử dụng giá cổ phiếu để đo lường giá trị doanh nghiệp, trong khi giá cổ phiếu phụ thuộc rất nhiều yếu tố Do vậy, nhóm tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động trực tiếp đến chính sách cổ tức các công ty trong ngành xây dựng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hỗ trợ các công ty có được chính sách cổ tức tối ưu nhất

CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trên thế giới và tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu của về chính sách cổ tức và tác động của các nhân tố đến chính sách của các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Theo Al-Kuwari (2009), diễn biến lợi nhuận trong tương lai và số lượng cổ phiếu thường lưu hành sẽ ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách cổ tức của công ty Thước đo ảnh

hưởng của lợi nhuận hoạt động là Thu nhập trên mỗi cổ phần (X 1 ) [5]

Trang 2

Ho H (2003) cho rằng một công ty có Cơ hội

tăng doanh thu (X 2 ) cao sẽ cần nhiều nguồn

vốn bên ngoài để mở rộng tái đầu tư, vì vậy

cơ hội tăng trưởng có cùng chiều với tỷ lệ chi

trả cổ tức Cơ hội tăng doanh thu được đo

lường bằng tỷ lệ tăng trưởng doanh thu hàng

năm [8]

Tỷ số nợ (X 3 ) được một số các nghiên cứu

của Jensen cùng cộng sự (1992), Al-Malkawi

(2008) chỉ ra rằng có mối quan hệ ngược

chiều với chính sách cổ tức Một công ty có tỷ

số nợ cao sẽ chi trả cổ tức thấp để tránh các

chi phí giao dịch bên ngoài.[9] [6]

Nghiên cứu của T.Đ.Lộc và cộng sự (2015)

có đưa ra: Khả năng thanh toán (X 4 ) tương

quan tỷ lệ thuận với tỷ lệ chi trả cổ tức của

công ty [3]

Kết quả nghiên cứu của Al- Malkawi (2007)

cho rằng Quy mô công ty (X 5 ), Thời gian

niêm yết (X 6) và lợi nhuận có ảnh hưởng rất

lớn đến chính sách cổ tức của các công ty

Ngoài ra, tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của những

người bên trong công ty và Sở hữu nhà nước

(X 7) cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ

lệ chia cổ tức [7]

T.Đ.Lộc cùng cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng

Khả năng kiểm soát (X 8 ) là nhân tố ảnh

hưởng trực tiếp đến chính sách cổ tức của các

công ty niêm yết Cụ thể là, các công ty có

chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám

đốc/giám đốc có tỷ lệ chi trả cổ tức cao hơn

các công ty khác [2]

Nghiên cứu thực nghiệm tại một số thị trường

chứng khoán mới nổi của tác giả Adaoglu

(2000) chỉ ra: các công ty niêm yết trên thị

trường chứng khoán tại Istanbul sử dụng

chính sách cổ tức bằng tiền không ổn định

Các nhà đầu tư thích được chia cổ tức bằng

tiền hơn là những kỳ vọng lãi trên vốn trong

tương lai do lo ngại yếu tố rủi ro [4]

Ngoài ra, theo dữ liệu thu thập trực tiếp tại

sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam, các

công ty niêm yết tiến hành chi trả cổ tức theo

3 hình thức: Chi trả cổ tức bằng tiền (X 9 );

bằng cổ phiếu; vừa bằng tiền vừa bằng cổ

phiếu (X 10 )

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu trong nghiên cứu này được thu thập chủ yếu từ báo cáo tài chính hàng năm đã được kiểm toán và các thông tin có liên quan của 39 công ty trong lĩnh vực xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Các dữ liệu trên được thu thập cho khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017 trên trang web

“Cophieu68.vn” Dữ liệu này được chia làm hai phần, một phần để đánh giá thống kê mô

tả đưa ra một số nhận định từ dữ liệu; và một phần dữ liệu chỉ lấy của năm 2017 để đánh giá tác động của một số yếu tố đến chính sách cổ tức của các công ty lĩnh vực xây dựng

niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán [10] Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu của nghiên cứu có dạng bảng nên để

đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các Công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết Nhóm tác giả xây dựng các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức dựa trên các nghiên cứu trước đó Sau đó tiến hành đánh giá dữ liệu sơ bộ (thực hiện một số kiểm định như đa cộng tuyến; tự tương quan; phương sai sai số thay đổi; hệ số tự tương quan Pearson); cuối cùng là phân tích hồi quy tuyến tính để xem xét mối quan hệ giữa các nhân tố với nhau, và đưa ra kết quả [3]

Mô hình cụ thể có dạng: Y it = α +

Trong đó:

Biến phụ thuộc (Yit) là tỷ lệ (%) chi trả cổ tức trên mệnh giá của công ty i (i = ) ở năm t (t = 2017); Xk ((k = ) là các biến độc lập

và được diễn giải chi tiết ở bảng 1

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

Thực trạng chính sách cổ tức của các công

ty lĩnh vực xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Hình thức chi trả cổ tức

Sau khi thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp, nhóm tác giả thống kê về hình thức chi trả cổ tức tại các công ty xây dựng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Kết quả cho thấy các công ty trên áp dụng ba hình thức chi trả cổ tức như trong bảng 2, đó là: Chia cổ tức bằng tiền mặt; chia cổ tức bằng cổ phiếu; bằng cả tiền mặt và cổ phiếu

Trang 3

Bảng 1 Diễn giải cho các biến độc lập được sử dụng trong mô hình nghiên cứu

Thu nhập trên mỗi cổ phần (X 1 ) (LNST – Cổ tức trả cho cổ phiếu ưu đãi) / Số cổ phần

Tốc độ tăng doanh thu (X 2 ) [(DT2017 – DT2016)/DT2016]*100% -

Thời gian niêm yết (X 6 ) 2018 – năm công ty bắt đầu niêm yết trên TTCK + Sở hữu nhà nước (X 7 ) Biến giả, bằng 1 nếu nhà nước chiếm từ 50% trở lên

trong vốn của công ty, bằng 0 nếu ngược lại - Khả năng kiểm soát (X8) Biến giả, bằng 1 nếu công ty có chủ tịch hội đồng quản trị

kiêm tổng giám đốc hoặc giám đốc, bằng 0 nếu ngược lại - Cổ tức bằng tiền (X 9 ) Biến giả, bằng 1 nếu công ty chia cổ tức bằng tiền, bằng

Cổ tức bằng tiền và cổ phiếu

(X10)

Biến giả, bằng 1 nếu công ty chia trả cổ tức vừa bằng tiền, vừa bằng cổ phiếu, bằng 0 nếu ngược lại +

Bảng 2 Hình thức chi trả cổ tức của các công ty

Bằng tiền mặt 83.3% 71.4% 67.8% 51.9% 76.7%

Bằng cổ phiếu 11,1% 14.3% 17.9% 22.2% 6.6%

Bằng tiền mặt và cổ phiếu 5.6% 14.3% 14.3% 25.9% 16.7%

Tỷ trọng chi trả cổ tức

Bảng 3 Tỷ trọng các công ty xây dựng chi trả cổ tức

Không trả cổ tức 53.8% 46.2% 28.2% 30.8% 23.1%

Có trả cổ tức 46.2% 53.8% 71.8% 69.2% 76.9%

Trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015, tỷ trọng các công ty xây dựng trả cổ tức tăng đều, từ 42,6% lên 71,8% Sau đó giảm nhẹ vào năm 2016 còn 69,2% và tăng mạnh trở lại, lên 76,9% vào năm 2017 Có thể nói, điều kiện tăng trưởng của nền kinh tế và tỷ suất sinh lời trung bình của các công ty trong ngành xây dựng giai đoạn 2013 – 2017 được tái phục hồi

Đánh giá một số nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của các công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Bảng 4 Kết quả phân tích hồi quy

1

a Biến phụ thuộc: PCS

b Square: 0,131

c Adjusted R Square: - 0,139

d Số quan sát: 39

Trang 4

Để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố đến chính sách cổ tức của các Công ty lĩnh

vực xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch

chứng khoán, trong nghiên cứu này trước tiên

nhóm tác giả đánh giá sơ bộ về mối quan hệ

tương quan giữa các biến độc lập; và giữa các

biến độc lập với biến phụ thuộc bằng tương

quan Pearson Sau đó, sử dụng phương pháp

phân tích hồi quy tuyến tính để đánh giá tác

động của các nhân tố lên tỷ lệ % chi trả cổ tức

của các công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết

Kết quả đánh giá sự phù hợp của mô hình

bằng Pearson cho thấy kết quả mô hình phù

hợp với dữ liệu nghiên cứu, nhóm tác giả tiến

hành chạy hồi quy cho kết quả như bảng 4

Kết quả phân tích được trình bày ở bảng 4

trên cho thấy có các biến Thu nhập trên mỗi

cổ phần (X1); Tốc độ tăng doanh thu (X2);

Khả năng thanh toán (X4); Thời gian niêm yết

(X6) có tác động không lớn đến chính sách cổ

tức của các Công ty lĩnh vực xây dựng niêm

yết Một số biến như Tỷ số nợ (X3); Quy mô

công ty (X5); Khả năng kiểm soát (X8); Cổ

tức bằng tiền và cổ phiếu (X10) có tác động

cùng chiều; và Sở hữu nhà nước (X7) có tác

động ngược chiều tới chính sách cổ tức

Khả năng kiểm soát (X8) Biến khả năng

kiểm soát được sử dụng trong nghiên cứu này

là biến giả (bằng 1 nếu công ty có chủ tịch hội

đồng quản trị kiêm tổng giám đốc hoặc giám

đốc, bằng 0 nếu ngược lại) nhằm đo lường

ảnh hưởng của việc quản trị công ty đến chính

sách cổ tức của Công ty Kết quả nghiên cứu

cho thấy tỷ lệ chi trả cổ tức của các công ty có

chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám

đốc/ giám đốc cao hơn các công ty khác

0,427% Sự khác biệt về tỷ lệ cổ tức của hai

nhóm công ty này có ý nghĩa thống kê ở mức

5% Các công ty nên chú ý đến vấn đề này,

ảnh hưởng đến việc ra quyết định nhanh hay

chậm và nó dấn đến sự thành bại của các công

ty trong lĩnh vực xây dựng

Cổ tức bằng tiền và cổ phiếu (X10) Tương tự

như biến khả năng kiểm soát, biến cổ tức

bằng tiền cũng là biến giả (bằng 1 nếu công ty

chi trả cổ tức bằng tiền, bằng 0 nếu ngược lại)

nhằm đo lường ảnh hưởng của hình thức chi

trả cổ tức đến tỷ lệ cổ tức Kết quả phân tích

cho thấy các ảnh hưởng cố định chỉ ra rằng hình thức chi trả cổ tức của các công ty (trả bằng tiền hay cổ phiếu) có ảnh hưởng đến tỷ lệ cổ tức Cụ thể là, các công ty thực hiện việc chi trả cổ tức bằng tiền có tỷ lệ cổ tức cao hơn các công ty khác là 0,466% Về mặt thống kê, mối quan hệ giữa tỷ lệ cổ tức và hình thức chi trả cổ tức có ý nghĩa thống kê Hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt hay cổ phiếu sẽ thu hút các nhà đầu tư trong bối cảnh kinh tế khó khăn, đặc biệt là hình thức trả bằng tiền mặt, khả năng kiếm lời từ giao dịch chứng khoán của các nhà đầu tư Vì vậy, trong giai đoạn này cổ phiếu của các công ty nào có mức chi trả cổ tức cao thì sẽ có sức hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư Khi cổ phiếu có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư thì sẽ làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu và giá cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tăng cao hơn so với mặt bằng chung, làm tăng giá trị của công ty Công ty nào duy trì trả cổ tức bằng tiền mặt đều đặn cho các cổ đông, như vậy lợi ích hiện tại của các cổ đông được đảm bảo, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư đến cổ phiếu của công ty

Sở hữu nhà nước (X7), kết quả phân tích thống kê cho thấy các công ty nào có vốn của nhà nước cao thì việc chi trả cổ tức càng thấp, cho thấy nếu không để các công ty tự chủ động và có trách nhiệm với chính đồng vốn của mình bỏ ra để kinh doanh mà dựa vào sự bao bọc của nhà nước thì hoạt động sẽ không hiệu quả

Tỷ số nợ (X3) chiếm trong nguồn vốn có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khả năng chi trả cổ tức của các Công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết Chứng tỏ các công ty lĩnh vực xây dựng còn chưa chú trọng nhiều đến việc cân đối dòng tiền để thực hiện nghĩa vụ với các khoản nợ vay, dòng tiền giữ lại để tái đầu tư và dòng tiền trả cổ tức cho các cổ đông

Quy mô công ty (X5), biến này có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tỷ lệ chi trả cổ tức ở các công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết, cho thấy một điều rằng các công ty càng lớn thì hoạt động càng hiệu quả và tỷ lệ chi trả cổ tức cũng càng cao Chỉ tiêu này phản ánh tiềm lực tài chính và có tác động lớn đến khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ của công ty, đa số các

Trang 5

công ty chưa chú ý xem xét đến yếu tố này,

điều này có thể dẫn tới mức cổ tức được chi

trả vượt quá khả năng của công ty, công ty

không có nguồn tài trợ khác để bổ sung cho

nhu cầu vốn tái đầu tư

KẾT LUẬN

Nội dung chính của nghiên cứu này là mô tả

thực trạng chính sách cổ tức và xác định các

nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả cổ tức của

các công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết Sử

dụng số liệu báo cáo tài chính của 39 công ty

niêm yết, kết quả cho thấy chính sách cổ tức

hoàn toàn phù hợp với tình hình kinh tế Việt

Nam hiện nay khi mà nền kinh tế phải đối mặt

với rất nhiều khó khăn Kết quả nghiên cứu

này hoàn toàn phù hợp với tình hình kinh tế

Việt Nam khi nền kinh tế đang hội nhập

Ngoài ra, kết quả phân tích hồi quy còn cho

thấy khả năng kiểm soát; hình thức chi trả cổ

tức bằng tiền hoặc cổ phiếu; sở hữu nhà nước

là các nhân tố có tác động sâu sắc đến chính

sách cổ tức của các công ty lĩnh vực xây dựng

niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt

Nam Trái ngược với nhiều nghiên cứu đã

được công bố, nghiên cứu này tại các công ty

lĩnh vực xây dựng không thấy được mối quan

hệ giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và thu nhập trên

mỗi cổ phiếu, khả năng thanh toán, tốc độ

tăng doanh thu, thời gian niêm yết

Các công ty lĩnh vực xây dựng niêm yết cần

chú ý xây dựng quy trình chi trả cổ tức hợp lý

dựa trên hai nhân tố chính là kết quả kinh

doanh và chi phí lãi vay Chính sách cổ tức

phải gắn liền với quyết định đầu tư và quyết

định tài trợ, điều này các công ty phải chú ý

đến nhân tố khả năng kiểm soát và chi trả cổ

tức bằng tiền hoặc cổ phiếu Nâng cao vai trò

của ban kiểm soát, chú trọng vấn đề khả năng

kiểm soát của mình, tránh tình trạng việc ra

quyết định trong kinh doanh của công ty do

nhiều người chi phối quá sẽ làm giảm đi tính

hiệu quả của việc ra quyết định Chính sách

chi trả cổ tức cần được xây dựng dựa trên tỷ

số nợ và quy mô của công ty để giảm rủi ro

về nợ khó trả của các công ty lĩnh vực xây

dựng niêm yết khi làm ăn không hiệu quả,

nhưng vẫn thổi phồng làm tăng giá trị cổ

phiếu của công ty

Bài báo là sản phẩm khoa học của đề tài:

“Đánh giá một số nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của một số công ty cổ phần xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” có mã số T2018-07-21 được tài trợ bởi kinh phí của Trường Đại học Công nghệ thông tin & Truyền thông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ngô Thị Quyên (2016), Các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức tại các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam,

Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

2 Trương Đông Lộc (2015), “Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ

Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Số 38, tr 67-74

3 Trương Đông Lộc (2015), “Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức vủa các công ty niêm

yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”, Tạp chí Khoa học đào tạo và Ngân hàng, Số 135, tr

37-45

4 Adaoglu, Cahut (2000), “Instability in the dividend policy of Istanbul Stock Exchange Corporations: Envidence from an emerging

market”, Emerging Markets Review, 1(3), pp 252

– 270

5 Al-Kuwari (2009), “Determinants of the Dividend Policy of Companies Listed on Emerging Stock Exchanges: The Case of the Gulf

Cooperation Council Countries”, Global Economy

& Finance Journal, 2(2), pp 38 – 63

6 Al-Malkawi, Husam-Aldin.N (2008),

“Factors Influencing Corporate Dividend Decision: Evidence from Jordanian Panel Data”,

International Journal of Business, 13(2), pp

177 – 195

7 Al-Malkawi, H.A.N (2007), “Determinants of Corporate dividend policy in Jordan; an

application of the Tobit model”, Journal of economic and Administrative Sciences, 23(7), pp

44 – 70

8 Ho.H (2003), “Dividend Policies in Australia and Japan”, International Advances in Economic Research, 9(2), pp 91-100

9 Jensen, Michael C., and Wiliam H Meckling (1992), “Theory of the firm: Managerial behavior,

agency costs and ownership structure”, Journal of Financial Economic, 3, pp 305-360

10 www.cophieu68.vn

Trang 6

SUMMARY

ESTIMATING THE EFFECT OF SOME FACTORS ON DIVIDEND POLICY OF CONSTRUCTION COMPANIES POSTED UP IN VIET NAM STOCK MARKET

Dam Thi Phuong Thao * , Nguyen Tien Manh

University of Information and Communication Technology - TNU

Dividend policy is one of the important issues in corporate finance and it is also a topic that has been the heart of debate The main objective of this study is to measure determinants of dividend policy of listed construction companies Data used in the study is panel data that were collected from financial statements of 39 construction companies during the period from 2013 to 2017 The authors provided 10 independent variables and conducted a preliminary assessment using the Pearson correlation coefficient, then linear regression analysis and the results Research indicates that the ability to control; Form of payment of dividends in cash or shares; State ownership is a factor that has a profound effect on the dividend policy of listed construction companies In addition, companies need to pay attention to developing a dividend payment process based on two main factors: business results and interest expenses

Keywords: Dividend policy, Construction jont stock company, Market, Stock, regression.

Ngày nhận bài: 17/8/2018; Ngày phản biện: 04/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018

*

Tel: 0983 498333, Email: dtpthao@ictu.edu.vn

Ngày đăng: 14/01/2021, 22:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Hình thức chi trả cổ tức của các công ty - ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG  CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 2. Hình thức chi trả cổ tức của các công ty (Trang 3)
Bảng 1. Diễn giải cho các biến độc lập được sử dụng trong mô hình nghiên cứu - ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG  CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 1. Diễn giải cho các biến độc lập được sử dụng trong mô hình nghiên cứu (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm