1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THÔNG QUA PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

6 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 276,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía đông bắc của tỉnh Thái Nguyên, điều kiện tự nhiên khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, trình độ lao động không cao nhưng trong những năm qu[r]

Trang 1

THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THÔNG QUA PHÁT TRIỂN KINH TẾ

CỦA HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Nguyễn Thị Kim Phương *

Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía đông bắc của tỉnh Thái Nguyên, điều kiện tự nhiên khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, trình độ lao động không cao nhưng trong những năm qua,

Võ Nhai đã xác định lợi thế của mình so với hiều địa bàn khác của tỉnh trong phát triển kinh tế đó là: tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp theo vùng (Tiểu vùng 1 gồm 6 xã vùng cao: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn; Tiểu vùng 2 (vùng

gò đồi) gồm 5 xã: Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao; Tiểu vùng 3 (vùng thấp) gồm 3 xã và 1 thị trấn dọc đường quốc lộ 1B là: La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả) từng bước phát triển công nghiệp và dịch vụ Chính điều này đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện, từ đó, giải quyết được việc làm cho người lao động (trên 85% người lao động có việc làm thường xuyên, tỷ lệ tạo và giải quyết việc làm mới đạt từ 112,1% - trên 179,5%), nhất là việc làm

tại chỗ, mang lại sự thay đổi khá lớn trong đời sống kinh tế - xã hội địa phương

Từ khóa: Lao động, việc làm, giải quyết việc làm, lao động nông thôn, phát triển kinh tế

MỞ ĐẦU*

Khu vực nông thôn nước ta hiện có khoảng 61

triệu người, chiếm 66,9% dân số cả nước;

trong đó khu vực trung du và miền núi phía

Bắc có 9,6 triệu người, chiếm 10,7% dân số cả

nước Số người trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên

sống tại khu vực nông thôn là khoảng 46 triệu

người, chiếm 65,7% so với cả nước Theo báo

cáo điều tra lao động việc làm quý 3 năm

2016, số người đang làm việc ở khu vực nông

thôn là khoảng 36,3 triệu người, chiếm 82,7%

số người trong độ tuổi lao động ở khu vực này,

tỷ lệ thất nghiệp là 17,3%

Như vậy, giải quyết việc làm cho cư dân nông

thôn vốn là vấn đề cần quan tâm, nếu không

được giải quyết tốt sẽ cản trở đến sự phát

triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước,

tác động trực tiếp đến việc giữ gìn an ninh

chính trị, trật tự, an toàn xã hội

Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía đông

bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố

37km Toàn huyện có 14 xã và 01 thị trấn

Năm 2017, Võ Nhai có 67.637 nhân khẩu [1],

số người trong độ tuổi lao động là 44.200

người, chiếm 65,35% dân số toàn huyện Là

huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, 11/15

*

Tel: 0985 350919, Email: kimphuong48khql@gmail.com

xã, thị trấn thuộc diện đặc biệt khó khăn nên nhiều lao động nông thôn, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai còn hạn chế trong việc tiếp cận thông tin về các sàn giao dịch việc làm trong, ngoài tỉnh

Với bài viết “Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, tác giả muốn chỉ ra thực trạng việc

làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai

và đưa ra giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho lao động của địa phương

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bài viết sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chính:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu

các tài liệu về việc làm, giải quyết việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; các văn bản pháp quy về việc làm và các tài liệu thực tế để đánh giá thực trạng giải quyết việc làm của địa phương

Phương pháp phỏng vấn sâu:

+ Thực hiện phỏng vấn sâu đối với đại diện

cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương để thu thập thông tin khái quát về lao động, việc làm, các kết quả chính, những thuận lợi khó khăn cơ bản cũng như định hướng giải quyết việc làm của địa phương

Trang 2

KẾT QUẢVÀ BÀN LUẬN

Khái quát thực trạng việc làm của lao động

nông thôn huyện Võ Nhai

Võ Nhai có tỷ lệ lực lượng lao động trên dân

số tương đối cao Tính đến thời điểm năm

2017, lực lượng lao động trên toàn huyện có

44.200 người, chiếm 65,35% dân số toàn

huyện Trong đó số lao động có việc làm là

39.338 người (chiếm 89% tổng số lực lượng

lao động trong độ tuổi) Giai đoạn 2013 –

2015, trung bình mỗi năm, Võ Nhai tổ chức 10

lớp đào tạo nghề cho khoảng 300 lao động địa

phương Các lớp đào tạo nghề chủ yếu là nghề

nông nghiệp (sử dụng thuốc thu y trong chăn

nuôi, chế biến chè, chăn nuôi gà…) và phi

nông nghiệp trình độ sơ cấp (dưới 3 tháng) [2]

Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên bình

quân đạt từ 85% trở lên

Tại thời điểm năm 2017, lực lượng lao động

làm việc trong các cơ sở kinh tế cá thể phi

nông, lâm nghiệp và thủy sản là 10.484 người

(chiếm 23,72%), đa số lao động hoạt động

trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp với tỷ lệ

76,28% tổng số lao động Điều này cho thấy

cơ cấu lao động tại Võ Nhai hiện nay chủ yếu

là lĩnh vực nông, lâm nghiệp Tỷ trọng lao

động hoạt động trong lĩnh vực phi nông

nghiệp còn thấp Tuy nhiên so sánh qua các

năm từ 2013 đến 2017 cho thấy Võ Nhai đã

có những chuyển biến nhất định trong việc

chuyển dịch cơ cấu lao động tại địa phương

theo hướng phi nông nghiệp nhằm cải thiện

tình trạng kinh tế cho các hộ gia đình

Mặc dù tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công

nghiệp, thương mại và dịch vụ không cao, chỉ

chiếm khoảng trên 20% tổng số lao động trên địa bàn huyện nhưng theo thống kê năm

2017, giá trị sản phẩm (đạt 987,8 tỷ đồng) bằng 131,7% so với giá trị sản phẩm thu được

từ sản xuất nông nghiệp (750 tỷ đồng)

Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Vốn là một trong những huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, xuất phát điểm kinh tế thấp, điều kiện tự nhiên khó khăn, địa hình chia cắt, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, trình độ lao động không cao nhưng Võ Nhai

đã xác định lợi thế của mình so với nhiều địa bàn khác của tỉnh trong phát triển kinh tế đó

là: tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp theo vùng, từng bước phát triển

công nghiệp và dịch vụ

Về nông – lâm nghiệp

Võ Nhai có 561,7/845,1km2 là đất lâm nghiệp; 77,24/845,1km2

là đất nông nghiệp Địa hình phân bố thành 3 vùng rõ rệt là vùng núi cao, vùng gò đồi và vùng thấp Do vậy,

Võ Nhai đã tập trung sản xuất nông nghiệp theo từng tiểu vùng Cụ thể như sau:

Tiểu vùng 1 gồm 6 xã vùng cao: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn thích hợp cho trồng cây đặc sản và cây lâm nghiệp (chủ yếu

là rừng keo hoặc rừng khoanh nuôi bảo vệ) Tiểu vùng 2 (vùng gò đồi) gồm 5 xã: Tràng

Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao thích hợp trồng các loại cây ăn quả như bưởi diễn, bưởi hoàng, nhãn, cam

Bảng 1 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn 2013 – 2017

Ngành

Số lao

động (người)

Tỷ trọng (%)

Số lao động (người)

Tỷ trọng (%)

Số lao động (người)

Tỷ trọng (%)

Số lao động (người)

Tỷ trọng (%)

Số lao động (người)

Tỷ trọng (%)

Nông, lâm

nghiệp 35137 82,29 35254 81,85 35049 80,63 34423 78,46 33716 76,28 Công

nghiệp, xây

dựng

1518 3,56 1607 3,73 1959 4,51 2887 6,58 3408 7,71

Thương

mại, dịch vụ 6040 14,15 6212 14,42 6461 14,86 6566 14,96 7076 16,01

Nguồn: Kết xuất từ cơ sở cung cấp lao động – Cục Lao động và Việc làm

Trang 3

Tiểu vùng 3 (vùng thấp) gồm 3 xã và 1 thị

trấn dọc đường quốc lộ 1B là: La Hiên, Lâu

Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả,

thích hợp trồng các loại cây ăn quả như na, ổi,

nhãn Đặc biệt, Võ Nhai đã có cơ chế hỗ trợ

về vốn và kĩ thuật sản xuất, cây giống, phân

bón phù hợp với từng tiểu vùng đối với các

hộ nông dân để hình thành các vùng trồng cây

lâm nghiệp và cây ăn quả, cây đặc sản theo

quy mô gia trại và hướng dần đến quy mô

trang trại theo hướng sản phẩm an toàn

Võ Nhai cũng đã hỗ trợ các hộ gia đình phát

triển ngành chăn nuôi ở quy mô gia trại như

các mô hình nuôi vịt trời, bò thịt, bò cao sản,

trồng cỏ để phục vụ chăn nuôi gia súc tại các

xã Tràng Xá, La Liên

Một lãnh đạo địa phương cho biết, “Nắm rõ

đặc điểm từng loại đất của địa phương, Võ

Nhai đã đưa vào các loại cây con giống thích

hợp với từng địa bàn, hỗ trợ bà con vốn, kỹ

thuật sản xuất để phát triển kinh tế hộ theo

hướng sản xuất hàng hóa quy mô gia trại

Sắp tới, Võ Nhai sẽ tiếp tục phát huy những

kết quả đạt được, vận động các hộ tiếp tục

chuyển đổi cơ cấu cây trồng,vật nuôi phù

hợp; đồng thời hỗ trợ một số hộ đang sản

xuất quy mô gia trại mở rộng sang quy mô

trang trại ”

Các mô hình sản xuất nông nghiệp này đã góp

phần đáng kể trong việc giải quyết lao động

nông thôn tại chỗ của Võ Nhai và mang lại

thu nhập tương đối cao cho các hộ gia đình

Về công nghiệp và dịch vụ

Võ Nhai hiện có khoảng 50 doanh nghiệp và

hợp tác xã, 450 hộ cá thể hoạt động trong lĩnh

vực công nghiệp – dịch vụ gồm: sản xuất

nông cụ và sửa chữa cơ khí, khai thác khoáng

sản vật liệu xây dựng tại La Hiên, Cúc

Đường, sản xuất chế biến nông sản, thực

phẩm và một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhỏ khác song quy mô doanh nghiệp nhỏ, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, môi trường đầu tư chưa thực

sự hấp dẫn

Riêng về dịch vụ du lịch, tuy có lợi thế địa hình có dãy núi đá vôi xen lẫn núi đất trùng điệp tạo nên những thắng cảnh đẹp tự nhiên như quần thể hang động Phượng Hoàng, Suối

Mỏ Gà và hang động Nà Kháo, Hang Huyền, và nhiều di tích văn hóa, lịch sử như Mái Đá Ngườm ở xã Thần Sa là cái nôi ra đời sớm nhất của người Âu Lạc, rừng Khuôn Mánh xã Tràng Xá là nơi thành lập đội cứu quốc quân II nhưng hạ tầng phục vụ du lịch còn yếu kém, công tác quảng bá và đầu tư cho

du lịch còn hạn chế nên kết quả thu được chưa nhiều, chưa đóng góp nhiều vào việc giải quyết việc làm cho lao động địa phương cũng như phát triển kinh tế

Theo đánh giá, năm 2017, nhiều chỉ tiêu phát triển KT-XH của Võ Nhai đạt và vượt so với

kế hoạch đề ra, như: Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 987,8 tỷ đồng (tăng 122,5% so với năm 2016); giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 750 tỷ đồng (tăng 4,1% so với năm 2016); Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 15 triệu đồng/người/năm Tại các xã đạt chuẩn nông thôn mới trên 20 triệu đồng/người/năm Tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ hàng năm và phương hướng, mục tiêu năm tiếp theo từ 2013 – 2017 [2,3,4,5,6] của Phòng LĐ-TB&XH huyện Võ Nhai cho thấy, trong giai đoạn này, Võ Nhai đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra về tạo việc làm mới và giải quyết việc làm cho lao động địa phương Cụ thể như sau:

Bảng 2 Chỉ tiêu tạo việc làm mới và kết quả giải quyết việc làm từ 2013 – 2017 của huyện Võ Nhai

Năm Chỉ tiêu tạo việc làm mới (việc làm) Kết quả tạo việc làm mới (việc làm) Tỷ lệ (%)

Nguồn: Phòng Lao động, Thương binh & Xã hội huyện Võ Nhai (2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu nhiệm vụ và phương hướng công tác Lao động, Thương binh và Xã hội

Trang 4

Võ Nhai luôn đạt từ 112,1% đến 179,5% so

với mục tiêu đề ra Đây là kết quả của thể

hiện sự chú trọng vào hoạt động tạo việc làm

mới và thực hiện chính sách giải quyết việc

làm cho lao động nông thôn của địa phương

Từ thực trạng trên, ta thấy việc giải quyết việc

làm cho lao động nông thôn Võ Nhai đã đạt

được những ưu điểm như sau:

Thứ nhất, Võ Nhai có tỷ lệ lực lượng lao

động trên dân số tương đối cao (chiếm

khoảng 65% dân số toàn huyện) Đây là

nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế

nhất là đối với một huyện miền núi, chủ yếu

sản xuất nông – lâm nghiệp như Võ Nhai

Thứ hai, tỷ lệ lao động có việc làm khá lớn

(chiếm trên 90% tổng số lực lượng lao động

trong độ tuổi) Tỷ lệ lao động có việc làm

thường xuyên trên địa bàn huyện bình quân các

xã đạt trên 85% đã đảm bảo đời sống nhân dân

và góp phần phát triển kinh tế địa phương

Thứ ba, cơ cấu việc làm của lao động Võ

Nhai đã có sự chuyển dịch dần từ khu vực

nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây

dựng, dịch vụ Sự dịch chuyển này là tất yếu,

góp phần đa dạng nguồn thu nhập cho hộ gia

đình nông thôn và theo đúng xu hướng phát

triển chung Điều này cũng phản ánh sự thay

đổi trong cơ cấu kinh tế Võ Nhai trong thời

gian qua Đã xuất hiện các mô hình kinh tế

nông nghiệp hiệu quả, hình thành các vùng

sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất

hàng hóa chất lượng đáp ứng nhu cầu người

tiêu dùng và nâng cao giá trị sản xuất

Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng cần

nhận thấy rằng, giải quyết việc làm cho lao

động nông thôn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái

Nguyên còn có những hạn chế cần khắc

phục Cụ thể như sau:

Thứ nhất, sự chuyển dịch trong cơ cấu việc

làm còn chậm Điều này có nghĩa, sự chuyển

dịch cơ cấu kinh tế địa phương tuy có nhưng

còn chậm, nông nghiệp vẫn là ngành chiếm tỷ

trọng lao động rất cao (gần 80% cơ cấu lao

động toàn huyện) và cao hơn mặt bằng chung

cả nước khoảng 13% (lao động nông thôn

nước ta chiếm 66,6% số người trong độ tuổi

lao động) Trong thời gian tới, Võ Nhai cần

phấn đấu giá tăng giá trị sản lượng nhưng cần giảm số lao động trong nông nghiệp để nâng cao thu nhập cho người dân

Thứ hai, chất lượng việc làm chưa cao, thiếu tính bền vững Theo kết quả khảo sát, số lao động đang làm việc cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh khá đông nhưng đa phần

là công nhân, lao động phổ thông và tập trung trong lĩnh vực điện tử, công nghiệp phụ trợ, may mặc Do đặc thù công việc của các đơn

vị này nên thường người lao động chỉ làm việc trong một thời gian ngắn vài năm hoặc cho đến khi 35-40 tuổi Những lao động này khi không làm việc ở các doanh nghiệp, trở về địa phương sẽ tạo ra những áp lực lớn cho huyện trong vấn đề đảm bảo việc làm, thu nhập và các điều kiện sống khác

Thảo luận

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của huyện Võ Nhai thông qua phát triển kinh tế như sau:

Về nông, lâm nghiệp

Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường Phát triển sản xuất với quy mô hợp lý các loại nông sản hàng hoá

có lợi thế

Với Võ Nhai, mặc dù đất được đánh giá là xấu, không phù hợp với sản xuất cây lương thực nhưng lại khá phù hợp để phát triển cây

ăn quả, cây lâm nghiệp hoặc các mô hình chăn nuôi Do vậy, mô hình nông lâm kết hợp đã được lựa chọn vì phù hợp với điều kiện địa phương cũng như khả năng sản xuất của các hộ thì trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh Hiện nay, tại Võ Nhai, mô hình cây căn quả (cây hồng, cam, quýt, nhãn, na) được trồng thành vườn với quy mô từ vài trăm đến vài nghìn gốc; mô hình cây lâm nghiệp – cây ăn quả - cây lương thực (đỉnh đồi có độ dốc lớn trồng cây lâm nghiệp (chủ yếu là rừng keo hoặc rừng khoanh nuôi bảo vệ), dưới tán rừng chăn nuôi dê, phần lưng đồi trồng cây ăn quả (chủ yếu là cây na ở phía trên, cây nhãn, bưởi, cam, ổi phía dưới), chân núi, thung lũng trồng cây lương thực cho thu nhập vài trăm triệu/năm khá phổ biến

Trang 5

Đặc biệt, mô hình này được phổ rộng trên

nhiều xã của Võ Nhai trên cơ sở xác định thế

mạnh, khả năng cạnh tranh trên thị trường của

các sản phẩm Cụ thể như sau: xã Nghinh

Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc

Đường, Thần Sa, Vũ Chấn trồng cây lâm

nghiệp (chủ yếu là rừng keo hoặc rừng

khoanh nuôi bảo vệ); xã Tràng Xá, Liên

Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao

thích hợp trồng cây ăn quả như bưởi diễn,

bưởi hoàng, nhãn, cam; La Hiên, Lâu

Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả

trồng các loại cây ăn quả như na, ổi, nhãn

Ngoài ra, còn có các mô hình phát triển kinh

tế hộ theo hướng chăn nuôi những giống có

giá trị kinh tế cao như mô hình nuôi bò thịt

(quy mô vài chục con), nuôi vịt trời (quy mô

vài nghìn con), nuôi lợn rừng (quy mô vài

chục con)

Hỗ trợ nông dân tiếp cận sản xuất theo chuỗi

từ cây – con giống, kỹ thuật sản xuất đến bao

tiêu sản phẩm

Trong thời gian vừa qua, một số địa phương ở

khu vực miền núi phía Bắc như Hòa Bình,

Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang đã tiếp

cận sản xuất theo chuỗi tương đối tốt Võ

Nhai hiện có rất nhiều sản phẩm nông nghiệp

được đánh giá cao, được thị trường đón nhận

nhưng đa phần việc thiêu thụ sản phẩm vẫn

chủ yếu là các hộ tự tìm thị trường hoặc

thương lái tới địa phương thu mua Mặc dù,

Võ Nhai đã định hướng được người dân trong

sản xuất sản phẩm nông nghiệp an toàn nhưng

gần như chưa có hợp đồng bao tiêu sản phẩm

với các doanh nghiệp Điều này dẫn tới hệ

quả bếp bênh trong sản xuất, được mùa mất

giá hoặc bị ép giá Điển hình cho hiện tượng

này là vừa qua, tại Tràng Xá, bí đỏ bị mất giá,

không tiêu thụ được, người dân bị thua lỗ

Võ Nhai cũng chưa chú ý tới việc đăng ký

bảo hộ sở hữu cho các sản phẩm nông, lâm

nghiệp của địa phương Tính tới thời điểm

hiện tai, Võ Nhai chỉ có 1 sản phẩm được bảo

hộ dưới nhãn hiệu tập thể là “Na La Hiên”,

chưa có sản phẩm nào bảo hộ dưới dạng chỉ

dẫn địa lý trong khi tiềm năng bảo hộ các sản

phẩm nông sản của địa phương dưới dạng này

hoặc nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận

là khá lớn

Do vậy, thời gian tới, bên cạnh việc phát triển quy mô sản xuất nông, lâm nghiệp, Võ Nhai cần chú ý tiếp cận sản xuất theo chuỗi, tìm kiếm thị trường hoặc hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin thị trường, hỗ trợ bảo hộ đối với các đặc sản địa phương

Về công nghiệp và dịch vụ, thương mại

Nâng cao tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu kinh tế Lập quy hoạch các cụm công nghiệp, làng nghề; đầu tư xây dựng hệ thống chợ và trung tâm thương mại trên địa bàn, phát triển

đa dạng các loại hình dịch vụ; khai thác có hiệu quả và nâng cao chất lượng các hoạt động tài chính tín dụng, quan tâm đầu tư phát triển các khu du lịch sinh thái đã được quy hoạch, tổ chức các hoạt động quảng bá, giới thiệu các sản phẩm có lợi thế trên địa bàn huyện, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về thương mại, dịch vụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Phát triển bền vững các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện, tiếp tục tạo cơ chế thông thoáng, cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận về vốn và thị trường từ đó góp phần tạo thêm việc làm mới cho người lao động nông thôn tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hàng năm tổ chức các cuộc gặp mặt, đối thoại giữa UBND huyện, các cấp các ngành với doanh nghiệp nhằm trao đổi thông tin, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tuyên dương, khen thưởng các doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong kinh doanh, có sáng tạo trong thiết kế mẫu mã và truyền dạy nghề

Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước cấp huyện: cần tạo điều kiện để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm hiểu cơ hội đầu tư thông qua việc giới thiệu định hướng phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch các khu công nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp trong khuôn khổ pháp luật như giảm tối đa giá thuê

Trang 6

đất, đảm bảo cơ chế “Một cửa, một của liên

thông” tư vấn, giải quyết thủ tục hành chính

nhanh nhất cho các nhà đầu tư, hướng dẫn

việc làm thủ tục nhanh gọn, giải quyết và trả

kết quả đúng thời hạn cấp phép trong thời

gian ngắn nhất

KẾT LUẬN

Giải quyết việc làm cho lao động là vấn đề

được quan tâm của Đảng và Nhà nước Đối

với một địa phương miền núi, tỷ lệ đồng bào

dân tộc thiểu số cao, trình độ lao động thấp,

điều kiện tự nhiên nhiều khó khăn như Võ

Nhai, công tác giải quyết việc làm chắc chắn

sẽ có nhiều thách thức

Tuy vậy, Võ Nhai đã có nhiều nỗ lực và đưa

ra nhiều giải pháp giải quyết việc làm dựa

trên lợi thế địa phương và từng bước thay đổi

đời sống của người dân.Các mô hình phát

triển kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông –

lâm đã thực sự phát huy hiệu quả

Với hệ thống các biện pháp giải quyết việc

làm đã và đang được thực hiện, Võ Nhai đang

có những chuyển biến khá tích cực trong phát

triển KT-XH Tuy nhiên, cần thấy rằng, một

số biện pháp hiện tại đang đáp ứng khá tốt về

số lượng cũng như thu nhập cho người lao

động nhưng về lâu dài có thể trở thành áp lực

đối với địa phương trong tương lai Do đó,

cũng cần những chiến lược trong công tác giải quyết việc làm, phát triển KT-XH một cách bền vững

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cục Thống kê Thái Nguyên (2017), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2017, Thái Nguyên

2 Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội

huyện Võ Nhai (2017), Báo cáo về kết quả thực hiện chỉ tiêu nhiệm vụ công tác lao động thương binh xã hội năm 2018, phương hướng thực hiện nhiệm vụ 2018 trên địa bàn

3 Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội

huyện Võ Nhai (2016), Báo cáo về kết quả thực hiện chỉ tiêu nhiệm vụ công tác lao động thương binh xã hội năm 2016, phương hướng thực hiện nhiệm vụ 2017 trên địa bàn

4 Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội

huyện Võ Nhai (2015), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2015; Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2016

8 Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội

huyện Võ Nhai (2014), Báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2014, phương hướng, nhiệm

vụ, mục tiêu năm 2013

5 Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội

huyện Võ Nhai (2013), Báo cáo về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế năm 2013; Nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2014.

SUMMARY

ECONOMIC DEVELOPMENT AS JOB SOLUTIONS FOR RURAL LABOR IN

VO NHAI DISTRICT, THAI NGUYEN PROVINCE

Nguyen Thi Kim Phuong *

University of Sciences - TNU

Vo Nhai is a highland district located in the northeast of Thai Nguyen province, with difficult natural conditions, poor infrastructure and low labor skills In comparison with other areas of the province, economic development is focused on the development of agriculture and forestry by region (Sub-area 1 includes 6 upland communes: Nghinh Tuong, Sang Moc, Thuong Nung , Cuc Duong, Than Sa and Vu Chan, sub-zone 2 (hilly areas), including 5 communes: Trang Xa, Lien Minh, Dan Tien, Binh Long and Phuong Giao; along Highway 1B are: La Hien, Lau Thuong, Phu Thuong and Dinh Ca town) gradually develop industry and services This has contributed to promoting the economic development of the district, thereby solving the employment of workers (over 85% of workers have regular jobs, the rate of creating and creating new jobs from 112.1% to over 179.5%), especially on-the-job employment, bringing about a significant change in local socio-economic life

Keywords: labor, jobs, job solutions, rural labor, economic development

Ngày nhận bài: 22/8/2018; Ngày phản biện: 06/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018

*

Tel: 0985 350919, Email: kimphuong48khql@gmail.com

Ngày đăng: 14/01/2021, 21:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn 2013 – 2017 - THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM  CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THÔNG QUA PHÁT TRIỂN KINH TẾ  CỦA HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Bảng 1. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn 2013 – 2017 (Trang 2)
Các mô hình sản xuất nông nghiệp này đã góp phần  đáng  kể  trong  việc  giải  quyết  lao  động  nông  thôn  tại  chỗ  của  Võ  Nhai  và  mang  lại  thu nhập tương đối cao cho các hộ gia đình - THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM  CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THÔNG QUA PHÁT TRIỂN KINH TẾ  CỦA HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
c mô hình sản xuất nông nghiệp này đã góp phần đáng kể trong việc giải quyết lao động nông thôn tại chỗ của Võ Nhai và mang lại thu nhập tương đối cao cho các hộ gia đình (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w