1. Trang chủ
  2. » Toán

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN TIẾNG TRUNG QUỐC - KHOA NGOẠI NGỮ- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

4 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 271,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài việc phải hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy giảng viên còn phải kiêm nhiệm rất nhiều công tác khác như: cố vấn học tập, giáo viên chủ nhiệm, viết đánh giá chương trình, viết[r]

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN TIẾNG TRUNG QUỐC -

KHOA NGOẠI NGỮ- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Đào Thị Hồng Phượng *

Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên

TÓM TẮT

Nghiên cứu khoa học (NCKH) giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục đại học vì nó không

những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới thúc

đẩy sự phát triển của nhân loại Đối với giảng viên NCKH được xác định là nhiệm vụ trọng tâm

quan trọng bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy Bài viết nghiên cứu thực trạng NCKH của giảng viên bộ

môn tiếng Trung Quốc- Khoa Ngoại ngữ- Đại học Thái Nguyên Từ việc phân tích thực trạng đề

xuất một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH phát triển mạnh hơn

Từ khóa: đẩy mạnh, nghiên cứu khoa học, bộ môn tiếng Trung, thực trạng, giải pháp

GIỚI THIỆU**

Khoa Ngoại ngữ được thành lập theo quyết

định số 976/QĐ-TCCB ngày 31/12/2007 của

Giám đốc Đại học Thái Nguyên, là cơ sở giáo

dục đại học có nhiệm vụ đào tạo và cung cấp

nguồn nhân lực ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu

cấp bách của xã hội trong xu thế hội nhập

quốc tế hiện nay, phục vụ đắc lực cho chiến

lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

đặc biệt là khu vực trung du, miền núi phía

Bắc Hiện nay Khoa Ngoại ngữ đào tạo các

ngành sư phạm và ngôn ngữ các thứ tiếng:

Anh, Trung, Pháp, Nga, Hàn.[1]

Bộ môn tiếng Trung Quốc là một trong năm

tổ bộ môn thuộc Khoa Ngoại ngữ Hiện nay

bộ môn có 28 giảng viên (3 giảng viên làm công

tác kiêm nhiệm) trong đó có 8 giảng viên có

trình độ Tiến sĩ; 20 giảng viên có trình độ thạc

sĩ; 9 giảng viên đang học nghiên cứu sinh tại

các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA

GIẢNG VIÊN BỘ MÔN TIẾNG TRUNG QUỐC

Thành tựu

Từ khi thành lập đến nay bộ môn tiếng Trung

luôn dẫn đầu trong toàn khoa về phong trào

NCKH và tự bồi dưỡng.[2] Có được thành

tựu như vậy một phần là do trình độ nguồn

nhân lực tham gia NCKH ngày càng được

nâng cao.

*

Tel: 0917 505898, Email: daohongphuong.sfl@tnu.edu.vn

Bảng 1 Trình độ biên chế các năm

2008 2010 2012 2014 2016 2018

Tổng số

Cử nhân Thạc sỹ Tiến sỹ

Dựa vào số liệu trên cho thấy Từ khi thành lập năm 2007 bộ môn chỉ có 5 giảng viên trong đó mới chỉ có 2 giảng viên đạt trình độ thạc sỹ Đến nay số lượng giảng viên đã tăng lên 28, trong đó 100% giảng viên có trình độ Thạc sỹ, 8 giảng viên có trình độ Tiến sỹ, chiếm 28.5% So sánh với các tổ bộ môn khác trong Khoa tỉ lệ này tương đối cao Đây là một thuận lợi lớn cho bộ môn trong việc đẩy mạnh hoạt động NCKH

Trong những năm vừa qua, lãnh đạo bộ môn luôn ý thức được tầm quan trọng của việc giao lưu, tiếp thu tiến bộ về kiến thức, kỹ năng nghiên cứu của các cơ sở đào tạo có uy tín ở trong và ngoài nước Do đó bộ môn luôn ủng hộ việc các giảng viên ra nước ngoài học tập, nghiên cứu Có thể là những khóa bồi dưỡng ngắn hạn cho giảng viên, cũng có thể

là học tập dài hạn theo chương trình NCS tiến

Trang 2

sỹ Cụ thể, từ năm 2008 đến nay bộ môn đã

cử 17 giảng viên tham gia thi tuyển và xét

tuyển đào tạo tiến sỹ tại trường Đại học Quốc

gia Hà Nội và các trường đại học có uy tín tại

Trung Quốc Thông qua việc học tập giảng

viên không những có cơ hội tiếp cận sâu hơn

ngôn ngữ bản địa, nâng cao kiến thức chuyên

môn nghiệp vụ mà còn có cơ hội tiếp thu

thành tựu nghiên cứu và phương pháp nghiên

cứu tân tiến

Ngoài việc tham gia các khóa học dài hạn,

một số giảng viên của bộ môn còn thường

xuyên tham gia và báo cáo tại các hội nghị,

hội thảo chuyên ngành quốc gia và quốc tế

Việc tham gia hội thảo chuyên ngành đã đem

lại một diện mạo mới cho môi trường giao

lưu, học tập, nghiên cứu của bộ môn Khi các

giảng viên ra nước ngoài tiếp cận với những

phương pháp nghiên cứu mới, tiếp thu gợi ý

quý báu của các chuyên gia, trao đổi, học hỏi

từ những người bạn đồng nghiệp thì kiến

thức, kỹ năng về nghiên cứu của giảng viên

được cải thiện, nâng cao rõ rệt Trong năm

2016 bộ môn đã tổ chức một hội thảo chuyên

ngành có sự tham gia của các chuyên gia

ngôn ngữ trong và ngoài nước

Số lượng các công trình khoa học có thể ứng

dụng vào giảng dạy tương đối nhiều Giai

đoạn đầu khi mới thành lập, các đề tài

KH&CN mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu

mang tính chất lý thuyết như nghiên cứu các

hiện tượng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cơ

bản Từ năm 2011 trở lại đây khi các giảng

viên đã tích lũy được lượng kiến thức khoa

học và kinh nghiệm giảng dạy nhất định, các

giảng viên đã mạnh dạn đề xuất các đề tài

KH&CN sang hướng ứng dụng vào thực tế

giảng dạy như: ứng dụng các phương pháp

giảng dạy tiên tiến vào giảng dạy các kỹ năng

nghe, nói, đọc, viết; thiết kế các phần mềm hỗ trợ học tập tiếng Trung giai đoạn sơ cấp; nghiên cứu và biên soạn giáo trình các môn học dự án theo hướng tiếp cận phát triển… Đối với các đề tài khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp Đại học, cấp cơ sở hầu hết giảng viên trong bộ môn luôn tự giác, nhiệt tình tham gia Từ khi thành lập đến thời điểm tháng 7 năm 2018 bộ môn đã đạt được một số kết quả về NCKH như ở bảng 2

Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác NCKH của bộ môn vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

Chất lượng một số đề tài chưa cao, thiếu hàm lượng khoa học và công nghệ Có một số thời điểm do một trong những tiêu chí đánh giá viên chức là phải có công trình khoa học nên các giảng viên ồ ạt tham gia nghiên cứu đề tài NCKH cấp cơ sở và cấp bộ môn Điều này dẫn đến chất lượng đề tài không được đảm bảo Chiến lược hoạt động khoa học và công nghệ còn dàn trải, chưa có định hướng chủ đạo và những nghiên cứu mang tính chiến lược Số lượng các bài báo khoa học, đề tài NCKH tương đối nhiều song nội dung và mục tiêu nghiên cứu không tập trung giải quyết các vấn

đề cấp thiết phát sinh trong quá trình dạy học

Nguyên nhân

Do đội ngũ giảng viên tương đối trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm về nghiên cứu và giảng dạy Việc này dẫn đến đa phần giảng viên đều lựa chọn các đề tài nghiên cứu mang tính an toàn như các đề tài nghiên cứu lý thuyết cơ bản; so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Trung- Việt; thông qua ngôn ngữ Hán tìm hiểu văn hóa Trung Quốc…

Bảng 2 Số lượng công trình khoa học

Trang 3

Bảng 3 Tỷ lệ độ tuổi

Trong quá trình công tác một số ít giảng viên

không có hứng thú với hoạt động NCKH Số

giảng viên này sa đà vào các công việc làm

thêm, họ không có tinh thần phấn đấu hoàn

thành nhiệm vụ Khi được giao nhiệm vụ

nghiên cứu họ thực hiện trong tình trạng bị

động dẫn đến chất lượng NCKH chưa cao

Các giảng viên này thường lựa chọn các đề tài

nghiên cứu tập thể Trong quá trình nghiên

cứu không có sự kết nối nên nội dung đề tài

thiếu tính hệ thống và logic

Hiện nay 100% các giảng viên trong bộ môn

đều phải dạy vượt định mức Ngoài việc phải

hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy giảng viên

còn phải kiêm nhiệm rất nhiều công tác khác

như: cố vấn học tập, giáo viên chủ nhiệm, viết

đánh giá chương trình, viết đề cương giáo án

các môn học mới, biên soạn giáo trình và bài

tập bổ trợ môn học, học tập đáp ứng chuẩn

ngoại ngữ và tin học v.v Các công tác này

làm cho quỹ thời gian dành cho NCKH càng

thêm hạn hẹp

Giảng viên trong bộ môn 96,5% là nữ và đều

trong độ tuổi thai sản Việc mang bầu, sinh

nở, thai sản làm gián đoạn công tác NCKH,

ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng các công

trình NCKH của chị em

Giải pháp

(1) Nâng cao nhận thức cho các giảng viên về

vai trò, tầm quan trọng của hoạt động NCKH

ở trường đại học

Hiện nay một số giảng viên trong bộ môn

chưa có nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm

quan trọng của công tác NCKH Một số ít

giảng viên còn cho rằng NCKH là công việc

mất nhiều thời gian, công sức và không mang

lại hiệu quả về kinh tế Đây là một nhận định

hết sức lệch lạc và sai lầm Để giải quyết vấn

đề này lãnh đạo bộ môn cần quán triệt nhiệm

vụ NCKH đối với giảng viên, tuyên truyền về

vai trò quan trọng của NCKH trong việc trau dồi năng lực chuyên môn của mỗi cá nhân và sự phát triển của nhà trường Kết quả của NCKH cần phải được xem như một tiêu chí đánh giá về chất lượng chuyên môn của giảng viên

(2) Xây dựng cơ chế khen thưởng, kỷ luật hợp lý trong hoạt động NCKH

Việc xây dựng một quy chế khen thưởng, kỷ luật phù hợp sẽ là động lực giúp giảng viên hứng thú và nhiệt huyết hơn với công tác NCKH Để xây dựng được quy chế này bộ môn cần lấy ý kiến từ toàn thể giảng viên Hàng năm bộ môn cần tổ chức một hội nghị tổng kết công tác NCKH của bộ môn để tổng kết lại các thành tích cũng như tồn tại về NCKH trong một năm học Qua buổi tổng kết

sẽ tuyên dương và khen thưởng các cá nhân

có thành tích nổi bật về NCKH trong năm Đối với các giảng viên chưa hoàn thành nhiệm vụ về NCKH cũng cần có hình thức kỷ luật phù hợp Đây là một việc làm cần thiết đảm bảo sự công bằng về quyền lợi và nghĩa

vụ cho mọi giảng viên

(3) Tăng cường các hình thức sinh hoạt khoa học theo nhóm chuyên môn

Giải pháp này thực chất là sự phong phú hóa các hình thức sinh hoạt khoa học, tạo ra nhiều kênh trao đổi thông tin nghiên cứu, học tập lẫn nhau cho các giảng viên Đây là giải pháp đóng vai trò then chốt để nâng cao chất lượng

và tính ứng dụng của các nghiên cứu Hiện nay bộ môn có các nhóm chuyên môn như: nhóm thực hành tiếng; nhóm lý thuyết tiếng; nhóm phương pháp giảng dạy; nhóm đề án và tiếng Trung chuyên ngành; nhóm ngôn ngữ Hán và văn hóa Trung Quốc Các giảng viên trong nhóm đều là những người có chung môn học giảng dạy, chung sở thích về lĩnh vực nghiên cứu Dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng các thành viên trong nhóm có thể trao

Trang 4

đổi tài liệu, kinh nghiệm nghiên cứu, phương

pháp nghiên cứu để giúp đỡ nhau cùng tham

gia các hoạt động NCKH Các hoạt động

NCKH có thể là viết bài tham gia hội nghị,

hội thảo trong nước và quốc tế; viết bài đăng

tạp chí trong nước và quốc tế; hướng dẫn sinh

viên NCKH; tham gia đề tài KH&CN cấp đại

học, cơ sở; xuất bản sách, giáo trình, tài liệu

tham khảo…Việc nghiên cứu theo nhóm

chuyên môn sẽ tạo cơ hội và môi trường cho

hoạt động NCKH được diễn ra thường xuyên

và có hiệu quả hơn

KẾT LUẬN

Giảng dạy và NCKH là hai nhiệm vụ hàng

đầu của một giảng viên Đối với nhiệm vụ

giảng dạy nếu không hoàn thành định mức

công việc giảng viên sẽ bị xét không hoàn

thành nhiệm vụ Riêng đối với nhiệm vụ

NCKH thì đây vẫn là một nhiệm vụ mang

tính “khuyến khích” chứ chưa mang tính chất

“bắt buộc” Do đó một số giảng viên thường

lơ là nhiệm vụ này Việc đưa ra một biện

pháp hay chế tài cụ thể là rất khó vì nó ảnh

hưởng đến tâm lý giảng viên Một giảng viên phải nghiên cứu trong tình trạng bị động, không thoải mái sẽ không thể cho ra một sản phẩm có chất lượng tốt Nếu có thể tuyên truyền nâng cao nhận thức cho giảng viên; có

sự khen thưởng động viên xứng đáng và tạo

ra được một môi trường nghiên cứu thân thiện

sẽ tạo động lực giúp họ hứng thú và nhiệt huyết với nhiệm vụ NCKH hơn Việc nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu đồng nghĩa với nâng cao chất lượng đào tạo

Đây chính là cơ sở đưa Khoa ngoại ngữ trở thành đơn vị đào tạo nguồn nhân lực ngoại ngữ có chất lượng của khu vực trung du miền núi phía Bắc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quyết định số 112/QĐ-KNN ban hành ngày 08/04/2011 về việc công bố sứ mệnh và tầm nhìn Khoa Ngoại ngữ - ĐHTN

2 Báo cáo kết quả hoạt động NCKH của CBGV Khoa ngoại ngữ giai đoạn 2009-2017 (Tổ QLKH&HTQT)

ABSTRACT

SOLUTIONS TO PROMOTE SCIENTIFIC RESEARCH IN CHINESE

DEPARTMENT AT THAI NGUYEN UNIVERSITY SCHOOL OF FOREIGN

LANGUAGES

Dao Thi Hong Phuong *

School of Foreign Languages - TNU

Scientific research plays an important role in higher education because it not only contributes to

improve the quality of education but also creates new knowledge, new products for the

development of humanity Beside teaching, scientific research is also an important task for

lecturers This research is to study the current status of scientific research in Chinese Department

at Thai Nguyen University School of Foreign Languages Based on the analysis, we will propose

some effective solutions in order to promote the development of scientific research activities

Key words: promotion, scientific research, Chinese Department, fact, solution

Ngày nhận bài: 17/8/2018; Ngày phản biện: 05/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018

*

Tel: 0917 505898, Email: daohongphuong.sfl@tnu.edu.vn

Ngày đăng: 14/01/2021, 21:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Trình độ biên chế các năm - MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN TIẾNG TRUNG QUỐC -  KHOA NGOẠI NGỮ- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Bảng 1. Trình độ biên chế các năm (Trang 1)
Bảng 2. Số lượng công trình khoa học - MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN TIẾNG TRUNG QUỐC -  KHOA NGOẠI NGỮ- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Bảng 2. Số lượng công trình khoa học (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w