1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 11

NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA NỮ TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

6 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 219,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nữ trí thức đóng vai trò quan trọng trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt trong công tác giáo dục đào tạo, gia đình…Tuy nhi[r]

Trang 1

NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA NỮ TRÍ THỨC VIỆT NAM

TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Đào Thị Tân, Dương Thị Hương *

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Nói đến nữ trí thức Việt Nam là nói đến một trong những lực lượng sáng tạo và truyền bá tri thức

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nữ trí thức đóng vai trò quan trọng trên

mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt trong công tác giáo dục đào tạo, gia đình…Tuy nhiên, hiện

nay với những định kiến và áp lực xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến vị thế nghề nghiệp và hạnh

phúc gia đình của nữ trí thức Dưới góc độ nghiên cứu của bài viết này nhằm chỉ ra một số trở ngại

đối với nữ trí thức và cần phải làm gì để nâng cao vị thế của nữ trí thức Việt Nam

Từ khóa: Nữ trí thức, Tri thức, Vị thế, Vai trò, Định kiến

Trí*thức là những người lao động trí óc, có

trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn

nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng

tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra

những sản phẩm vật chất và tinh thần có giá

trị đối với xã hội Có thể khẳng định rằng, trí

thức nói chung hay nữ trí thức nói riêng là

tầng lớp có trình độ học vấn cao trong xã hội,

đặc điểm cơ bản của nữ trí thức là lao động trí

óc và tính sáng tạo Trong xã hội phong kiến

với ảnh hưởng “nữ nhân nan hóa” mà việc thi

cử công danh không có chỗ cho phụ nữ, trước

cách mạng tháng Tám nữ trí thức rất hiếm và

sự đối xử trong xã hội thuộc địa rất bất công

(Theo Nam Phong tháng 06/1918 lương của

giáo viên nữ chỉ bằng 80% thậm chí 60% giáo

viên nam) Nữ trí thức Việt Nam ngày nay

xuất thân từ các giai tầng khác nhau, được

đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau và qua

nhiều thế hệ nối tiếp nhau Do đặc thù về giới

phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như:

giáo dục, y tế; trong chuyên môn, phụ nữ

chiếm số đông trong các lĩnh vực: văn học,

ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học

tự nhiên và kinh tế Nữ trí thức cũng đã có

những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp

xây dựng và đổi mới đất nước, nhiều nữ trí

thức đạt được những giải thưởng cao quý

trong nước và quốc tế, vinh dự được Ðảng và

Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo

*

Tel: 0979 787221, Email: huongnguyenthai26@gmail.com

Nhân dân và Nhà giáo Ưu tú, Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Giải thưởng Kovalepxkai, Bông hồng vàng… Nhiều chức danh khoa học trước đây chỉ có nam giới mới có thể đạt tới thì nay ngày càng nhiều nữ trí thức đạt được (Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học ), hoặc được nhận các danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động Những vị trí trọng trách trong Nhà nước đã có phụ nữ tham gia, như: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng

và tương đương, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV chiếm 26,80%; nữ đại biểu HĐND khóa 2016 - 2021, cấp tỉnh/thành chiếm 26,46%, cấp quận, huyện, thị xã chiếm 27,51% và cấp xã, phường, thị trấn chiếm 26,70% Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, phó giáo sư là nữ chiếm 30,9%, nữ tiến

sĩ là 38,6%, và 54,6% nữ thạc sĩ.[9], tỷ lệ nữ trí thức trong tổng số người đạt tiêu chuẩn PGS, GS (từ năm 2000 - 2015) có cải thiện theo thời gian Sau 8 năm, năm 2015, tỷ lệ nữ đạt chuẩn GS (so với năm 2007) đã tăng được 1,80 lần, PGS tăng 2,52 lần [10] Theo thống

kê của Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, trong lĩnh vực giáo dục, năm học 2015 -

2016, số phó giáo sư là nữ chiếm 18,8%; số tiến sĩ là nữ chiếm 31%, số thạc sĩ là nữ chiếm 58,1% Ở cấp đại học, giảng viên nữ chiếm 51% [11], trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, nữ chiếm hơn 70% tổng số lao

Trang 2

động Nhiều nữ doanh nhân thành đạt, năng

động, tài ba, đóng góp quan trọng vào sự

nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Xét theo

thành phần kinh tế, so với nam giới thì 43,3%

nữ trí thức làm việc trong thành phần kinh tế

nhà nước, 32% làm việc trong thành phần

kinh tế tập thể, riêng trong thành phần kinh tế

ngoài Nhà nước nữ trí thức chiếm tỷ lệ 53%

Độ tuổi trung bình của nữ trí thức hiện nay là

từ 25 đến 40, khẳng định sức trẻ của trí tuệ, sự

say mê trải nghiệm cuộc sống và là lực lượng

nữ trí thức nòng cốt Nữ trí thức tập trung chủ

yếu ở thành thị, chủ yếu là 2 trung tâm lớn là

Hà Nội và Hồ Chí Minh đồng thời nữ trí thức

ở các dân tộc ít người chiếm tỷ lệ thấp

Trong giai đoạn hiện nay, nữ trí thức Việt

Nam đã dần khẳng định được vị trí bình đẳng

của mình với nam giới trong xã hội Người

phụ nữ được giải phóng khỏi sự ràng buộc

của hệ thống triết lý tư tưởng phong kiến với

gia đình để tự tin bước ra ngoài xã hội, góp

phần to lớn trong công cuộc xây dựng và phát

triển đất nước Tuy vậy, trước yêu cầu của sự

nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh

tế quốc tế, vấn đề phụ nữ nói chung, nữ trí

thức nói riêng còn có nhiều mặt hạn chế, đặt

ra nhiều thách thức như: định kiến xã hội về

giới vẫn còn nặng nề; trình độ ngoại ngữ, tin

học, kiến thức hội nhập và năng lực lãnh đạo

quản lý chưa tương xứng với yêu cầu; một bộ

phận nhỏ tinh thần tự học chưa cao, ngại học;

một số ít kém ý thức kỷ luật, phát ngôn và

làm việc tuỳ tiện, gây mất đoàn kết, làm giảm

sức mạnh của cơ quan, đơn vị, doanh

nghiệp Những hạn chế trên phần lớn

nguyên nhân đều xuất phát từ những định

kiến xã hội và áp lực đối với nữ trí thức

Một số định kiến về nữ trí thức Việt Nam

Định kiến về giới thể hiện thông qua sự nhận

thức và hành vi Trước hết, xét về mặt nhận

thức của xã hội đối với phụ nữ nói chung hay

nữ trí thức nói riêng từ xưa đến nay luôn ở thế

“yếu” Những định kiến về giới thông qua

ngôn ngữ (ví như “Đồ đàn bà”, “Biết gì mà

nói”), thông qua những niềm tin được thể

hiện qua các thước đo chuẩn mực giới truyền thống mà ít nhiều đã có những biến đổi theo những điều kiện kinh tế - xã hội Từ định kiến nhận thức, sự phân biệt giới ở một bộ phận các tầng lớp xã hội còn nặng nề Quan điểm

“trọng nam, khinh nữ” không chỉ xuất phát ở nông thôn mà còn ở thành thị, không chỉ ở nhân dân mà còn ở một số đội ngũ quản lý những người có trình độ và địa vị trong xã hội Ảnh hưởng từ tư tưởng coi thường phụ

nữ đem đến những hệ lụy về niềm tin và sự trọng dụng đối với năng lực người phụ nữ, đặc biệt là các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, các ngành về khoa học công nghệ, quản

lý hay chính trị, xã hội… Do vậy, nữ trí thức cần được nhận thức dựa trên những phẩm chất chân chính, năng lực trí tuệ

Xét về mặt hành vi, nữ trí thức là lực lượng

có học vấn cao, được đào tạo bài bản chuyên sâu tuy nhiên họ đối mặt với việc lựa chọn nghề nghiệp eo hẹp cả về số lượng và chất lượng Chính định kiến hành vi đối với năng lực của người phụ nữ không những giới hạn

nữ trí thức trong những nghề nghiệp (như giáo viên cấp dưới các cấp, kế toán, nhân viên văn phòng, nhân viên đào tạo) mà còn giới hạn về độ an toàn của nghề nghiệp với những nhiệm vụ được giao thường không mang tính thử thách, không phát huy được khả năng sáng tạo, năng lực của bản thân Sự ghi nhận

về chuyên môn, sự cống hiến và sự trưởng thành trong công việc của nữ trí thức được xếp sau nam giới Việc một bộ phận nữ trí thức không có việc làm là điều tất yếu khi chưa có sự nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn, đào tạo, sử dụng nữ trí thức đúng đắn Theo Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam, quý 4 năm 2017 tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi năm

2017 phân theo vùng và phân theo giới ở nữ giới là 455,1 nghìn người (chiếm 42,5%) [1, tr.4] trong tổng số lượng người thát nghiệp trong độ tuổi chia theo giới tính, trong đó ở trình

độ đại học thất nghiệp nhiều hơn cao đẳng, ở nông thôn thất nghiệp nhiều hơn ở đô thị

Trang 3

Định kiến về áp lực bản thân và trách nhiệm

gia đình của nữ trí thức Đối với nữ trí thức,

bên cạnh những rào cản xã hội đã định sẵn

cho họ thì tâm lý giới cũng là một bức tường

kìm hãm sự phát triển, thăng tiến về nghề

nghiệp Bản thân nữ trí thức vẫn thiếu ý chí,

thiếu tự tin, an phận thủ thường, bằng lòng

với hiện thực; không chịu được áp lực công

việc, ngại thay đổi, ngại phấn đấu, đặt công

việc gia đình cao hơn công việc cơ quan…Tại

sao người nữ trí thức lại có tư thế an phận, dễ

dàng chấp nhận hiện thực? sự an phận này

dường như chỉ xuất hiện ở nữ giới mà ít xuất

hiện ở nam giới? có thể lí giải một trong số

những nguồn gốc của tâm lý đó là cách thức

giáo dục theo giới tính, vô hình chung tạo ra

một khuôn thước “nữ tính” như dịu dàng,

nghe lời, lắng nghe, chấp nhận, hi sinh ở

người phụ nữ Song, vấn đề cơ bản vẫn nằm ở

chính định kiến mà nữ trí thức tự xây dựng

cho mình như: là phụ nữ thì không nên va

chạm hay đối đầu, bản thân còn hạn chế về

trình độ chuyên môn, công việc gia đình là

trên hết, không muốn tiến thân, ưu tiên tiến

thân cho người chồng, xã hội chưa quan tâm

đúng mức đến nữ trí thức…Như vậy, áp lực

về bản thân mà nữ trí thức đặt ra rất nặng nề

chủ yếu là sự thiếu tự tin, sựu e ngại va chạm

và thiếu tính phản biện xã hội nên vị thế của

họ không thể nâng cao và phát triển khi họ

không vượt qua được áp lực chính mình

Một trong những khó khăn lớn đầu tiên cản

trở sự phát triển chuyên môn mà nữ trí thức

thường đề cập đó là trách nhiệm đối với gia

đình Nữ trí thức và gia đình xây dựng cho họ

các vai trò người công dân, người vợ, người

mẹ, người thầy đầu tiên của con cái Với việc

hoàn thành và hoàn thành tốt đồng thời các

vai trò, sự chi phối về mặt thời gian cũng như

thể lực, trí lực và tâm lực dẫn đến nữ trí thức

tụt hậu trong việc trau dồi chuyên môn, cập

nhật các thông tin mới, gánh nặng công việc

gia đình làm bệ đỡ cho tâm lý an phận, ít nỗ

lực phấn đấu, đặc biệt trong công tác nghiên

cứu khoa học Mặc dù, gia đình hiện đại cởi

mở hơn, sự nhận thức về bình đẳng giới đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa khắc phục được

tư duy lệch lạc về vai trò của nữ giới và nam giới trong gia đình

Trong thời đại ngày nay, để cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình tuy khó khăn nhưng vẫn

có nhiều nữ trí thức thực hiện được Để phát huy vai trò của nữ trí thức trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế xã hội, xây dựng gia đình Việt Nam phát triển bền vững và để phát triển con người Việt Nam toàn diện cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp

Một số giải pháp nhằm nâng cao vị thế của

nữ trí thức ở nước ta

Một là, khắc phục tâm lý giới ở người phụ nữ

là nhiệm vụ hàng đầu Tâm lý giới tạo cho nữ

giới luôn mặc cảm so với nam giới về công tác chuyên môn, năng lực lãnh đạo; không chỉ gặp khó khăn với đồng nghiệp nam mà còn gặp khó khăn với cả đồng nghiệp nữ do sự hẹp hòi “níu áo nhau” Nữ trí thức phải tự đổi mới nhận thức về vị trí vai trò của mình, nỗ lực vươn lên, không ỷ lại hay lệ thuộc vào gia đình hay xã hội Cần đấu tranh tâm lý giới đối với bản thân, gia đình và định kiến giới về nhận thức, hành vi - đòi hỏi nữ trí thức vượt qua được các áp lực cá nhân và xã hội

Hai là, phát huy các giá trị tốt đẹp của nữ trí thức Sự kết hợp hài hòa giữa thiên chức,

truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam đối với gia đình và khẳng định chỗ đứng của mình trong xã hội, là những người “giỏi việc nước, đảm việc nhà” Nữ trí thức ở nước

ta không ngừng vươn tới mục tiêu: Xây dựng người phụ nữ Việt Nam yêu nước, có tri thức,

có sức khỏe, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu, quan tâm tới lợi ích xã hội và cộng đồng

Ba là, tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới Bình đẳng giới

giúp cho xã hội và nam giới có sự nhận thức đúng đắn về vị thế của nữ trí thức, trả lại chỗ đứng cho nữ trí thức trong việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tham gia tích cực các

Trang 4

hoạt động chính trị, chủ động phản biện xã

hội và mở rộng bình đẳng giới Bình đẳng

giới phải được thông qua các đạo luật “Luật

bình đẳng giới”, “Luật chống bạo lực gia đình”

và phải được thể hiện trong đời sống Đồng

thời, trong các cấp học ngay từ mẫu giáo cần

có sự giáo dục cho trẻ em gái định hướng về sự

tự chủ, tự tin và bình đẳng về giới

Bốn là, đẩy mạnh các chính sách ưu tiên đối

với nữ trí thức về giáo dục, đào tạo Đầu tư

giáo dục cho nữ trí thức với tầm quan trọng

không dừng ở một nhóm người hay một tầng

lớp mà là đối với sự phát triển của quốc gia

Công tác giáo dục đào tạo nữ trí thức có hiệu

quả sẽ tạo ra một lực lượng lao động ưu tú,

một nguồn nhân lực chất lượng cao là cầu nối

giữa gia đình và xã hội, một thế hệ mới xây

dựng đất nước Cần huy động ngân sách cho

nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ,

giáo dục và đào tạo, xây dựng cơ chế, chính

sách đãi ngộ, khuyến khích xứng đáng đối

với nữ trí thức có thành tích cao trong

công tác

Năm là, phát huy vai trò của Hội nữ trí thức

Việt Nam Với vai trò là một tổ chức xã hội

tập hợp lực lượng nữ trí thức, kể cả đội ngũ

nữ trí thức sinh sống và làm việc ở nước

ngoài; tạo điều kiện cho nữ trí thức không chỉ

chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và giúp đỡ nhau

trong công việc, hoạt động xã hội mà còn là

tổ chức bảo vệ quyền lợi và phát triển cho nữ

trí thức Không ngừng huy động các nguồn

lực để phục vụ công tác đào tạo nguồn nhân

lực nữ, đào tạo nữ trí thức trẻ

Sáu là, Đảng và Nhà nước cần phát triển hơn

nữa các dịch vụ xã hội về gia đình Sinh thời,

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng hết mực quan

tâm đến phát huy vai trò phụ nữ trong các

hoạt động kinh tế - văn hóa – xã hội, Người

cho rằng các sở, ban, ngành, phải lập nhà trẻ,

vườn trẻ, nhà ăn để phụ nữ yên tâm công tác,

lao động sản xuất Người nói: “Muốn cho

người mẹ sản xuất tốt thì cần phải tổ chức

những nơi gửi trẻ, những lớp mẫu giáo”

[4,tr.295]; “nhà ăn công cộng càng thêm

nhiều, thì phụ nữ sẽ rảnh rang để tham gia lao động, như vậy phụ nữ mới thật sự được giải phóng, nam giới mới thật sự bình quyền” [4, tr.370] Nhà nước đầu tư phát triển rộng khắp các dịch vụ liên quan đến gia đình với chi phí hợp lý là một trong những điều kiện quan trọng nhằm giải phóng chị em phụ nữ nói chung và nữ trí thức nói riêng khỏi “gánh nặng” về chăm sóc gia đình, để có nhiều cơ hội hơn phát huy năng lực, trí tuệ nâng cao vị thế của mình trong mọi lĩnh vực, hướng tới phát triển toàn diện bản thân, tiến bộ xã hội

và bình đẳng giới

Bảy là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ nữ trí thức Nữ trí thức là một

bộ phận tinh hoa của trí thức Việt Nam, có trình độ sâu rộng, luôn kiên trì nỗ lực hoàn thành công tác và xây dựng hạnh phúc gia đình Cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vị trí, vai trò to lớn của họ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đồng nghĩa với việc xây dựng gia đình và các thế hệ con người Việt Nam phát triển bền vững Thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành các cơ chế, chính sách hợp lý để tạo môi trường cho

nữ trí thức phấn đấu, cống hiến và phát triển Tiếp tục lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới, tăng cường tiếng nói của nữ trí thức trong việc xây dựng, hoạch định cơ chế, chính sách pháp luật liên quan đến phụ nữ Lãnh đạo có hiệu quả quá trình xây dựng gia đình Việt Nam nói chung, gia đình trí thức nói riêng ấm

no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ, bền vững, tạo điều kiện giải phóng phụ nữ, để nữ trí thức học tập, cống hiến phát triển

Nâng tầm vị thế nữ trí thức Việt Nam hiện nay đồng nghĩa đề cao vai trò của thế mạnh nội lực của đất nước Để nâng cao vị thế nữ trí thức Việt Nam hiện nay, cũng là một cuộc cách mạng “to và khó” đối với chính bản thân chị em phụ nữ và toàn xã hội Cho nên để phát triển lực lượng nữ trí thức một cách toàn diện, nâng tầm phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới chúng ta cần để thực hiện đồng thời cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Lao động – Thương binh và xã hội – Tổng

cục Thống kê (2017), Bản tin cập nhật thị trường

lao động Việt Nam, số 16, quyw 4 năm 2017

2 Ngô Thị Tuấn Dung, Vũ Thị Cúc (2008),

Những vấn đề lý luận cơ bản về giới và kinh

nghiệm giải quyết vấn đề giới ở một số nước trên

thế giới, Nxb Viện Gia đình và Giới, Hà Nội

3 Trần Thị Minh Đức (2008), Các thực nghiệm

trong tâm lý học xã hội, Nxb Đại học Quốc gia,

Hà Nội

4 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

5 Hoàng Bá Thịnh (2008), Giáo trình xã hội học

về giới, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội

6 Nguyễn Thị Tuyết (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học Việt Nam theo hướng bình đẳng giới, Luận án tiến sỹ quản lý giáo dục

7 Web:http://www.gso.gov.vn

8 Web:http://www.tapchicongsan.org.vn

9 http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien- dan/item/1906-vai-tro-vi-the-cua-nu-tri-thuc-viet-nam-trong-phat-trien-ben-vung.html

10 http://daidoanket.vn/mat-tran/vai-tro-nu-tri-thuc-trong-phat-trien-tintuc387032

11.http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/101006 7/0/38279/Dao_tao_boi_duong_doi_ngu_tri_thuc_ nu_trong_thoi_ky_cong_nghiep_hoa_hien_dai_ho a_va_hoi_nhap_quoc.

SUMMARY

ADVANCINGTHE POSITION OF VIETNAMESE INTELLECTUAL

WOMEN IN TODAY’S TIME

Dao Thi Tan, Duong Thi Huong *

University of Economics and Bussiness Administration - TNU

Vietnamese intellectual women is a creative force as well as the diffusion of knowledge In the process of industrialization and modernization of the country, intellectual women play an important role in all social economy sectors, especially in education, training and family However, the prejudices and SOCIAL pressures have significantly affected intellectual women’s career and happiness in family life This research aims to point out some of the obstacles for intellectualwomen and suggestions for improving the status of Vietnamese intellectual women in the current period

Keywords: Intellectual women, Knowledge, Education, Position, Prejudice

Ngày nhận bài: 27/8/2018; Ngày phản biện: 02/10/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018

* Tel: 0979 787221, Email: huongnguyenthai26@gmail.com

Ngày đăng: 14/01/2021, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w