1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀM DẠNG PHÙ HỢP TRONG NỘI SUY TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ

5 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 400,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại các điểm nội suy trên hình 6 do không thể hiện điểm chốt nào nên có thể nhận thấy kết quả là không có điểm nào trùng nhau về giá trị giữa phương pháp hàm dạng lý thuyết v[r]

Trang 1

SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀM DẠNG PHÙ HỢP

TRONG NỘI SUY TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ

Phạm Thành Long *1 , Lê Thị Thu Thủy 1 , Nguyễn Hữu Thắng 1 , Lê Đức Độ 2

1 Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – ĐH Thái Nguyên,

2 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

TÓM TẮT

Các đại lượng vật lý tồn tại dưới dạng các trường liên tục như nhiệt độ, độ ẩm, âm thanh, ánh sáng… rất phổ biến trong kỹ thuật Khi khảo sát các trường này, do tính liên tục của nó nên có thể giảm chi phí tính toán bằng cách nội suy Ngoài các điểm chốt có dữ liệu mẫu, các điểm nội suy có

độ chính xác phụ thuộc vào dạng hàm nội suy và mật độ các điểm chốt lớn hay nhỏ Bài báo này

so sánh hai kiểu hàm dạng là hàm dạng lý thuyết và hàm dạng thực nghiệm nhằm chọn kiểu phù hợp hơn khi nội suy nhiệt độ Cách làm ở đây là so sánh các kết quả nhận được của mỗi phương pháp áp dụng trên cùng một mô hình vật lý với kết quả đo được thực tế bằng cảm biến nhiệt, ở cùng vị trí Kết quả so sánh cho thấy hàm dạng thực nghiệm có độ chính xác cao hơn trong cùng điều kiện, đây là cơ sở để cải thiện chất lượng khi tiến hành nội suy một đại lượng mà chưa quan tâm đến dạng hàm

Từ khóa:Hàm dạng, điểm chốt, nội suy, nhiệt độ, trường liên tục

MỞ ĐẦU*

Nội suy là phương pháp ước tính giá trị của

các điểm dữ liệu chưa biết trong phạm vi của

một tập hợp rời rạc chứa một số điểm dữ liệu

đã biết với độ chính xác đánh giá được Độ

chính xác của phép nội suy phụ thuộc chặt

chẽ vào tính liên tục của đại lượng được nội

suy, mật độ điểm chốt và đặc biệt là dạng

hàm sử dụng trong quá trình tính toán [1,2,3]

Sai số do dạng hàm gây ra khi nội suy là sai

số phương pháp, việc xác định đúng dạng

hàm xấp xỉ có ý nghĩa quan trọng khi mật độ

điểm chốt không đủ lớn, điều này đặc biệt

quan trọng khi chi phí lấy mẫu cao

Theo [4], hàm dạng lý thuyết này được áp

dụng hiệu quả trên mô hình nội suy sai số

máy công cụ, tuy nhiên chưa có kiểm chứng

nào trong lĩnh vực nội suy trường nhiệt độ

Theo [5], hàm hồi quy thực nghiệm này có

quy trình khá phức tạp để nhận dạng mặc dù

đáp ứng yêu cầu độ chính xác kết quả Hàm

dạng lý thuyết theo [4] không cần quá trình

phức tạp này nhưng độ chính xác của nó như

thế nào so với hàm dạng thực nghiệm ở [5]

chính là mục tiêu của bài báo này

*

Tel: 0947 169291, Email: kalongkc@gmail.com

HÀM DẠNG LÝ THUYẾT VÀ HÀM DẠNG THỰC NGHIỆM

* Khái niệm hàm dạng

Hàm dạng được sử dụng phổ biến trong nội suy [6,7,8,9] và có nhiều dạng khác nhau, phù hợp các hoàn cảnh khác nhau.Xét một không gian nội suy như hình 1

Hình 1 Mô tả ảnh hưởng của các điểm chốt đến

điểm khảo sát qua hàm dạng

Theo hình 1, ảnh hưởng cường độ của các nguồn vô hướng  1 ntới điểm khảo sát pi

tính toán theo (1):

1i 1 2i 2 i

       

(1) Trong đó các hệ số N1 – Nn là các hàm dạng,

mô tả ảnh hưởng của các nguồn  1 n đến điểm khảo sát theo thứ tự đó Về cơ bản hàm dạng của một điểm chốt sẽ cho ra giá trị ảnh hưởng cực đại bằng 1 tại điểm đó và giảm dần bằng 0 tại các điểm chốt còn lại [5] Phương trình (1) diễn tả nguyên lý chồng chất tại

Trang 2

điểm khảo sát Bản thân các hàm dạng Ni có

thể xác định theo một trong hai phương pháp

sau đây

* Hàm dạng lý thuyết

Xét một cửa sổ có dạng hộp chữ nhật thuộc

vùng khảo sát như hình 2

Hình 2 Các điểm chốt và hệ quy chiếutrên vùng

khảo sát

Theo [5] hàm dạng lý thuyết cho 8 điểm chốt

trên hình 2 xác định như sau:

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

4

3

2

1

t s r

N

t s r

N

t s r

N

t s r

N

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

) 1 )(

1

)(

1

(

8

1

8

7

6

5

t s r

N

t s r

N

t s r

N

t s r

N

(2)

Hệ quy chiếu r,s,t đặt tại trọng tâm của hộp

nên có công thức chuyển trục:

c

z z t b

y y s

a

x

x

r  *;   *;   *

(3) Trong đó a, b, c xác định theo hình 2, tọa độ

trọng tâm của phần tử đang xét:

2

*

; 2

*

;

2

z y y y

x

x

(4)

Như vậy các giá trị (r, s, t) này biến thiên trong đoạn [-1,1], hệ quả là các giá trị Ni cũng thuộc đoạn [-1,1] sau khi đổi biến

* Hàm dạng thực nghiệm

Giống với hàm dạng lý thuyết, các giá trị Ni

trong phương trình (1) có thể là giá trị dừng của hàm tọa độ fi(x,y,z) là hàm khoảng cách của các tọa độ tương ứng

1( , , ) 1

( , , )

pi

M với i 1 n (5)

Hàm fi(x,y,z) ở vế trái của (5) được gọi chung

là hàm dạng thực nghiệm, Ni là giá trị dừng của hàm này tính cho các điểm khảo sát pi

khác nhau Theo hình 1, khảo sát một điểm pi

nằm bên trong của trường n điểm cực biết trước sai số( ,  1 2, , n)kể cả sai số điểm khảo sát pi Quan tâm đến các thành phần của dữ liệu đo tại điểm khảo sát pi

( , , , , , ) p i

     , quan hệ này có thể biểu diễn theo giá trị của các điểm cực đã biết (6):

(1) ( 2) ( )

(1) ( 2) ( )

M

(6)

Từ đây xác định được giá trị dừng của hàm dạng thực nghiệm đối với điểm pi:

1 (1) ( ) 1

(1) ( )

.

pi n

x

d

 

 

 

      

 

 

 

L

L

(7)

Một bộ giá trị dừng duy nhất theo (7) không

đủ để xác định được hàm dạng tổng quát, cần tiếp tục khảo các điểm khác nữa, chẳng hạn khảo sát các điểm từ p1 pmđể có được:

n p n p n pm

     

     

     

     

     

(8)

Như vậy luật hồi quy cho phép xác định được hàm dạng thực nghiệm ở nguồn thứ i như sau:

( ) ( ) ( )

1 2

(9)

Trang 3

SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀM DẠNG PHÙ HỢP

Dễ thấy giá trị nội suy (1) tính theo hàm dạng lý thuyết (2) và hàm dạng thực nghiệm (9) với cùng cường độ các điểm chốt sẽ khó đồng nhất ngoại trừ điểm chốt Nếu so sánh hai cách tính này với dữ liệu đo dùng kiểm chứng độc lập hai cách nội suy sẽ biết được độ chính xác của từng phương pháp

* Mô tả thiết bị đo

Hình 3 Cảm biến nhiệt độ sử dụng trong thí nghiệm

Hình 4 Mạch hiển thị thông số nhiệt độ sử dụng

LM35 và Arduino UNO

Cảm biến LM35 là bộ cảm biến nhiệt mạch

tích hợp chính xác cao mà điện áp đầu ra của

nó tỷ lệ tuyến tính với nhiệt độ theo thang độ

Celsius Chúng cũng không yêu cầu cân chỉnh

ngoài vì vốn chúng đã được cân chỉnh Cảm

biến LM35 hoạt động bằng cách cho ra một

giá trị hiệu điện thế nhất định tại chân Vout

(chân giữa) ứng với mỗi mức nhiệt độ

* Mô tả mô hình thí nghiệm

Trên hình 5 bố trí 8 cảm biến nhiệt, theo sơ

đồ trên hình 2 với các kích thước:

2a = 500(mm); 2c = 380(mm); 2b = 400(mm) Hai quạt thông gió làm mát bố trí ở hai đầu của nhà kính có công suất 2.5W/chiếc;

3 bóng đèn sưởi ấm bố trí rải rác trong không gian của nhà có công suất 10W/bóng;

Sử dụng một cảm biến nhiệt di động phía bên trong để đo nhiệt độ tại một điểm bất kỳ nhằm đối chứng với kết quả nội suy

Kết quả nội suy theo hai phương pháp và kết quả đo được thể hiện trên hình 6

Hình 5 Mô hình nhà kính thí nghiệm và đường khảo sát nhiệt độ 9 điểm phía trong

Trang 4

Hình 6 Kết quả nội suy theo hai phương pháp và kết quả đo đối chứng

Tại các điểm nội suy trên hình 6 do không thể

hiện điểm chốt nào nên có thể nhận thấy kết

quả là không có điểm nào trùng nhau về giá

trị giữa phương pháp hàm dạng lý thuyết và

hàm dạng thực nghiệm, điều này có thể nhận

thấy ngay từ mô hình toán

KẾT LUẬN

Rõ ràng hàm dạng lý thuyết thể hiện sự đối

xứng trong kết cấu không gian nội suy, nó rất

thuận tiện khi sử dụng do tính có sẵn của nó

Tuy nhiên khi đối chứng thực nghiệm cho

thấy độ chính xác của hàm dạng thực nghiệm

đem lại luôn vượt trội hơn so với hàm dạng lý

thuyết, kết quả sẽ luôn trùng nhau tại các

điểm lấy mẫu đo, do vậy có thể thấy rằng sai

số trong tình huống này chính là sai số do

dạng hàm chưa hợp lý mang lại (sai số

phương pháp)

Với những gì cho thấy trong bài báo này hoàn

toàn có cơ sở để tin tưởng rằng trong điều

kiện cùng một mật độ điểm mẫu,phương pháp

hàm dạng thực nghiệm luôn cho kết quả tốt

hơn do trường tham số không đối xứng lý

tưởng.Mặc dù hàm dạng thực nghiệm có chi

phí thành lập cao hơn nhưng điều này xứng

đáng với độ chính xác kết quả mà nó mang lại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 E Oktavia, Widyawan, and I W

Mustika.(2016), Inverse distance weighting and

kriging spatial interpolation for data center

thermal monitoring Proc 1st Int Conf Inf

Technol Inf Syst Electr Eng ICITISEE 2016,

pp 69–74

2 R L Wang, X Li, W J Liu, T Liu, M T

Rong, and L Zhou.(2014), Surface spline interpolation method for thermal reconstruction with limited sensor data of non-uniform placements J Shanghai Jiaotong Univ vol 19,

no 1, pp 65–71

3 M Bullo, V D’Ambrosio, F Dughiero, and M

Guarnieri.(2006), Coupled electrical and thermal transient conduction problems with a quadratic interpolation Cell Method approach IEEE Trans

Magn vol 42, no 4, pp 1003–1006

4 Long PT, Lê T.T Thuy and Thang N.H (2018),

Determining the parameter area at the request of

a physical field based on shape function technique, ICERA 2018

5 Hoe N.D (2004), Volumtric error compensation for multi-axis machine by using shape function interpolation, tạp chí khoa học

công nghệ các trường đai học kỹ thuật, số 48+49/2004

6 O C Zienkiewicz, R L Taylor, and J Z

Zhu.(2013), The Finite Element Method: Its Basis and Fundamentals- Chapter 6: Shape Functions,

Derivatives, and Integration

7 X Z Xia, Q Jiang, and Q Zhang.(2016),

Calculation of the derivative of interpolation shape function for three-dimensional natural element method vol 3839, no January

8 J B Gao and T M Shih.(1995), Interpolation methods for the construction of the shape function space of nonconforming finite elements Comput

Methods Appl Mech Eng., vol 122, no 1–2, pp 93–103.

Trang 5

ABSTRACT

COMPARISON AND SELECTION APPROPRIATE SHAPE FUNCTION

IN INTERPOLATING TEMPERATURE FIELD

Pham Thanh Long 1* , Le Thi Thu Thuy 1 , Nguyen Huu Thang 1 , Le Duc Do 2

1 University of Technology – TNU, 2

Ha Noi University of Siences and Technology

Physical quantities existing in the form of continuous fields such as temperature, humidity, sound, light are common in engineering Physical quantities existing in the form of continuous fields such

as temperature, humidity, sound, light are common in engineering When examining these fields, due to its continuity, it is possible to reduce the computational cost by interpolating Except for the key points with sample data, the interpolation points have accuracy depending on the type of interpolation function and the density of key points more or less This paper compares two types of shape functions, the theoretical and experimental functions, to select the more appropriate type when interpolating temperature The way to do this is to compare the results obtained by each method applied to the same physical model and the actual measured result by the thermal sensor at the same location The results show that the experimental shape function has higher accuracy under the same conditions This is the basis for improving quality when interpolating a quantity without considering the type of function

Keywords:Shape function, key point, interpolation, temperature, continuous field

Ngày nhận bài: 26/9/2018; Ngày hoàn thiện: 06/11/2018; Ngày duyệt đăng: 30/11/2018

*

Tel: 0947 169291, Email: kalongkc@gmail.com

Ngày đăng: 14/01/2021, 21:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Các điểm chốt và hệ quy chiếutrên vùng khảo sát  - SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀM DẠNG PHÙ HỢP TRONG NỘI SUY TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ
Hình 2. Các điểm chốt và hệ quy chiếutrên vùng khảo sát (Trang 2)
Hình 3. Cảm biến nhiệt độ sử dụng trong thí nghiệm - SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀM DẠNG PHÙ HỢP TRONG NỘI SUY TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ
Hình 3. Cảm biến nhiệt độ sử dụng trong thí nghiệm (Trang 3)
Hình 4. Mạch hiển thị thông số nhiệt độ sử dụng LM35 và Arduino UNO  - SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀM DẠNG PHÙ HỢP TRONG NỘI SUY TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ
Hình 4. Mạch hiển thị thông số nhiệt độ sử dụng LM35 và Arduino UNO (Trang 3)
Hình 6. Kết quả nội suy theo hai phương pháp và kết quả đo đối chứng - SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN HÀM DẠNG PHÙ HỢP TRONG NỘI SUY TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ
Hình 6. Kết quả nội suy theo hai phương pháp và kết quả đo đối chứng (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w