1. Trang chủ
  2. » Chứng khoán

TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH SÁCH VĂN HÓA CHO CÔNG CHÚNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI LÂM ĐỒNG

6 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 249,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này đi sâu nghiên cứu tìm hiểu thực trạng truyền thông chính sách văn hóa qua các chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng về[r]

Trang 1

TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH SÁCH VĂN HÓA

CHO CÔNG CHÚNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI LÂM ĐỒNG

Lê Phong Lê 1* , Vi Thị Phương 2

1 Trường Đại học Đà Lạt,

2

Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Trong nghiên cứu truyền thông hiện nay, truyền thông chính sách văn hóa luôn được đặt lên hàng đầu Bài viết này đi sâu nghiên cứu tìm hiểu thực trạng truyền thông chính sách văn hóa qua các chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng về nội dung, hình thức và các yếu tố khác Từ đó có những đánh giá, so sánh để đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị ban đầu nhằm nâng cao chất lượng truyền thông dành cho công chúng dân tộc thiểu số tại địa phương trong tương lai

Keywords: Truyền thông chính sách, văn hóa, công chúng, dân tộc thiểu số, Lâm Đồng

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Là một quốc gia đa dân tộc, việc thông tin và

truyền thông cho đối tượng công chúng dân

tộc thiểu số (DTTS) luôn được Đảng và Nhà

nước ta chú trọng trong nhiều năm qua Lâm

Đồng là một tỉnh nằm trong khu vực Tây

Nguyên, đời sống đồng bào DTTS nơi đây

còn nhiều khó khăn Việc tiếp cận với các

phương triện truyền thông đại chúng như mua

báo giấy, truy cập Internet còn hạn chế - chủ

yếu nghe đài, loa phát thanh và xem truyền

hình Đi sâu nghiên cứu tìm hiểu thực trạng

truyền thông chính sách văn hóa qua các

chương trình PTTH bằng tiếng DTTS tại Lâm

Đồng; khảo sát nhu cầu thông tin của công

chúng DTTS tại Lâm Đồng hiện nay là việc

làm cấp thiết, nhằm đưa ra một số giải pháp,

khuyến nghị ban đầu để nâng cao hiệu quả

truyền thông

NỘI DUNG

Văn hóa và truyền thông chính sách về văn hóa

Văn hóa là một lĩnh vực liên quan đến mọi

mặt của đời sống xã hội, con người Đến nay,

có hơn 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa,

điều này cho thấy văn hóa là một phạm trù

rộng lớn, trừu tượng và không dễ nắm bắt

Tuy nhiên, mỗi trường phái nghiên cứu, mỗi

nhà nghiên cứu đều có quan điểm khác nhau

Edward Burnett Tylor – nhà dân tộc học,

*

Tel: 0392 970732; Email: Lephongle212@gmail.com

nhân chủng học người Anh là người đầu tiên nêu định nghĩa thuộc loại này Năm 1871,

trong tác phẩm Primitive Culture (Văn hóa nguyên thủy), ông đã đưa ra định nghĩa: “Văn

hóa là phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đạt được” [4, tr 13] Định nghĩa của nhà nhân

học văn hóa người Anh này là định nghĩa khoa học về văn hóa ra đời sớm nhất ở Châu

Âu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định văn

hóa là một mặt căn bản của xã hội Người chỉ

rõ, công cuộc kiến thiết nhà nước có bốn vấn

đề phải chú ý đến và phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Văn hóa là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng con người mới, xã hội mới Điểm khác là ở đây, Hồ Chí Minh nói rõ hơn mục

đích của sáng tạo văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn

cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.” [6, tr 431]

Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa

Việt Nam thì cho rằng “Văn hóa là một hệ

thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích lũy qua quá

trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác

Trang 2

giữa con người với môi trường tự nhiên và xã

hội” [8, tr 10] Nhà nghiên cứu văn hóa Trần

Ngọc Thêm nêu hai giá trị của văn hóa vật thể

và phi vật thể được hình thành và phát triển

thông qua mối quan hệ nhân sinh quan, thế

giới quan của con người trong quá trình phát

triển nhân loại

Xác định đúng đắn vai trò quan trọng của văn

hóa, từ khi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo

nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo

vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển nền văn

hóa, hướng văn hóa phục vụ một cách có hiệu

quả vào sự nghiệp cách mạng Đường lối văn

hóa của Đảng ta bao gồm toàn bộ những quan

điểm có tính chiến lược để chỉ đạo lĩnh vực

văn hóa, hoạt động văn hóa “Dù chưa trực

tiếp đề cập quan điểm của Đảng đối với lĩnh

vực văn hóa, nhưng ngay từ những văn kiện

đầu tiên này, để phục vụ cho nhiệm vụ tuyên

truyền đường lối, vận động quần chúng nhân

dân tham gia cuộc cách mạng dưới sự lãnh

đạo của Đảng, Đảng ta đã rất chú trọng tới

vai trò của văn hóa, trước hết là vai trò của

bộ phận báo chí và tuyên truyền.” [4, tr 10]

Nhìn chung, các định nghĩa đều thống nhất

văn hóa có các đặc điểm sau: Thứ nhất, văn

hóa là sáng tạo của con người, thuộc về con

người, những gì không do con người làm nên

không thuộc về khái niệm văn hóa Văn hóa

xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động

và có ý thức của con người với tự nhiên, nên

văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi ấy

Thứ hai, sự thích nghi của con người với tự

nhiên là sự thích nghi có ý thức và chủ động,

có sáng tạo, phù hợp với giá trị Chân - Thiện -

Mỹ, không phải là sự thích nghi máy móc

Thứ ba, văn hóa bao gồm cả những sản phẩm

vật chất và tinh thần

Là một quốc gia đa dân tộc, việc thông tin và

truyền thông cho đối tượng công chúng dân

tộc thiểu số (DTTS) luôn được Đảng và Nhà

nước ta chú trọng trong nhiều năm qua Chỉ

thị số 39 của Thủ tướng chính phủ về việc

Đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở

miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu

số Trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông

cần: "Tăng cường đầu tư, nâng cao hiệu quả

công tác tuyên truyền bằng các phương thức phù hợp với từng vùng, từng dân tộc và bằng tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam” [10]

Nghị quyết số 22/NQ-TW của Bộ Chính trị về

Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi trong đó có lĩnh vực

truyền thông đại chúng nêu rõ: "Tăng cường

các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu thanh, máy thu hình, băng ghi hình để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình ở địa phương, phổ biến các văn hóa phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào các dân tộc " [9] Theo đó, ngoài các

hình thức truyền thông trực tiếp thì báo chí, đặc biệt là PT-TH tiếng DTTS là hai kênh truyền đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đưa thông tin đến với công chúng DTTS

Là một tỉnh nằm trong khu vực Tây Nguyên

có nhiều đồng bào DTTS cư trú, Lâm Đồng quan tâm đến vấn đề thông tin cho công chúng DTTS địa phương Cụ thể, Đài PTTH Lâm Đồng đã có chương trình tiếng Chu Ru

và Cơ Ho dành riêng cho lớp công chúng chuyên biệt này Công chúng DTTS của Đài PT-TH Lâm Đồng là lớp công chúng còn nhiều hạn chế về trình độ, ngôn ngữ, còn tồn tại nhiều vấn đề như hủ tục, phá rừng, buôn bán người, vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết nên dễ bị các thành phần chống phá chọn làm đối tượng dụ dỗ, mua chuộc, kích động Vì thế, cần được cung cấp thông tin, phổ biến các chính sách kịp thời

Thực trạng truyền thông về chính sách văn hóa cho DTTS tại Lâm Đồng

Về nội dung:

Thứ nhất, chương trình tự sản xuất So với

các địa phương khác - chủ yếu khai thác tin, bài tiếng phổ thông có sẵn từ các nguồn khác để dịch sang tiếng DTTS thì đài PT-TH Lâm Đồng là một trong số ít Đài tự sản xuất chương trình tiếng DTTS Đài PT-TH Lâm

Trang 3

Đồng đã thành lập riêng Phòng Biên tập

Tiếng DTTS trong hơn 15 năm qua và tự

hoàn thành trọn gói các sản phẩm báo chí của

mình Nhờ tự sản xuất chương trình mà nội

dung gắn bó, gần gũi với bà con DTTS Tổ

trưởng tổ phóng viên và tổ trưởng tổ phát

thanh viên của phòng có nhiệm vụ đôn đốc,

trao đổi chuyên môn và báo cáo cho lãnh đạo

phòng các hoạt động hàng tháng 8 phóng

viên sản xuất và luân phiên làm đạo diễn

chương trình 6 phát thanh viên có nhiệm vụ

dịch, đọc, hiện hình và kiểm thính

Thứ hai, đội ngũ phóng viên, biên tập viên là

người DTTS Hiện nay, nhân sự của phòng

gồm 18 người, trong đó dân tộc Kinh là 6

người, còn lại là 12 người dân tộc Cơ Ho, Mạ,

Chu Ru Phóng viên là người DTTS khiến rào

cản ngôn ngữ không còn là trở ngại, việc đi

sâu sát vào đời sống của bà con cũng thuận

lợi hơn Đội ngũ làm chương trình tiếng Chu

Ru, Cơ Ho đa phần đã công tác lâu năm, có

kinh nghiệm trong khâu dịch, đọc, hiểu rõ nét

văn hóa truyền thống, phong tục tập quán của

dân tộc mình Đội ngũ phóng viên đã được

đào tạo chuyên ngành báo chí hoặc đã được

đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí ngắn

hạn, do đó cũng đã nắm được phương thức

sản xuất tác phẩm phát thanh - truyền hình

dành cho đồng bào DTTS

Thứ ba, thông tin gương điển hình trong đời sống văn hóa chiếm ưu thế Trong tháng

01/2018, Đài đã sản xuất được 5 chương trình truyền hình Chu Ru, 8 chương trình truyền hình Cơ Ho, 13 chương trình phát thanh Cơ

Ho, 4 chương trình phát thanh Chu Ru Nội dung tập trung giới thiệu những gương điển hình trong lối sống văn hóa Việc thông tin đến công chúng DTTS những tấm gương điển hình trong đời sống văn hóa là rất cần thiết Bên cạnh đó những nội dung về xây dựng Đảng, Đoàn khối cơ sở, hoạt động của Cựu chiến binh, hội Phụ nữ cũng được đề cập Các vấn đề an sinh xã hội, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo vùng DTTS được thông tin kịp thời đến công chúng Các hoạt động văn hóa, nghề truyền thống cũng được đề cập nhưng chiếm tỉ lệ thấp

Về hình thức:

Thứ nhất, thể loại truyền thông chưa đa dạng, chưa hấp dẫn Mỗi chương trình thường có

cấu trúc 3 phần gồm Lời dạy của Bác Hồ, 3

tin và 3 phóng sự Điều này thể hiện thế mạnh của Đài nhưng cũng chính là một hạn chế khi các thể loại và chủ đề thể hiện chưa phong phú Mô hình lặp lại tương tự nhau mỗi tuần rất dễ gây nhàm chán cho người xem

Bảng 1 Cấu trúc chương trình TH – PT tiếng Cơ Ho và Chu Ru

Nội dung Lời Bác Hồ dạy

Tin tổng hợp (3) Phóng sự (4)

Lời Bác Hồ dạy Tin tổng hợp (3) Phóng sự (3) - Bài hát Truyện cổ tích thiếu nhi - Bài hát thiếu nhi (Cuối tuần)

Nguồn: Kịch bản chương trình Phòng Biên tập Tiếng DTTS, Đài PT-TH Lâm Đồng (2017, 2018)

Kết quả khảo sát 100 công chúng DTTS trong đó 50 Cơ Ho, 50 người Chu Ru ở các khu vực chia theo 2 vùng kinh tế – xã hội khác nhau: Vùng sâu, vùng xa có là xã Tu Tra - huyện Đơn Dương,

xã Phi Tô, xã Đạ Đờn – huyện Lâm Hà, xã Đà Loan – huyện Đức Trọng Vùng cận thị có xã Đạ Ròn – huyện Đơn Dương cho thấy: 57% công chúng DTTS cho rằng nội dung chưa hấp dẫn, không có chuyên mục yêu thích 75,8% công chúng nói rằng khung giờ phát sóng vào thời điểm

Trang 4

đang đi làm nên không theo dõi thường xuyên

được 42,4 % cho rằng phát thanh viên lên

hình trang phục không thay đổi thường

xuyên, giọng đọc chưa gây sự chú ý

Thứ hai, thiếu tính tương tác Công chúng là

đối tượng tiếp nhận thông tin nhưng vẫn còn

thụ động Do hạn chế về thể loại nên chương

trình chưa có các chuyên mục để người dân

có thể phản hồi hay trao đổi, đóng góp ý kiến,

trò chuyện, chia sẻ trên sóng phát thanh và

truyền hình Nội dung thông tin tuyên truyền

còn “nặng” tính một chiều

Thứ ba, trở ngại về ngôn ngữ Hạn chế lớn

nhất khi làm chương trình phát thanh và

truyền hình bằng ngôn ngữ dân tộc nói chung

và tiếng Chu Ru, Cơ Ho nói riêng luôn gặp

phải, đó là vốn từ vựng không phong phú để

dịch từ tiếng Việt sang tiếng Chu Ru, Cơ Ho

hoàn toàn Do đó, nhiều từ mới, từ ngữ

chuyên môn, khoa học, chính trị mỗi khi sử

dụng hoặc dịch đọc đều phải vay mượn Một

số từ mới, từ ngữ tương đương sau khi dịch,

chưa được thống nhất với nhau, mỗi người

dịch theo sự hiểu biết của mình nên chưa

được sử dụng để tạo thành thói quen, thông

dụng đối với khán thính giả như: sổ hộ khẩu,

thẻ bảo hiểm y tế, điện thoại di động, trung

tâm dân số kế hoạch hóa gia đình, quy định,

quyết định của thủ tướng chính phủ…

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền

thông về chính sách văn hóa cho DTTS tại

Lâm Đồng

Về phía các cơ quan quản lý cần có sự quan

tâm đầu tư hơn nữa về kỹ thuật, trang thiết bị,

nhân lực để Phòng Biên tập tiếng DTTS có

thể tiếp tục thực hiện sản xuất chương trình

tiếng dân tộc ngày càng được nâng cao hơn

Do vậy, cần sớm xây dựng, thành lập nhóm

nghiên cứu về ngôn ngữ dành cho tiếng Chu

Ru, Cơ Ho để in ấn, phát hành bộ từ điển Việt

– Chu Ru, Cơ Ho được sử dụng rộng rãi cho

nhiều đối tượng, nhất là lĩnh vực ngành phát

thanh và truyền hình

Cần tư vấn, hỗ trợ trang thiết bị tác nghiệp

phù hợp, đáp ứng yêu cầu chương trình Đồng

thời đầu tư kinh phí, chi trả định mức sản phẩm cao hơn, xứng đáng với công sức của người lao động Hiện nay máy tính phục vụ cho đội ngũ làm việc của phòng vẫn còn rất thiếu, chưa đáp ứng được quá trình sản xuất thông tin cho công chúng dân tộc thiểu số Nhà quản lý truyền thông phải thấy được truyền thông là một yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu trong tổ chức Cần phải có kỹ năng truyền thông tốt, nói phải đi đôi với làm Hiệu quả truyền thông được nâng cao khi kết quả phù hợp với mục đích đặt ra, trong mối tương quan với chi phí, nguồn lực, thời gian hợp lý, tương tác hai chiều từ cấp trên xuống

và từ cấp dưới lên, từ chính phủ xuống dân và nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội Bên cạnh đó, nhà quản lý truyền thông cần nhanh nhạy nắm bắt được đặc điểm cốt lõi của công chúng DTTS trên địa bàn công tác Từ đó, đưa ra các chiến lược truyền thông thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng có tình toán cho phù hợp với đặc điểm đời sống và nhận thức của đồng bào

Về phía nhà báo, cần mạnh dạn thay đổi cách làm Ngoài chương trình thời sự tổng hợp như hiện nay, có thể xây dựng thêm kịch bản để thực hiện các chương trình phỏng vấn, tọa đàm, dẫn chương trình ngoài hiện trường, chương trình làm phát thanh trực tiếp để tăng tính tương tác với công chúng Thường xuyên trao đổi cộng tác tin bài với các phòng ban, cơ quan báo chí cấp trung ương và khu vực Được tham dự đầy đủ các buổi hội nghị, hội thảo, lớp nghiệp vụ chuyên môn cũng như các kỹ năng mới liên quan đến hoạt động nghề nghiệp THAY LỜI KẾT

Trong hoạt động truyền thông của Việt Nam, báo chí có vai trò rất quan trọng trong việc giám sát và phản biện chính sách Truyền thông chính sách về văn hóa cho công chúng DTTS trong thời đại 4.0 cần phát huy vai trò quan trọng của báo chí nhằm hoàn thiện chính sách, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội Nhìn nhận lại thông điệp truyền thông về chính sách văn hóa cho đồng bào DTTS tại

Trang 5

Đài PT - TH Lâm Đồng là việc làm quan

trọng nhằm đưa ra một số giải pháp, khuyến

nghị ban đầu để nâng cao hơn nữa hiệu quả

truyền thông về vấn đề này Việc cung cấp

thông tin, phổ biến các chính sách văn hóa kịp

thời, đúng "đối tượng" giúp công chúng

DTTS nhận thức được chính sách văn hóa

liên quan trực tiếp đến đời sống của họ Đồng

thời giúp nhà quản lý truyền thông, các nhà

báo có "cơ hội" cùng đồng bào DTTS nơi đây

tham gia quá trình giám sát, phản biện, tạo

đồng thuận xã hội trong thực thi chính sách./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ban Dân tộc tỉnh Lâm Đồng (2013)

www.lamdong.gov.vn/viVN/a/bandantoc/Gioithie

u/Pages/Dantocthieuso.aspx

2 Mạc Đường (1983), Vấn đề dân tộc ở Lâm

Đồng, Sở Văn hóa Tỉnh Lâm Đồng

3 Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Báo Đại

biểu Nhân dân, Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn

Quốc (KOICA), Truyền thông chính sách và năng

lực tiếp nhận của công chúng, Kỷ yếu Hội thảo

Khoa học Quốc tế, tháng 10 năm 2018

4 Đỗ Đình Hãng (Chủ biên) (2006), Tìm hiểu đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

5 Đặng Thị Thu Hương (2018), Hình ảnh đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trên báo chí

Tạp chí Người làm báo, 413(7), 52-55

6 Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Tập 4 (1945 –

1946), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

7 Trần Hữu Quang (2015), Xã hội học báo chí,

Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM

8 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt

Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội

9 Bộ Chính trị, Nghị quyết số 22/NQ-TW về

Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển

kinh tế - xã hội miền núi

10 Stephen H R (1992), Ethnic Minority Media:

An International Perspective (Communication and Human Values), California, USA: SAGE

Publications

11 Thủ Tướng (1998), Chỉ thị số 39 về Đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số (Thủ

Tướng), Việt Nam

ABSTRACT

PUBLIC POLYCY COMMONUCATION

FOR ETHINIC MINORITY AUDIENCE IN LAMDONG

Le Phong Le 1* , Vi Thi Phuong 2

1

Da Lat of University,

2

University of Sciences - TNU

Communicating with ethnic minority audiences in their own language is a particularly important matter which also brings the State’s attention for years Lam Dong is a province where many ethnic minority people live, thus it also has radio, television for these particular audiences This article focuses on journalism and the audience in a unified relationship We will: firstly, research the current status of radio and television for ethnic minorities in Lam Dong in terms of content, form and other factors; secondly, survey the demand for information of people from ethnic minorities in Lam Dong province With comparison and evaluation from that, initial solutions and recommendations will be given to improve the quality of specialized journalism for local ethnic minorities in the future

Keywords: Public policy communication, Cutural, Audience, Ethinic minority, Journalism, Lam Dong

Ngày nhận bài: 03/12/2018; Ngày hoàn thiện: 26/12/2018; Ngày duyệt đăng: 28/12/2018

*

Tel: 0392 970732; Email: Lephongle212@gmail.com

Ngày đăng: 14/01/2021, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w