1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

MÔ HÌNH ĐỒNG GIẢNG DẠY TẠI KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

6 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 311,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua tổng hợp những nghiên cứu, bài viết sẽ trình bày cơ sở lí luận về mô hình dạy học đồng giảng dạy, phân tích những lợi ích cũng như những điểm cần lưu ý khi sử dụng phương thứ[r]

Trang 1

MÔ HÌNH ĐỒNG GIẢNG DẠY TẠI KHOA NGOẠI NGỮ

- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Nguyễn Thị Bích Ngọc * , Nguyễn Thị Minh Loan, Phí Thị Mùi

Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Bài viết này trình bày mô hình dạy học đồng giảng dạy (co-teaching) đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới Thông qua tổng hợp những nghiên cứu, bài viết sẽ trình bày cơ sở lí luận về mô hình dạy học đồng giảng dạy, phân tích những lợi ích cũng như những điểm cần lưu ý khi sử dụng phương thức này, từ đó đề xuất cân nhắc ứng dụng trong bối cảnh dạy học của Việt Nam, đặc biệt

là tại các cơ sở đào tạo đại học Bài viết cũng trình bày thử nghiệm thực tế mô hình trên tại Khoa Ngoại ngữ- Đại học Thái Nguyên bao gồm các bước tiến hành và bước đầu đánh giá về tính hiệu quả của mô hình này

Từ khóa: đồng giảng dạy, mô hình giảng dạy, lên kế hoạch, đánh giá, hợp tác

GIỚI THIỆU *

Mô hình đồng giảng dạy từ lâu đã được quan

tâm và đưa vào thực tiễn giảng dạy trên thế

giới, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục đặc biệt

(giáo dục chuyên biệt cho các đối tượng có

nhu cầu đặc biệt như người khuyết tật) Đồng

giảng dạy không phải là một khái niệm mới

Tuy nhiên, nó sẽ luôn là mới trong một bối

cảnh mới, với những nhu cầu học tập cụ thể

Bài nghiên cứu này tập trung giới thiệu mô

hình đồng giảng dạy kiểu tương tác giữa giáo

viên Việt Nam và giáo viên Mỹ, trong một

khóa học cụ thể về giao tiếp liên văn hóa tại

một trường đại học Việt Nam Mô hình được

coi là có hiệu quả, do sự bổ trợ lẫn nhau về

mặt kiến thức văn hóa, phong cách giảng dạy

và làm việc giữa các giáo viên Mô hình có

tính mới do chưa có tiền lệ nghiên cứu trong

bối cảnh nhấn mạnh vào các yếu tố văn hóa

với đối tác đồng giảng đến từ các nền văn hóa

khác nhau

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Đồng giảng dạy là gì?

Có nhiều định nghĩa về đồng giảng dạy đã

được đưa ra Beuwens và Hourcade (1995)

[1] đã định nghĩa đồng giảng dạy là “tái cấu

trúc các quy trình giảng dạy trong đó hai hay

nhiều nhà giáo dục có các kỹ năng riêng biệt

làm việc theo cách phối hợp để cùng nhau dạy

các nhóm học sinh về mặt kiến thức và hành

*

Tel: 0949 371386, Email: nguyenbichngoc.sfl@tnu.edu.vn

vi (tr.46) Villa, và cộng sự, (2004) [2] đã định nghĩa việc đồng giảng là “hai hoặc nhiều người chia sẻ trách nhiệm giảng dạy một số hoặc tất cả học sinh được phân vào một lớp học” (tr 3) Cook và Friend (1995) [3] đã định nghĩa việc đồng giảng dạy là “hai hay nhiều chuyên gia giảng dạy cho một nhóm đa dạng, hoặc pha trộn, trong một không gian vật lý” (tr 2) Salend (2008) [4] định nghĩa đồng giảng dạy như là một “sự sắp xếp giảng dạy, nhờ đó các giáo viên hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau giáo dục học sinh trong một lớp học giáo dục chung” (tr G-3) Giáo viên làm việc trong các thỏa thuận đồng giảng dạy phải chia

sẻ trách nhiệm và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, cung cấp hướng dẫn, đánh giá, và quản

lý lớp học và kỷ luật của tất cả học sinh Đồng giảng dạy cũng đồng nghĩa với việc dạy học hợp tác

Các định nghĩa đều có điểm chung ở việc đồng giảng dạy cần nhiều hơn một giáo viên, giảng dạy cùng nhau và cùng chia sẻ trách nhiệm soạn giảng, giảng và đánh giá học sinh

Lợi ích và thách thức của đồng giảng dạy

Trong nghiên cứu 3 năm của họ, Christine và Walther-Thomas (1997) [5] đã chỉ ra những lợi ích nổi bật và các vấn đề thường gặp phải khi họ thực hiện mô hình đồng giảng dạy trong bối cảnh giáo dục đặc biệt Mô hình này được cho là mang lại lợi ích to lớn cho sinh viên (liên quan đến khía cạnh học tập, tự tin

và lòng tự trọng, hiệu quả kỹ năng xã hội, quan hệ ngang hàng, thời gian và sự chú ý của

Trang 2

giáo viên) và giáo viên (sự hài lòng chuyên

môn, phát triển chuyên môn, hỗ trợ cá nhân)

Bên cạnh đó, các vấn đề được nêu ra bao gồm

khó khăn trong lên lịch trình cho việc cùng

chuẩn bị giáo án, lập kế hoạch cho học sinh,

mối quan tâm riêng của mỗi giáo viên và sự

hỗ trợ từ khâu quản lý hành chính

Các mô hình đồng giảng dạy

Về các mô hình đồng giảng dạy, Cook và

Friend (1995) [3] đã cung cấp 5 mô hình : (1)

kiểu hỗ trợ giảng dạy trong đó một giáo viên

giảng còn giáo viên kia hướng dẫn và hỗ trợ

người học (2) kiểu phân chia nội dung và

không gian giảng dạy trong đó người học sẽ

luân chuyển giữa các khu vực giảng dạy (3)

kiểu dạy song hành yêu cầu hai giáo viên

cùng lên kế hoạch cho bài học và sau đó phân

phối nó đồng thời cho một nửa số học sinh,

(4) kiểu dạy thay thế chia học sinh thành một

nhóm lớn và một nhóm nhỏ, giảng dạy

chuyên sâu được thực hiện cho các học sinh

có nhu cầu học tập đặc biệt, và (5) kiểu dạy

đồng đội trong đó cả hai giáo viên đều soạn

bài giảng Giáo viên liên tục thay thế vai trò

giảng chính trong các bài học cụ thể Dựa trên

các mô hình đã có, Vaughn và cộng sự (1997)

[6] cải thiện khâu hướng dẫn của mô hình hỗ

trợ giảng dạy - trong khi một giáo viên giảng

cho lớp, giáo viên kia cung cấp hướng dẫn

ngắn gọn cho từng học sinh, các cặp học sinh

hoặc các nhóm nhỏ Walther-Thomas và cộng

sự (2000) [7] đã đề xuất mô hình dạy học

tương tác Ở mô hình này, hai giáo viên trình

bày bài giảng cho cả lớp, luân phiên thay thế

vai trò của người giảng chính trong một

khoảng thời gian Do vai trò dạy chính thay

đổi thường xuyên, cả hai giáo viên đều có cơ

hội để giữ vị trí giáo viên chính

Trong các mô hình trên, các tác giả đều nhấn

mạnh vào các bước lập kế hoạch giảng dạy, hợp

tác giảng dạy và đánh giá hiệu quả giảng dạy

Các yếu tố đảm bảo hiệu quả của mô hình

đồng giảng dạy

Để mô hình đồng giảng dạy đạt hiệu quả cao,

Takacs, S.E (2015) [8] nhấn mạnh tầm quan

trọng của mối quan hệ giữa các giáo viên

đồng giảng, sự thống nhất trong nguyên lý

giảng dạy, sự hòa hợp trong khi giảng và hỗ

trợ hành chính từ nhà quản lý Trong khi đó, Bafaro E (2016) [9] đã điều tra quá trình phát triển quan hệ lâu dài giữa các giáo viên đồng giảng và tiết lộ 4 yếu tố dẫn đến thành công,

đó là: tin tưởng lẫn nhau, nhận ra điểm mạnh

và điểm yếu của mình và đối tác, xử lý sự bất đồng và phát triển hợp tác đồng giảng dạy

Từ việc khảo cứu các tài liệu và nghiên cứu trước đây về đồng giảng dạy, có thể thấy rằng hầu hết các nghiên cứu trước đây tập trung vào đồng giảng dạy trong giáo dục đặc biệt, không có tiền lệ nào được thực hiện trong bối cảnh dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ và cũng như không đề cập đến sự bổ trợ lẫn nhau giữa các giáo viên có nền tảng văn hóa khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cung cấp cho nghiên cứu này nền tảng lý luận hữu ích như các mô hình đồng giảng dạy (nghiên cứu này sử dụng

mô hình tương tác), lợi ích và khó khăn của

mô hình đồng giảng dạy hoặc các yếu tố đảm bảo thực hiện thành công đồng giảng bài Những điều này rất hữu ích cho khâu áp dụng đồng giảng dạy vào thực tế trong bối cảnh cụ thể của nghiên cứu này

THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH ĐỒNG GIẢNG DẠY TẠI KHOA NGOẠI NGỮ

Ngữ cảnh

Những người tham gia trong thử nghiệm này

là 5 giáo viên tại Khoa Ngoại ngữ- Đại học Thái Nguyên 4 trong 5 giáo viên này là người Việt Nam và đều có hơn 5 năm kinh nghiệm giảng dạy Một giáo viên là chuyên gia người Mỹ Ông là tiến sĩ tại Đại học Florida, Mỹ Ông nhận được chương trình Học bổng Fulbright của Hoa Kỳ và làm việc tại Khoa Ngoại ngữ trong năm học

2017-2018 Ông đã có 17 năm kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh cho người nói các ngôn ngữ khác (TESOL) và tiến hành các nghiên cứu liên quan đến phát triển văn hóa trong đào tạo giáo viên EFL / ESL Năm giáo viên đều tự nguyện tham gia vào dự án Tất cả các giáo viên đã và đang giảng dạy môn Giao tiếp liên văn hóa cho sinh viên năm thứ ba tại Khoa Ngoại ngữ

Sinh viên tham gia dự án là sinh viên chuyên ngành tiếng Anh năm thứ ba, đang theo học kỳ

Trang 3

thứ hai của năm học 2017-2018 Các sinh viên

này đều đang học môn Giao tiếp liên văn hóa

Khóa học giao tiếp liên văn hóa kéo dài 15

tuần Giáo viên Việt Nam và chuyên gia cùng

tham gia giảng dạy dựa trên mô hình hợp tác

hoặc giảng dạy tương tác Các giáo viên thay

đổi vai trò trong lớp học một cách linh hoạt

Ví dụ, giáo viên Việt Nam giới thiệu khái

niệm trong khi chuyên gia nước ngoài hướng

dẫn thực hành Cả hai giáo viên cùng tham

gia vào quá trình đánh giá sinh viên Trong

các bài học khác, các đối tác có thể đảo ngược

vai trò

Quy trình thử nghiệm

Để đạt được hiệu quả cao nhất cho các tiết

dạy, các giảng viên tham gia chương trình

đồng giảng dạy thường thực hiện theo 03

bước, bao gồm: lên kế hoạch hay soạn giáo

án, đồng giảng dạy và đánh giá

Trong bước lên kế hoạch, các giảng viên

thường dành ít nhất 1-6 tiếng một tuần để

chuẩn bị và thảo luận về nội dung cho bài học

mới thông qua gặp mặt trực tiếp và trao đổi

tài liệu, thông tin cập nhật qua e-mail Khi

làm việc, các đối tác căn cứ vào nội dung giảng

dạy theo yêu cầu của chương trình để phân chia

nội dung giảng dạy và nêu ý tưởng, quan điểm

về các hoạt động sẽ thực hiện trong bài học Từ

đó, một giáo án hoàn chỉnh được cả hai giảng

viên thống nhất và tiến hành

Trong quá trình giảng dạy, hai giảng viên

thực hiện nhiệm vụ của mình theo kế hoạch

đồng thời hỗ trợ cho đối tác khi cần thiết

Thông thường, nhiều phương pháp đồng

giảng dạy như: một người giảng - một người

hỗ trợ; cả hai cùng giảng dạy và hướng dẫn

lớp học; một người giảng - một người quan

sát; chia lớp học thành 02 nhóm nhỏ, mỗi

giảng viên phụ trách một nhóm được vận

dụng một cách linh hoạt trong các tiết học

nhằm tăng cường khả năng lĩnh hội kiến thức

của sinh viên cũng như tạo ra một tiết học

sinh động, vui tươi Hai giảng viên đều có

nhiệm vụ đưa ra đánh giá và chấm điểm cho

sinh viên sau mỗi phần thuyết trình theo thang

điểm đã định sẵn

Sau mỗi buổi học, các đối tác tiếp tục trao đổi

và đưa ra đánh giá một cách khách quan và

cởi mở về tiết học cũng như ưu, nhược điểm của giảng viên để khắc phục và phát huy trong các tiết học sau

Công cụ thu thập số liệu

Những ảnh hưởng của đồng giảng dạy được

đo lường thông qua các phương pháp thu thập

dữ liệu trên cả sinh viên và giáo viên Dữ liệu được thu thập thông qua hai khảo sát trực tuyến cho giáo viên và sinh viên

Phiếu điều tra cho giáo viên

Các giáo viên được hỏi về suy nghĩ tổng thể của họ về kinh nghiệm đồng giảng dạy thông qua khảo sát

Phiếu khảo sát bao gồm 4 phần với tổng số 22 câu hỏi Những phần này được thiết kế dựa trên quá trình đồng giảng dạy: từ nhận thức về đồng giảng dạy đến lập kế hoạch, giảng dạy, phản hồi và kế hoạch trong tương lai Phần 1 (6 câu hỏi) dành cho các giáo viên chia sẻ hy vọng, thái độ, trách nhiệm và kỳ vọng của họ

về việc đồng giảng dạy Phần này được áp dụng từ danh sách kiểm tra của Murawski [10] vì đây là một hướng dẫn hữu ích cho các giáo viên khi tự đánh giá về nhận thức của bản thân trước khi tham gia vào mô hình đồng giảng dạy ở trường Trong Phần 2 (3 câu hỏi), các giáo viên được yêu cầu trả lời các câu hỏi liên quan đến cách họ lên kế hoạch đồng giảng dạy với chuyên gia Phần 3 (5 câu hỏi) liên quan đến cách giáo viên hướng dẫn trong quá trình thực hành đồng giảng dạy Cuối cùng, các giáo viên được yêu cầu phản hồi về kinh nghiệm và đưa ra các đề xuất để thực hiện mô hình đồng giảng dạy trong Phần 4 (3 câu hỏi)

Phiếu điều tra cho sinh viên

Ngoài điều tra trên đối tượng giáo viên, các nhà nghiên cứu đã thu thập thông tin về nhận thức của sinh viên sau khi trải nghiệm mô hình đồng giảng dạy Công cụ được sử dụng cho các sinh viên là một cuộc khảo sát gồm mười câu hỏi, được chia thành ba phần Phần thứ nhất hỏi về nhận thức của sinh viên về kinh nghiệm đồng giảng dạy (câu hỏi 1 bao gồm các mục Likert khác nhau từ "Rất không đồng ý" đến "Rất đồng ý"), phần hai bao gồm các câu hỏi liên quan đến các lớp học đồng giảng dạy (câu hỏi 2 -7), và phần thứ ba hỏi

Trang 4

về về kỳ vọng của họ về kế hoạch cho mô

hình đồng giảng dạy trong tương lai (câu hỏi

8-10) Câu hỏi 2-10 là các câu hỏi mở, yêu

cầu các câu trả lời dài hơn của sinh viên

Các cuộc khảo sát cho cả giáo viên và sinh viên

được tiến hành trong hai tuần cuối của học kỳ

trải nghiệm với mô hình đồng giảng dạy

Hai cuộc khảo sát được tiến hành trực tuyến

(Google Surveys) để giảm chi phí và cho

phép người tham gia nhanh chóng điền vào

bảng câu hỏi trực tuyến bằng lời mời chứa

liên kết tới nó

Các số liệu thu được từ phiếu điều tra dành

cho giáo viên và sinh viên sẽ được tính toán

theo tỷ lệ phần trăm sau đó được tổng hợp và

trình bày dưới dạng biểu đồ và bảng để minh

họa rõ hơn nhận thức của giáo viên và sinh

viên về mô hình đồng giảng dạy

Kết quả thử nghiệm

Do khuôn khổ của bài báo, chúng tôi không

trình bày tường minh các đánh giá định lượng

mà chỉ trình bày tóm tắt các kết quả khảo sát

ở Khoa Ngoại ngữ để minh chứng tính hiệu

quả của mô hình đồng giảng dạy

Những ảnh hưởng của đồng giảng dạy được

đo lường thông qua hai khảo sát trực tuyến dành cho giáo viên và học sinh vào cuối kì

Kết quả kiểm tra được thống kê như sau:

Đánh giá của sinh viên

Hầu hết sinh viên (>80%) đánh giá đồng giảng dạy là một mô hình dạy học hiệu quả và thú vị Qua phần trả lời câu hỏi mở, họ cho thấy cảm nhận là hiểu bài, đam mê và thích thú học tập hơn khi tham gia lớp học kiểu này bởi khi có vấn đề khó giải quyết, họ có thể tham khảo không chỉ giáo viên nước ngoài

mà còn giảng viên Việt Nam; họ có cơ hội được tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau trong lớp học và nhận được phản hồi cũng như nhận xét tỉ mỉ từ các góc nhìn khác nhau

về bài giảng, câu trả lời từ đó rút ra bài học cho bản thân Ngoài ra, họ nhận được sự quan tâm sát sao hơn sinh viên ở các lớp học thông thường Với môn học Giao tiếp liên văn hóa, sinh viên có cơ hội được trao đổi văn hóa, giải quyết những vấn đề phức tạp liên quan đến văn hóa ngay tại lớp học với giáo viên người bản xứ, đây được coi là một cơ hội đáng quý

0

10

20

30

40

50

60

Tôi thích có

hai giáo viên

dạy trong lớp

học

Tôi nhận được nhiều hỗ trợ hơn so với lớp học chỉ có 1 giáo viên

Tất cả sinh viên được đối

xử công bằng

Tôi thích sự phong phú về các hoạt động trong lớp học

Tôi học được nhiều hơn khi

có 2 giáo viên

Sinh viên trong lớp học hành

xử đúng mực hơn khi có 2 giáo viên

Tôi thích có hai giáo viên dạy trong lớp học khác

Rất đồng ý Đồng ý Trung lập Không đồng ý Rất không đồng ý

Bảng 1 Đánh giá của sinh viên

Trang 5

Tuy nhiên, theo sinh viên, mô hình lớp học đồng giảng dạy vẫn còn tồn tại một số vấn đề Sự khác nhau về phương pháp giảng dạy đôi khi gây khó hiểu cho sinh viên và khiến sinh viên khó thích nghi dễ dàng Ngoài ra, sinh viên bày tỏ sự bối rối trong việc tiếp thu ý kiến nhận xét khi có

sự khác nhau trong quan điểm của giảng viên Việc phải làm nhiều bài tập, tham gia nhiều hoạt động nhóm, ngoại khóa đôi khi khiến sinh viên cảm thấy áp lực Mặc dù vậy, hầu hết sinh viên đều bày tỏ nguyện vọng được tiếp tục học tập với mô hình này ở các khóa học sau hoặc các môn học khác như Đất nước học Anh-Mỹ, Văn học, Khẩu ngữ…

Đánh giá của giáo viên

Các giảng viên tham gia dự án đều đánh giá cao hoạt động giáo dục này (60%: hiệu quả cao; 40%: hiệu quả).

Bảng 2 Đánh giá của giảng viên về tính hiệu quả của mô hình đồng giảng dạy

Theo họ, đây được coi là cơ hội tốt cho các

giáo viên trao đổi kinh nghiệm, kiến thức

cũng như hỗ trợ lẫn nhau Trong quá trình

làm việc, họ luôn sẵn sàng giúp đỡ nhau, trao

đổi tài liệu, thông tin một cách cởi mở Quy

trình làm việc (03 bước) luôn được thực hiện

đều đặn và quy củ tạo ra một không khí làm

việc nghiêm túc nhưng cũng hết sức thân thiết

giữa các giáo viên Trong lớp học cũng như

ngoài lớp học, họ luôn hỗ trợ nhau khi cần

thiết Ngoài kiến thức, trình độ chuyên môn

thì thái độ làm việc cũng đóng một vai trò

quan trọng Theo họ, tính hiệu quả của dự án

không chỉ ở kết quả học tập của sinh viên mà

còn là mối quan hệ, thái độ làm việc tích cực

giữa các giảng viên được cải thiện rõ rệt

Trong quá trình tiến hành mô hình đồng giảng

dạy, các giảng viên gặp không ít khó khăn,

trong đó việc bố trí thời gian để thảo luận,

đánh giá chung là một trong những rào cản

lớn nhất, tiếp đó là xung đột về tính cách cũng

như quan điểm và thiếu sự đào tạo chuyên sâu

về mô hình đồng giảng dạy Họ hi vọng được các cấp lãnh đạo đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật và nên được đào tạo quy củ về chương trình đồng giảng dạy nhằm tạo hiệu quả cao nhất

Đánh giá chung: Kết quả trên đây đã chứng

minh việc vận dụng mô hình lớp học đồng giảng dạy tại Khoa Ngoại ngữ đã có hiệu quả bước đầu nhằm góp phần phát huy tính tích cực của người học; nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên

KẾT LUẬN Bài viết đã trình bày một số vấn đề lí luận và thực tiễn ứng dụng của mô hình dạy học đồng giảng dạy Qua tổng hợp nghiên cứu, phân tích điểm mạnh và hạn chế của mô hình này, người viết nghĩ rằng có thể ứng dụng mô hình dạy học này tại các trường đại học ở Việt Nam khi ý thức phát triển chuyên môn của giảng viên càng ngày càng cao Mặc dù, đây chỉ là một trong nhiều mô hình thiết kế dạy học, nhưng lựa chọn ứng dụng giảng dạy này

Trang 6

sẽ giúp cho hoạt động dạy học trở nên đa

dạng và thú vị hơn đối với người học Xét về

kết quả học tập, mô hình này chưa mang lại

tác động vượt trội so với mô hình dạy học

truyền thống, nhưng từ những hiểu biết về mô

hình lớp học đồng giảng dạy, có thể khẳng

định rằng nó sẽ giúp nâng cao ý thức, thái độ

đối với việc phát triển chuyên môn của giáo

viên đồng thời tạo ra thói quen học hợp tác ở

người học, những thái độ và kỹ năng không

thể thiếu đối với mỗi công dân toàn cầu, cho

dù ở trong hoàn cảnh văn hoá xã hội nào Để

ứng dụng tốt mô hình này, điều quan trọng là

giáo viên phải làm việc cùng nhau trong việc

lập kế hoạch, tổ chức, giảng dạy và đánh giá

người học và quá trình đồng giảng dạy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bauwens, J., & Hourcade, J J (1995)

Cooperative teaching: Rebuilding the schoolhouse

for all students Austin, TX: Pro-Ed

2 Villa, R A., Thousand, J S., & Nevin, A I

(2004) A guide to co-teaching: Practical tips for

facilitating student learning Thousand Oaks, CA:

Corwin Press

3 Cook, L., & Friend, M (1995) Co-teaching:

Guidelines for creating effective practices Focus

on Exceptional Children, 28, 1–16

4 Salend, S J (2008) Creating inclusive classrooms: Effective and reflective practices Upper Saddle River, NJ: Pearson

5 Walther-Thomas, & Christine, S (1997) Co-teaching experiences: The benefits and problems that teachers and principals report over time

Journal of Learning Disabilities, 30(4)

6 Vaughn, S., Schumm, J S., & Arguelles, M E

(1997) The ABCDEs of co-teaching Teaching Exceptional Children, 30, 4–10

7 Walther-Thomas, C., Korinek, L., McLaughlin, V., & Williams, B (2000)

Collaboration for inclusive education: Developing successful programs Needham Heights, MA:

Allyn & Bacon

8 Takacs, S.E (2015) A Critical Look at Co-Teaching Practices at the Secondary Level

(Doctoral dissertation) Available from ProQuest Dissertations and Theses database (UMI No 3706949)

9 Bafaro, E (2016) An Investigation into the Processes of Developing Positive Long-Term Co-Teaching Partnerships (Doctoral dissertation)

Available from ProQuest Dissertations and Theses database (UMI No 10191448)

10 Murawski, W.W (2003) Co-Teaching in the Inclusive Classroom: Working Together to Help All Your Students Find Success Grades 6-12;

p.36-37 WA: Institute for Educational Development.

ABSTRACT

CO-TEACHING MODEL AT THE SCHOOL OF FOREIGN LANGUAGES

- THAI NGUYEN UNIVERSITY

Nguyen Thi Bich Ngoc * , Nguyen Thi Minh Loan, Phi Thi Mui

School of Foreign Languages - TNU

This article concerns the co-teaching model that is becoming more and more popular in the world Through the synthesis of the research, the paper presents the theoretical background of the co-teaching model, the benefits as well as the considerations for application in the context of co-teaching

in Vietnam, especially at institutions of higher education This article also presents a practical model at the School of Foreign Languages - Thai Nguyen University and initial evaluation of its effectiveness

Key words: co-teaching, teaching model, planning, evaluation, cooperation

Ngày nhận bài: 05/11/2018; Ngày hoàn thiện: 16/11/2018; Ngày duyệt đăng: 28/12/2018

*

Tel: 0949 371386, Email: nguyenbichngoc.sfl@tnu.edu.vn

Ngày đăng: 14/01/2021, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đánh giá của sinh viên - MÔ HÌNH ĐỒNG GIẢNG DẠY TẠI KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Bảng 1. Đánh giá của sinh viên (Trang 4)
Tuy nhiên, theo sinh viên, mô hình lớp học đồng giảng dạy vẫn còn tồn tại một số vấn đề - MÔ HÌNH ĐỒNG GIẢNG DẠY TẠI KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
uy nhiên, theo sinh viên, mô hình lớp học đồng giảng dạy vẫn còn tồn tại một số vấn đề (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w