Với sự trợ giúp của bộ máy chính quyền này, Công sứ Lạng Sơn đã thực thi một loạt các chính sách quản lí về đô thị tại thị xã Lạng Sơn, như: chính sách quản lí ngân sách; quản lí nhà[r]
Trang 1BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN CỦA NGƯỜI PHÁP Ở LẠNG SƠN
CUỐI THẾ KỈ XIX – ĐẦU THẾ KỈ XX
Hà Thị Thu Thủy * , Đỗ Thị Hương Liên
Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Cuối thế kỉ XIX, sau khi cơ bản hoàn thành xâm lược, người Pháp đã tiến hành ngay việc xây
dựng chính quyền từ trung ương đến địa phương và coi đây là công cụ đóng vai trò quan trọng
trong việc thực hiện chính sách khai thác thuộc địa ở Việt Nam Bộ máy chính quyền mới cùng với
chính sách khai thác thuộc địa đã ảnh hưởng đa chiều đối với kinh tế - xã hội Việt Nam Trong đó
địa bàn đô thị là nơi phản ánh sinh động những ảnh hưởng này Trường hợp đô thị Lạng Sơn là
một điển hình của khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam
Từ khóa: Chính quyền, người Pháp, Lạng Sơn, cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Từ cuối thế kỉ XIX, nhất là sau khi triều đình
Huế kí với Pháp hiệp ước Hácmăng (1883) và
Patơnốt (1884), thực dân Pháp về cơ bản đã
hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về
mặt quân sự Ngày 22-3-1897, Toàn quyền
Đông Dương Paul Doumer đã đưa ra dự án
chương trình hoạt động, nhằm biến Đông
Dương (chủ yếu là Việt Nam) thành thuộc địa
khai khẩn bậc nhất, đảm bảo siêu lợi nhuận
cao nhất cho đế quốc Pháp, đã được Jean
Chesneaux đánh giá như sau: “Chính ông
(Paul Doumer) đã đưa chế độ thuộc địa từ
giai đoạn kinh nghiệm chủ nghĩa hầu như
“thủ công” sang giai đoạn tổ chức hệ thống
Chính ông đã tạo dựng bộ máy thống nhất về
bóc lột tài chính và đàn áp chính trị trong
thực tế sẽ được duy trì nguyên vẹn đến tận
1945” [1; tr.98] Trên cơ sở đó, việc làm đầu
tiên của Paul Doumer sau khi sang Việt Nam
là tiến hành thiết lập bộ máy hành chính cai
trị chặt chẽ từ trung ương đến địa phương,
đồng thời thực hiện triệt để chính sách “chia
để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”
nhằm phục vụ kịp thời và đắc lực cho công
cuộc khai thác, thống trị lâu dài ở Việt Nam
nói chung và Bắc Kỳ nói riêng, trong đó có
Lạng Sơn
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Sự hình thành chính quyền của người
Pháp ở Lạng Sơn
*
Tel: 0912 804549; Email: hathuyduc2002@gmail.com
Tính đến năm 1925, về cơ bản thực dân Pháp
đã thực hiện xong chính sách bình định tại Bắc Kỳ nói chung và Lạng Sơn nói riêng, trong đó thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn đàn áp bằng quân sự, thực hiện âm mưu chia
rẽ dân tộc, kết hợp với chính sách bóc lột về kinh tế nhằm làm cho nhân dân ta suy yếu, nghèo nàn về kinh tế và lạc hậu về chính trị
để dễ bề thống trị lâu dài Bên cạnh Trung Kỳ
và Nam Kỳ, ở Bắc Kỳ có cơ quan cai trị cao nhất là Phủ Thống sứ, do Thống sứ người Pháp đứng đầu và một Hội đồng Bảo hộ giúp việc [1; tr.98]
Trên cơ sở đó Toàn quyền Đông Dương De Lanessan cho rằng: Việc bình định xứ Bắc Kỳ chỉ có thể thực hiện được nếu quyền hành chính và quân sự đều được tập trung vào trong tay một người Để thực hiện chính sách vừa bình định vừa chiếm đóng, ngay từ năm
1888, thực dân Pháp chia địa bàn miền Bắc
thành 14 quân khu (Resgions militaires), mỗi
quân khu do một viên sĩ quan cao cấp trực tiếp chỉ huy Đến ngày 6-8-1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ các quân khu và cho thiết lập các đạo quan binh
(Terriitoires militaires) [2; tr.18], đây là hình
thức đặc biệt trong bộ máy thống trị của thực dân Pháp ở miền Bắc Việt Nam thời kì này
Theo đó, đạo quan binh được tổ chức ngang với đơn vị cấp tỉnh, có Hội đồng hàng tỉnh như các tỉnh dân sự, những đạo quan binh đó lại được chia thành khu đặt dưới quyền của
Trang 2Tư lệnh với đầy đủ quyền hạn ngang với
Công sứ hoặc Phó Công sứ và chịu sự chỉ đạo
trực tiếp của Thống sứ Bắc Kỳ [2; tr.12]
Theo Nghị định ngày 5-8-1896, của Toàn
quyền Đông Dương, các đạo quan binh được
quy định như sau: Đạo quan binh thứ nhất có
trụ sở đặt ở Lạng Sơn gồm các khu Lạng Sơn,
Móng Cái và Yên Thế; Đạo quan binh thứ hai
có trụ sở đặt ở Cao Bằng gồm các khu Cao
Bằng, chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn); Đạo quan
binh thứ ba có trụ sở đặt ở Tuyên Quang gồm
các khu Hà Giang, Bắc Giang và Tuyên
Quang; Đạo quan binh thứ tư có trụ sở đặt ở
Lào Cai gồm các khu: Lào Cai, Bắc Hà, Yên
Bái, Nghĩa Lộ [3; tr.237] Ngày 23 tháng 9
năm 1925, chính quyền thực dân Pháp đã ra
Nghị định số 30431, về việc thành lập thị xã
Lạng Sơn là trung tâm đô thị của tỉnh Lạng
Sơn (Theo Công điện của Chánh văn phòng
Phó Thống sứ Bắc Kỳ về Nghị định thiết lập
Lạng Sơn - Thất Khê thành thị xã ngày
23/9/1925), Lạng Sơn trở thành thị xã của
người bản địa [4; tr.2] Song song với quá
trình khai thác thuộc địa thực dân Pháp còn
cho thiết lập hệ thống chính quyền phục vụ
cho quá trình cai trị của thực dân Pháp, bao
gồm hệ thống quan lại người Pháp và một bộ
phận quan lại người Việt, cùng một bộ máy
cai trị toàn tỉnh cũng đã được thiết lập nhằm
tiến hành vơ vét bóc lột nhân dân trong tỉnh
Tại địa phận thị xã Lạng Sơn ngày nay, mặc
dù Pháp đã ra Nghị định về việc thành lập thị
xã Lạng Sơn, tuy nhiên, đây vẫn chưa được
coi là một đơn vị hành chính riêng do nhà
nước thực dân chưa cho thành lập tỉnh, Lạng
Sơn vẫn có một tỉnh lỵ chung cho toàn tỉnh
Tổ chức bộ máy chính quyền thực dân
Trong hệ thống cai trị của thực dân Pháp, cấp
tỉnh là cấp hành chính cuối cùng do người
Pháp trực tiếp đứng đầu sau cấp Liên bang
Đông Dương và cấp Sứ Bắc Kỳ Trước hết để
củng cố bộ máy hành chính từ trên xuống
dưới, thực dân Pháp cho đặt ở Lạng Sơn cũng
như các tỉnh lớn khác ở Bắc Kỳ một viên
Công sứ Chủ tỉnh người Pháp theo Hiệp ước
ngày 25/8/1883, giữa triều đình Huế với Pháp
(Traité de Hué du 25 Aout 1883) [5; tr.5],
đứng đầu tỉnh và trực thuộc quyền lãnh đạo của Thống sứ Bắc Kỳ (Bắc Kỳ lúc này có 26 tỉnh, 35 đại lí và 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng) [1; tr.102] Công sứ ở Lạng Sơn sẽ thay mặt Thống sứ nắm tình hình cấp tỉnh về mọi mặt thông qua hệ thống quan lại người Việt và do Toàn quyền Đông Dương bổ
nhiệm Theo Nguyễn Thế Anh, trong “Việt
Nam thời Pháp đô hộ” có ghi chép lại:
“Quyền hành chính địa phương ở Bắc Kỳ,
Trung Kỳ ở trong tay các Thống sứ; trong phạm vi mỗi xứ các tỉnh được điều khiển bởi Công sứ (résidents de France) và Tỉnh trưởng
ở Nam Kỳ (chefs de province) Nhưng đây chỉ
là sự khác biệt về danh từ: khắp mọi nơi công chức người Pháp nắm quyền hành thực thụ… các quan viên người Việt không có thực quyền, ngoài những thuộc chức của chính quyền hàng tỉnh Pháp Các đô thị hoàn toàn thuộc quyền kiểm tra và hành chính của người Pháp” [6; tr.108]
Ngoài ra, Công sứ người Pháp chỉ kiểm soát công việc cai trị của quan lại hàng tỉnh người bản xứ mà không trực tiếp cai trị, khi thấy viên quan người Việt nào có thái độ chống đối, Công sứ có quyền chuyển viên quan đó
đi nơi khác….Về mặt tư pháp, Công sứ chịu trách nhiệm xét xử các vụ án dân sự, thương mại, án tiểu hình xảy ra giữa người Âu với người Âu, người Âu với người Việt hoặc người châu Á, hay giữa người Việt với người châu Á Về mặt tài chính, Công sứ phụ trách
và kiểm soát việc thu thuế, sử dụng tiền thu thuế với sự hỗ trợ của Bố chánh người Việt [2; tr.13]
Do là địa bàn quan trọng, cửa ngõ biên giới phía Bắc nên tại thị xã Lạng Sơn, ngoài Công
sứ còn có thêm viên Phó Công sứ người Pháp làm phụ tá cùng hiệp đồng cai trị Giúp việc cho Công sứ và Phó Công sứ là Tòa Công sứ
và “Hội đồng hàng tỉnh” [7; tr.236], thành
phần là những người Pháp và một số quan lại người địa phương
Bên cạnh viên Công sứ người Pháp là quan đầu tỉnh còn có hệ thống quan lại Nam triều
Trang 3Đứng đầu hàng tỉnh là Tuần phủ sau là Án sát
coi việc tư pháp, Bố chính coi việc thuế khóa,
mỗi châu, phủ có Tri châu hoặc Tri phủ Mỗi
tổng có Chánh tổng, Phó tổng… Các châu lỵ
cũng được sắp xếp lại theo địa giới [7; tr.8]
Chính quyền thuộc địa cũng cho lập thêm phủ
Cao Lộc gồm một phần đất của châu Thoát
Lãng và châu Lộc Bình, bộ máy hành chính
của phủ đặt ở Bản Sầm về sau chuyển về Kỳ
Lừa; nhân dân ở các phố, xã ngoại vi tỉnh lị
thuộc quyền của phủ Cao Lộc Về phía bảo
hộ, vì chưa có thành phố Lạng Sơn nên chưa
có Đốc lí (Résident maire) [6; tr157], trên
thực tế người Pháp nắm toàn quyền cai trị
Bên cạnh đó, một hệ thống các cơ quan
chuyên môn giúp việc của chính quyền thực
dân ở cấp tỉnh cũng được thiết lập và đều do
người Pháp đứng đầu, có trụ sở đóng tại tỉnh
lỵ như: Sở Cẩm; Sở Thuế quan; Sở Kho bạc,
cùng một hệ thống các nhà ga, nhà máy điện,
nhà đoan, sân bay dã chiến ở Mai Pha…lần
lượt được xây dựng Các đồn lớn ở Thất Khê,
Na Sầm, Đồng Đăng, Lộc Bình nhưng chủ
yếu là phục vụ cho mục đích quân sự nhằm
khống chế con đường số 4 và đàn áp các cuộc
nổi dậy của nhân dân ta; mỗi đồn có một đại
đội lính khố đỏ do một viên quan ba chỉ huy
Để quản lí an ninh trật tự đô thị, thực dân
Pháp đã cho thiết lập ở đây một hệ thống tòa
án các cấp Tỉnh Lạng Sơn có 2 tòa án là Tòa
án Pháp và Tòa án bản xứ Trong đó, Tòa án
Pháp trực thuộc Viện kiểm sát tối cao và do
Công sứ Chủ tỉnh làm Chủ tọa hoặc Phó
Công sứ được trợ giúp bởi một thư ký thực
hiện quyền hạn như một viên lục sự Các toà
bản xứ của tỉnh Lạng Sơn gồm các tòa cấp 1
có trụ sở ở mỗi phủ hoặc châu, do Tri phủ
hoặc tri châu làm chủ tọa và 1 tòa cấp 2 ở thị
xã Lạng Sơn do Bố Chánh hạng 2 giữ chức
vụ như một Chủ tọa; ngoài ra còn có một
thẩm phán dự thẩm là thương tá của tỉnh được
2 thừa phái trợ giúp [5; tr.7]
Bên cạnh đó, Pháp còn cho thiết lập lực lượng
cảnh sát đặt dưới quyền hành trực tiếp của
Công sứ, dưới quyền chỉ huy của một giám
binh Để củng cố cho bộ máy chính quyền, một hệ thống nhà tù cũng được thiết lập tại thị
xã Lạng Sơn, Viên Công sứ là giám đốc nhà
tù, dưới có đề lao người Pháp giúp việc
Các cơ quan cai trị
Sau khi tỉnh lỵ Lạng Sơn được hình thành, thị
xã Lạng Sơn trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự của toàn tỉnh Lấy ranh giới tự nhiên là khúc sông Kỳ Cùng chảy qua địa phận thị xã, lúc này thị xã Lạng Sơn hình thành nên hai khu vực: Một khu vực gọi
là “Khu Tỉnh” bao gồm các cơ quan cai trị
hàng tỉnh của thực dân Pháp và một khu vực
gọi là bên “Khu Kỳ Lừa”
Ở Tỉnh: Thực dân Pháp và phong kiến đã đặt
các cơ quan cai trị sau:
Các cơ quan cai trị người Pháp: Bao gồm có
Tòa Công sứ, trong đó có những viên Thông phán và Ký lục người Việt thừa hành mệnh lệnh hàng ngày, hàng giờ của Công sứ hay Phó Công sứ Pháp Trong đó Công sứ hay Phó Công sứ là người đứng đầu tỉnh, thuộc quyền lãnh đạo trực tiếp của Thống sứ Bắc
Kỳ [5; tr.5] Ngoài ra, còn có các cơ quan chuyên môn giúp việc của chính quyền thực
dân Pháp và do người Pháp đứng đầu
Tòa Công sứ và tòa Phó Công sứ, được tổ chức theo nơi ở của Công sứ và Phó Công sứ người Pháp Cũng giống với các tỉnh khác tại Bắc Kỳ, Tòa Công sứ tại Lạng Sơn cũng được thiết lập trên cơ sở Sắc lệnh ngày 3-2-1886 (Sắc lệnh thiết lập Phủ thống sứ Bắc Kỳ của Tổng thống Pháp) Do đó cũng có các văn phòng tương tự như các văn phòng của Phủ thống sứ, thành phần gồm có: Một văn phòng chịu trách nhiệm chung và đứng đầu là Chánh văn phòng; Phòng phụ trách những công việc của người Âu; Phòng phụ trách những công việc có liên quan đến người Việt, Phòng phụ trách về ngân sách Bắc Kỳ Tất cả đều đặt dưới sự điều hành trực tiếp của viên Chánh văn phòng tòa Công sứ (hay Chánh văn phòng tòa Phó sứ) Đây vừa là cơ quan tổng hợp, vừa là cơ quan điều phối giúp Công sứ (hay Phó sứ) [7; tr.134]
Trang 4Hội đồng hàng tỉnh (tên đầy đủ là Hội đồng
Kì mục bản xứ hàng tỉnh), được thành lập
chính thức theo Nghị định ngày 19-3-1913
của Toàn quyền Đông Dương, trước đó có tổ
chức tiền thân, đây là nơi làm việc và hội họp
của quan lại người Việt, dưới sự chỉ huy trực
tiếp của Công sứ và Phó Công sứ Pháp Các
ủy viên của Hội đồng hàng tỉnh là người Việt
được tuyển lựa thông qua bầu cử do đoàn cử
tri gồm: các Chánh tổng, Phó tổng, Tiên chỉ
và Thứ chỉ, Lí trưởng, các cựu Chánh, Phó
tổng thực thụ bầu ra, do Công sứ hay Phó sứ
đề nghị, còn Thống sứ quyết định và nhiệm kì
của các hội viên hàng tỉnh là 3 năm, tuy nhiên
có thể được gia hạn [2; tr.298] Chức năng
của Hội đồng là tư vấn, góp ý với chính
quyền trên tất cả các vấn đề của tỉnh như ngân
sách địa phương, các công trình bảo dưỡng và
xây dựng đường sá, trừ chính trị Do đó, Hội
đồng hàng tỉnh không phải là cơ quan quyền
lực mà đơn thuần chỉ là cơ quan tư vấn [7;
tr.136] Trong tài liệu « Réunions des
Conseils provinciaux des provinces de Lang
Son, Laokay, Nam Dinh de la session 1926 »
(Cuộc họp của Hội đồng hàng tỉnh các tỉnh
Lạng Sơn, Lào Cai, Nam Định năm 1926) có
ghi chép khá cụ thể về nhiệm vụ của Hội
đồng hàng tỉnh như sau: Phiên họp thường kì
năm 1926 của Hội đồng Hàng tỉnh Lạng Sơn
bàn về việc xây dựng đường sá tại Vạn Linh,
Bình Gia cùng các con đường từ Thất Khê
đến Pola (5km), Lộc Bình đến Chi Ma
(2km)… [8; tr.1,5] Theo báo gửi Thống sứ
Bắc Kỳ, Hội đồng này ở Lạng Sơn được
thành lập từ năm 1913, từ thời điểm thiết lập
chế độ quyền đại diện của người bản xứ trong
chính quyền các tỉnh ở Bắc Kỳ Nhiệm kỳ
1939-1942, theo Nghị định ngày 27/01/1939
gồm có các ủy viên sau: Uỷ viên người Pháp:
Ông Drouet - Giám đốc Nhà máy Antoine
Chiris; Ông Retif Auguste - nhà công nghiệp;
Uỷ viên người Việt: Ông Nguyễn Công Tý,
phủ Tràng Định; Vi Lợi Hạnh, châu Thoát
Lãng; Đồng Hữu Thương, châu Văn Uyên; La
Hữu Lịch, châu Lộc Bình; Lương Khanh
Hương, châu Cao Lộc; Hà Văn Trai, châu Điềm He; Hoàng Đình Chương, châu Ôn; Lâm Văn Bân, châu Bình Gia; Trần Văn Hà, châu Bằng Mạc; Nguyễn Văn Hương, châu
Bắc Sơn [5; tr.7]
Dinh tư lệnh đạo quan binh: nơi ở của sĩ quan cao cấp người Pháp Kho bạc (nhà ngân hàng)
do một chủ tư bản Pháp nắm giữ Hệ thống nhà tù (nhà đề lao) được đặt giữa Sở Cẩm và
Sở Mật thám Pháp, nhà tù Lạng Sơn ở thị xã Lạng Sơn thường xuyên giam giữ hàng trăm người, cả tù chính trị và dân thường, bốn bề
có tường cao, dây thép gai, dây điện, các chòi canh, chỉ để một cổng sắt ra vào Bên trong nhà tù là xích xiềng, gông cùm
Cơ quan cai trị người Việt: Đứng đầu chính
quyền bản xứ là Tổng đốc, quản lí mọi mặt về dân sự lẫn quân sự trong địa phận mình quản
lí Bên dưới do Bố chánh hạng 1 quản lí với quyền hạn như một quyền Tuần phủ Giúp việc cho Bố chánh là 1 thương tá, 1 thông phán
và 2 hoặc 3 thừa phái [5; tr.5] Ngoài ra còn có dinh Tổng đốc (hay Tuần phủ) là nơi ở và làm việc của tỉnh trưởng bù nhìn người Việt; Dinh
Bố chánh (hay Án sát) là nơi ở và làm việc của quan chánh án bù nhìn người Việt
Các cơ quan cai trị khác như: Sở Mật thám,
gồm những trùm mật thám Pháp và một số Việt gian; Sở Cẩm (sở Cảnh sát) được đặt dưới sự chỉ huy của Chánh cẩm và Phó Chánh cẩm người Pháp, chỉ huy một số nhân viên người Việt; Trại lính Lê Dương với vài trăm lính Pháp và lính đánh thuê, được trang bị nhiều xe cơ giới và xe bọc thép; Nhà đoan (Thuế vụ) do chủ người Pháp chỉ huy một số người Việt
Ở Kỳ Lừa: Trại lính khố xanh người Việt
(lính ngụy), chuyên dùng để đàn áp các cuộc khởi nghĩa, canh giữ nhà tù và phục dịch các
đạo quan binh Trong đồn Cao Lộc thường
xuyên có vài trăm lính Pháp và lính khố đỏ đóng quân dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp, còn phủ Cao Lộc lại là nơi ở và làm việc của Tri phủ, quan lại người Việt, có lính cơ hay lính lệ người địa phương phục dịch [9; tr.17]
Trang 5Ở cấp xã, thực dân Pháp đã rất ý thức về việc
tổ chức bộ máy hành chính cấp xã đứng đầu
là Lí trưởng Chính quyền thực dân thực hiện
chính sách “cải lương hương chính” để can
thiệp sâu vào tổ chức quản lí cấp xã tại Bắc
Kỳ, trong đó có Lạng Sơn Tổ chức hành
chính cấp xã ở Lạng Sơn chịu sự giám sát và
kiểm soát tối cao của chính quyền cấp tỉnh về
nhân sự cũng như mọi hoạt động của xã thông
qua Hội đồng Tộc biểu [10; tr.19] cùng các ủy
ban thường trực hợp thành công cụ thống trị
cấp cơ sở của chính quyền thuộc địa [2; tr.20]
Tóm lại, tại một tỉnh lỵ miền núi không lớn
lắm như Lạng Sơn và trên địa bàn thị xã Lạng
Sơn, Pháp và triều đình phong kiến đã phải
thiết lập khá dầy đặc những công cụ đàn áp,
phòng thủ, nhằm bảo vệ cho dã tâm xâm lược
và nô dịch lâu dài trên đất nước ta Thông qua
đội ngũ quan lại cấp tỉnh, cấp xã, chính quyền
thuộc địa đã nắm mọi hoạt động của chính
quyền cả về hành chính và tài chính Với việc
thiết lập bộ máy hành chính này, Pháp đã thực
thi hàng loạt các chính sách quản lí tại đô thị
Lạng Sơn
KẾT LUẬN
Như vậy, tính đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX, toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới ách thống
trị của thực dân Pháp và phong kiến Việt
Nam trở thành một xã hội thuộc địa, thị xã
Lạng Sơn cũng nằm trong bối cảnh chung đó
Mặc dù Hội đồng hàng tỉnh được thiết lập
nhưng thực chất không có chút quyền hạn gì
mà chỉ là một tổ chức hư danh nhằm mua
chuộc và an ủi tầng lớp kỳ hào ở các làng xã
Về cơ bản thực dân Pháp nắm toàn quyền
thực thi, điều khiển bộ máy chính quyền,
đồng thời ra sức củng cố, kiện toàn bộ máy
quyền lực Mục đích cuối cùng của nó là
nhằm phục vụ cho chính sách khai thác, bóc
lột, làm giàu cho tư bản Pháp; đồng thời
tuyên truyền và khuếch trương ảnh hưởng của
văn minh Pháp, duy trì sự thống trị lâu dài
của chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước ta
Trên cơ sở đó, thực dân Pháp bắt đầu thực
hiện kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất
(1897-1914) và lần thứ hai (1918-1929), do
đó nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân ta
đã diễn ra trong giai đoạn này nhằm chống lại
bộ máy chính quyền cùng các chính sách cai trị của thực dân Pháp Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, do có sự kết hợp giữa chính quyền thực dân và phong kiến cai trị, hơn thế nữa trong hệ thống cai trị của người Pháp ở cấp tỉnh không có các cơ quan tư vấn nghiên cứu, đề xuất các chủ chương cai trị mà chỉ có các phòng và nhân viên thừa hành cần thiết Đánh giá một cách khách quan, có thể nhận thấy, với cách tổ chức như vậy, nếu so sánh với bộ máy chính quyền phong kiến thì bộ máy cai trị của Pháp đơn giản, gọn nhẹ, chặt chẽ hơn, mang nhiều điểm tiến bộ và cũng rất khoa học Với sự trợ giúp của bộ máy chính quyền này, Công sứ Lạng Sơn đã thực thi một loạt các chính sách quản lí về đô thị tại thị xã Lạng Sơn, như: chính sách quản lí ngân sách; quản lí nhà đất và xây dựng đô thị; quản lí an ninh, trật tự đô thị… Bước đầu đã đem lại những chuyển biến tích cực cho đô thị Lạng Sơn trên nhiều mặt, hơi hướng của văn minh phương Tây cũng dần hình thành
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2008), Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 2) Nxb Giáo dục, Hà Nội
2 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 (2013), Tổ chức
bộ máy các cơ quan trong chính quyền thuộc địa ở Việt Nam qua tài liệu và tư liệu lưu trữ (1862-1945) Nxb Hà Nội, Hà Nội
3 Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (1999), “Địa chí Lạng Sơn” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
4 Tài liệu “Nghị định cho phép thành lập một thị
xã người bản xứ trong trung tâm đô thị Lạng Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn”, kí hiệu 915.9711/NĐH300Đ Thư viện tỉnh Lạng Sơn
5 Renseignements sur la situation politique, économique et financière de la province de la province de Lang Son (Thông tin về tình hình chính trị, kinh tế và tài chính của tỉnh Lạng Sơn)
TTLTQGI, phông RST, Hồ sơ 68548
6 Nguyễn Thế Anh (2017), Việt Nam thời Pháp
đô hộ Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
7 Dương Kinh Quốc (1999), Việt Nam - những sự kiện lịch sử (1858-1918) Nxb Giáo dục, Hà Nội.
8 Réunions des Conseils provinciaux des provinces de Lang Son, Lao Kay, Nam Dinh de la
Trang 6session 1926 (Cuộc họp của Hội đồng hàng tỉnh
các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Nam Định năm
1926) TTLTQGI, phông RST, Hồ sơ 78526-02
9 Ban Tuyên giáo Thị ủy Lạng Sơn (1990), Lịch
sử Đảng bộ thị xã Lạng Sơn (1930 - 1954), Nxb
Văn hóa Thông tin, Hà Nội
10 A.S.créations des commines aux centes urbains de That Khe et Lang Son (Quyết định về
việc thành lập các xã ở trung tâm đô thị Thất Khê
và Lạng Sơn) TTLTQGI, phông RST, Hồ sơ 68552.
ABSTRACT
THE FRENCH GOVERNMENT IN LANG SON IN THE LATE 19 TH CENTURY AND THE EALRY 20 TH CENTURY
Ha Thi Thu Thuy * , Do Thi Huong Lien
University of Education - TNU
In the late 19th century after having completed their invasion in Vietnam, the French immediately proceeded with developing their governance from local to central levels, which were considered as their important tools in realizing their policy of exploiting their Vietnamese colony The new French government and their colony-exploiting policies made multi-dimensional impacts on the socio-economic situation of Vietnam The urban areas seemed to be the lively reflection of such impacts Lang Son Urban Town was a typical example of the Northern mountainous areas of Vietnam
Key words: Government, the French, Lang Son, Late 19 th Century, Early 20 th Century
Ngày nhận bài: 01/11/2018; Ngày hoàn thiện: 13/11/2018; Ngày duyệt đăng: 28/12/2018
*
Tel: 0912 804549; Email: hathuyduc2002@gmail.com