1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG TƯ DUY, CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH, ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG TRƯỚC YÊU CẦU GIẢI PHÓNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO VÀ TÂM HUYẾT CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

6 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 214,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xem nhẹ yêu cầu phải phát triển năng lực sáng tạo thông qua NCKH ở đội ngũ giảng viên cũng có thể được lý giải từ những rào cản về tư duy, đó là quan niệm lệch l[r]

Trang 1

NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG TƯ DUY, CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH,

LỰC SÁNG TẠO VÀ TÂM HUYẾT CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Trần Thị Lan *

Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẤT

Việc nhận diện những rào cản trước yêu cầu giải phóng năng lực sáng tạo và tâm huyết của giảng viên đại học đã và đang được đặt ra như một giải pháp chiến lược để chấn hưng giáo dục đại học (GDĐH) mà Việt Nam phải hết sức quan tâm Bài viết tập trung làm sáng tỏ những hạn chế trong năng lực sáng tạo và tâm huyết với nghề của giảng viên đại học Việt Nam; yêu cầu giải phóng năng lực sáng tạo và tâm huyết của đội ngũ này; những rào cản về tư duy, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo chất lượng trước yêu cầu giải phóng năng lực sáng tạo cũng như tâm huyết của giảng viên đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Từ khóa: Nhận diện, rào cản, tư duy, giải phóng, năng lực, sáng tạo, tâm huyết, giảng viên

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Đội ngũ giảng viên là một trong những nhân

tố quyết định chất lượng đào tạo nguồn nhân

lực Tuy nhiên, tình trạng chậm đổi mới tư

duy, thiếu những điều kiện cần thiết để đảm

bảo phát triển năng lực sáng tạo đang là

những rào cản khiến một bộ phận nhà giáo

chưa tập trung tâm lực và trí lực cho trọng

trách nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài Điều này lý giải vì sao việc

nhận diện những rào cản trong tư duy, cơ chế,

chính sách và các điều kiện đảm bảo chất

lượng trước yêu cầu giải phóng năng lực sáng

tạo, tâm huyết của đội ngũ giảng viên là vấn

đề có ý nghĩa thiết thực để tìm kiếm và hoạch

định giải pháp phát triển

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng phương pháp luận chung của

chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp

phân tích, đánh giá, điều tra xã hội học

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Yêu cầu giải phóng năng lực sáng tạo và

tâm huyết của đội ngũ giảng viên đại học

Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Dạy học vốn là lĩnh vực lao động đặc thù

không chỉ cần trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ cao mà căn bản còn đòi hỏi năng lực sáng

*

tạo Đó cũng là một công việc vốn rất cần đến niềm đam mê và tâm huyết Đặt vấn đề giải phóng triệt để năng lực sáng tạo và sự tâm huyết với nghề của giảng viên đại học là xuất phát từ những đòi hỏi của khoa học sư phạm chứ không phải đề cao hay tuyệt đối hóa vai trò của sáng tạo và tâm huyết như một cái gì thái quá Thực tiễn giáo dục đại học đang đòi hỏi mỗi giảng viên với tư cách nhà giáo cần

có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sáng tạo, chất lượng lao động của đội ngũ giảng viên được đồng thời thể hiện và bị qui định trước tiên bởi năng suất, hiệu quả của hoạt động giảng dạy, bởi giá trị thực tế của năng lực sáng tạo Theo đó, cùng với giảng dạy, NCKH phải trở thành nhu cầu thiết yếu của giảng viên Nếu tuyệt đối hóa nhiệm vụ giảng dạy mà xem nhẹ NCKH thì ngay cả những giảng viên có học hàm, học vị cao cũng rất khó tránh khỏi tình trạng tri thức dần dần bị lạc hậu, bài giảng vì thế sẽ trở nên thiếu chiều sâu, tẻ nhạt và thiếu tính thuyết phục Thực trạng đó còn có thể dẫn đến sự lạc hậu của GDĐH cả về nội dung lẫn phương pháp mà hậu quả tất yếu không tránh khỏi là

sự tụt hậu tiềm lực trí tuệ của giảng viên nói riêng, của dân tộc nói chung

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sáng tạo là nhân tố quyết định chất lượng lao động của giảng viên, song tinh thần trách

Trang 2

nhiệm, tâm huyết với nghề cũng là yêu cầu

quan trọng mà mỗi trí thức nhà giáo phải

quan tâm đáp ứng, nhất là trong bối cảnh hiện

nay khi cơ chế thị trường đang chi phối đến

đời sống của con người, tác động mặt trái của

nó cũng để lại không ít những tiêu cực và hệ

lụy xã hội Thực tiễn đang khách quan đòi hỏi

mỗi giảng viên phải nêu cao tinh thần trách

nhiệm đối với sự nghiệp “trồng người”, phải

tự ý thức về sự đào thải như một lẽ tất yếu

khó tránh khỏi nếu không ngừng vươn lên để

khẳng định chất lượng hoạt động chuyên

môn, nghiệp vụ mà mình đảm nhận

Những hạn chế về năng lực sáng tạo và

tâm huyết gắn bó với nghề của giảng viên

đại học Việt Nam

Mặc dù đội ngũ giảng viên đại học đã có

nhiều cố gắng, nỗ lực trong công tác đào tạo,

bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn

nghiệp vụ, tuy nhiên năng lực của giảng viên

còn nhiều hạn chế, biểu hiện sự bất cập trước

yêu cầu nghề nghiệp Đáng lưu ý là tỷ lệ

giảng viên có trình độ tiến sĩ hoặc có chức

danh khoa học GS, PGS còn rất thấp Theo số

liệu thống kê của Bộ Giáo dục- Đào tạo, tại

thời điểm năm 2016 – 2017, số lượng giảng

viên có trình độ tiến sĩ là 16.514/69.591 giảng

viên; ở trình độ đại học và cao đẳng là

12.519/69.591 giảng viên; số lượng giảng

viên có học hàm giáo sư là 574/69.591 giảng

viên; có học hàm phó giáo sư là 4.113/69.591

giảng viên [2] Thực tế GDĐH ở Việt Nam

cũng cho thấy, “trí thức tinh hoa và hiền tài

còn ít, chuyên gia đầu ngành còn thiếu

nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hụt hẫng, chưa

có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ở

khu vực và quốc tế” [3]

Về lĩnh vực quản lý giáo dục, hiện thời chúng

ta đang rất thiếu những nhà quản lý giáo dục

tài năng Hạn chế, yếu kém của đội ngũ này

biểu hiện chủ yếu ở năng lực lãnh đạo, tổ

chức, quản lý Tầm nhìn của một bộ phận

giảng viên làm công tác quản lý còn hạn chế

so với yêu cầu thực tiễn

Năng lực sáng tạo của giảng viên còn nhiều hạn chế Theo Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, tính tại thời điểm năm 2017, “trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ tư về

số lượng công bố quốc tế (6.356), sau Singapore (43.779), Malaysia (28.799), Thái Lan (25.965) Cùng với đó, Việt Nam đứng thứ ba về tăng trưởng bình quân hàng năm sau Malaysia (23,48%) và Lào (21,58%) So sánh với các nước phát triển, tổng lượng bài của Việt Nam chỉ bằng 1/30 Australia, 1/6 New Zealand, 1/58 Nhật Bản, 1/256 Mỹ; so sánh với các nước Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xếp thứ 3 về tỷ lệ tăng trưởng và đứng thứ

5 về số lượng bài sau Singapore (5.791), Malaysia (2.436), Thái Lan (2.018) và Philippines (680) Nếu so sánh với các nước phát triển, tổng lượng bài của Việt Nam chỉ bằng 1/58 Australia, 1/22 New Zealand, 1/28 Nhật Bản và 1/473 Mỹ [5]

Thiên hướng xem nhẹ NCKH ở một bộ phận giảng viên tự nó đang làm giảm đi giá trị tiềm năng trí tuệ của đội ngũ giảng viên mà đáng lẽ

nó phải được coi trọng và phát huy Sự tách rời giảng dạy và nghiên cứu làm cho việc học tập của sinh viên và thậm chí việc giảng dạy của trí thức nhà giáo không được đặt trong môi trường nghiên cứu - môi trường của phương pháp tư duy sáng tạo, của sự suy luận

và phán đoán

Những rào cản về tư duy, cơ chế, chính sách và điều kiện đảm bảo chất lượng trước yêu cầu giải phóng năng lực sáng tạo

và tâm huyết của giảng viên đại học

Một là, giải phóng năng lực sáng tạo và tâm huyết với sự nghiệp “trồng người” của giảng viên trước rào cản ngại đổi mới về tư duy

Hiện nay, mục tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội khách quan đòi hỏi trí thức GDĐH phải trở thành chủ thể sáng tạo trước yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy Tuy nhiên, trên thực

tế chúng ta đang mắc phải rào cản từ tư duy

Trang 3

ngại đổi mới; từ những yếu kém về kỹ năng

sư phạm của không ít giảng viên; từ nhận

thức thiếu thống nhất về sự gắn kết giữa các

trường đại học và doanh nghiệp Hiện nay,

vẫn tồn tại tình trạng thiếu thông tin về thị

trường lao động và nhu cầu của nhà tuyển

dụng về các kỹ năng cần thiết của nguồn nhân

lực; mức độ nhận thức của toàn xã hội về đào

tạo theo định hướng nghề nghiệp còn thấp;

tầm nhìn, chiến lược phát triển và quy trình

quản lý đào tạo của nhiều trường còn bộc lộ

sự bất cập Nghịch lý là ở chỗ, trong khi mục

tiêu của GDĐH là đào tạo theo định hướng

thực hành, rèn luyện kỹ năng theo nhu cầu xã

hội thì tâm lý trọng bằng cấp, thói quen quan

tâm đến bảng điểm hơn là tay nghề và năng

lực thực sự của sinh viên đang tồn tại phổ

biến trong các nhà tuyển dụng Hệ quả trực

tiếp của tư tưởng này là người học cũng như

người dạy hiện nay vẫn đang quá chú trọng

đến kiến thức hàn lâm thay vì ứng dụng, thêm

vào đó là tình trạng nhà trường tách rời doanh

nghiệp đã trở thành rào cản hạn chế khả năng

cung ứng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

của thị trường lao động của đội ngũ giảng

viên đại học ở nước ta

Việc xem nhẹ yêu cầu phải phát triển năng

lực sáng tạo thông qua NCKH ở đội ngũ

giảng viên cũng có thể được lý giải từ những

rào cản về tư duy, đó là quan niệm lệch lạc,

phiến diện của không ít nhà giáo đã giản lược

trách nhiệm của giảng viên, xem chất lượng

lao động của trí thức nhà giáo chỉ biểu hiện ở

phương diện giảng dạy Theo số liệu điều tra

xã hội học, có 61,1% ý kiến cho rằng, phần

lớn giảng viên chỉ chuyên tâm vào hoạt động

giảng dạy Tỷ lệ 81,9% ý kiến thừa nhận chỉ

có một bộ phận giảng viên kết hợp NCKH với

giảng dạy đã phản ánh rõ tình trạng xem nhẹ

hoạt động NCKH ở đại đa số giảng viên

Không ít giảng viên cho rằng, để hoàn thành

định mức NCKH theo từng chức trách, mỗi

nhà giáo phải bỏ rất nhiều công sức cho một

đề tài nghiên cứu hay một vài bài báo đăng

trên tạp chí chuyên ngành Đó là chưa kể đến

những khó khăn khác do kinh phí cung cấp có

hạn Quan niệm có tính thực dụng ấy đã qui định hành vi ứng xử đối với hoạt động NCKH của phần lớn giảng viên khi sẵn sàng dạy nhiều để bù vào số tiết bị khấu trừ do thiếu giờ NCKH hơn là tự nguyện say mê nghiên cứu Đáng lo ngại là khuynh hướng xem nhẹ NCKH trong giảng viên đại học sẽ tiếp tục có chiều hướng gia tăng nếu không có qui định pháp lý về trách nhiệm NCKH của trí thức nhà giáo và thực hiện qui định đó một cách chặt chẽ, nghiêm túc trong các trường đại học

Mặt khác, chính phương thức phát triển theo

bề rộng tồn tại lâu dài trong nền kinh tế cộng với sự phân khúc giá trị, phân công lao động quốc tế ở Việt Nam và sự chi phối bởi quan niệm về hệ giá trị cũ đã làm suy giảm, lệch lạc nhu cầu coi trọng chất lượng lao động của trí thức GDĐH Thực chất phương thức phát triển theo bề rộng cần ít sự sáng tạo trong lao động Theo đó, các trường đại học trở thành nơi cung ứng nguồn nhân lực thừa hành và chất lượng lao động của giảng viên cũng tất yếu bị chuyển dịch theo hướng ấy Đây là rào cản rất lớn nếu chúng ta không chủ động dỡ

bỏ bằng quyết sách thay đổi phương thức phát triển theo chiều sâu và đổi mới tư duy định hướng giá trị về nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước thì sự tách rời giữa nhà trường - giảng viên- sinh viên - doanh nghiệp và thị trường lao động ngày càng trở nên nghiêm trọng

Hai là, giải phóng năng lực sáng tạo và tâm huyết với sự nghiệp “trồng người” của giảng viên đòi hỏi các yếu tố tạo động lực trong khi

cơ chế, chính sách và điều kiện đảm bảo chất lượng còn nhiều bất cập

Với chủ trương đặt con người ở vị trí trung tâm của toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội, nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán với chính sách “coi đầu tư cho giáo

dục là đầu tư phát triển Hàng năm, Nhà nước

dành 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục Xét về tỷ lệ, mức chi ấy không nhỏ nhưng trong điều kiện nguồn thu của các trường đại học còn rất thấp, cách phân bổ, quản lý việc

Trang 4

sử dụng hiệu quả nguồn vốn chưa hợp lý dẫn

đến “chi phí thường xuyên/1 sinh viên quy

chuẩn thực tế ngày càng giảm và chỉ bằng

30% định mức ngân sách” [4] Rào cản lớn

nhất lúc này là mặc dù nguồn vốn đầu tư cho

GDĐH đã tăng lên đáng kể theo đà phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước, song giá trị đầu

tư tuyệt đối và so với nhu cầu của bản thân

đội ngũ giảng viên thì còn ở mức thấp và

chưa tương xứng Đây là thách thức rất lớn,

khó có thể giải quyết thỏa đáng trong tương

lai gần

Qua tìm hiểu thực tế có thể thấy, chúng ta

đang bàn nhiều đến chất lượng của đội ngũ trí

thức nhà giáo nhưng tiêu chí về trình độ, kỹ

năng, nghiệp vụ sư phạm của người dự tuyển

chưa được chuẩn hóa ở mức cao, nhiều sinh

viên ra trường không qua lớp đào tạo nghiệp

vụ sư phạm vẫn được tuyển dụng

Việc bổ sung lực lượng giảng viên kế cận có

trình độ cao cũng không đơn giản vì đào tạo

phải có thời gian và bị qui định bởi kinh phí

trong khi chưa có thang bậc lương riêng cho

trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, cho các nhà giáo có

học hàm GS, PGS Ở các trường đại học chỉ

vận dụng hỗ trợ thêm cho các giảng viên có

trình độ tiến sĩ, học hàm, học vị với mức hỗ

trợ còn eo hẹp, dao động trong khoảng 300

đến 900 nghìn đồng/1 tháng Vì vậy, động lực

để đào tạo nâng cao trình độ của giảng viên bị

hạn chế

Để biểu hiện mình như một nhà khoa học

chân chính, có những sản phẩm sáng tạo đích

thực, giảng viên đại học có nhu cầu mạnh mẽ

về sự phát triển cá nhân và khẳng định tính

độc lập của cá thể Đáng tiếc là chính sách tôn

vinh, đãi ngộ và vấn đề sở hữu trí tuệ, bảo vệ

bản quyền chưa được quan tâm, đảm bảo để

tạo động lực cho lao động sư phạm của giảng

viên đại học Cái khó hiện nay là chúng ta

chưa có đủ kinh phí để đầu tư, đãi ngộ xứng

đáng, chưa có chính sách vĩ mô về lương và

điều kiện đảm bảo môi trường làm việc cho

đội ngũ giảng viên có trình độ cao Điều này

nằm ngoài tầm với của các trường trong khi

ngân sách nhà nước còn eo hẹp Thêm vào đó, tâm lý trọng bằng cấp một cách hình thức và

cơ chế tính lương theo bằng cấp, theo thâm niên đang là rào cản không nhỏ trước yêu cầu

thực học để có thực lực và thực tài, thực cống

hiến của giảng viên đại học Rõ ràng, thu

nhập thấp, chưa tương xứng với đặc thù lao động trí tuệ, nhiều áp lực cộng thêm không ít phí tổn về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình

độ chuyên môn nghiệp vụ là nguyên nhân chính khiến nhiều năm gần đây thiếu những nhân tài có nguyện vọng, tâm huyết gia nhập hay gắn bó lâu dài với sự nghiệp “trồng người” cao quí Việc thu hút thí sinh vào nghề

sư phạm vì thế cũng trở nên khó khăn

Do tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường nên những biểu hiện thương mại hóa giáo dục có điều kiện phát triển Một mặt, nó kìm hãm, gây trở lực cho việc phát huy tính năng động, sáng tạo trong lao động để đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của cá nhân Mặt khác, thay vì tâm huyết ươm mầm những hạt giống trí tuệ cho tương lai, một bộ phận trí thức GDĐH đã sa vào lối sống thực dụng, tiêu dùng, thờ ơ, phai nhạt lý tưởng Tất cả những điều này ít nhiều đều làm suy yếu mối quan hệ giữa giữa trách nhiệm và tâm huyết vốn là cơ

sở nền tảng đảm bảo chất lượng lao động của đội ngũ giảng viên ở nước ta hiện nay

Năng lực sáng tạo của giảng viên trong NCKH chưa được chú trọng, ngoài sự hạn hẹp về kinh phí hỗ trợ còn do tư duy xem nhẹ lĩnh vực hoạt động này của nhiều giảng viên Theo kết quả điều tra xã hội học của tác giả, trên thực tế vẫn còn 26,3% ý kiến giảng viên xác định hoạt động giảng dạy có vị trí quan trọng nhất trong lao động sư phạm của trí thức GDĐH; có 61,1% ý kiến cho rằng, phần lớn giảng viên chỉ chuyên tâm vào hoạt động giảng dạy Tỷ lệ 81,9% ý kiến thừa nhận chỉ

có một bộ phận giảng viên kết hợp NCKH với giảng dạy đã phản ánh rõ tình trạng xem nhẹ hoạt động NCKH ở đại đa số giảng viên Sự thiếu hụt về năng lực nghiên cứu, tình trạng thiếu niềm đam mê cũng được xem là nguyên

Trang 5

nhân căn bản của việc xem nhẹ NCKH diễn

ra phổ biến trong đội ngũ giảng viên ở nước

ta hiện nay

Ba là, năng lực sáng tạo và tâm huyết của

giảng viên được đảm bảo bởi trách nhiệm của

nhà giáo nhưng cơ chế kiểm tra, giám sát,

đánh giá chưa được coi trọng đúng mức

Ở hầu hết các trường đại học, việc đánh giá

giảng viên mặc dù đã được tiến hành thường

xuyên mang tính định kỳ nhưng vẫn nặng về

đánh giá tổng kết, chủ yếu nhằm vào việc thu

thập thông tin để bình xét các danh hiệu thi

đua mà chưa gắn với những quyết định sa thải

hay sàng lọc đội ngũ “Các kiểu đánh giá này

đôi khi để lại những dấu ấn tiêu cực như sự

không hài lòng về tính khách quan của sự

đánh giá, sự thờ ơ với các danh hiệu thi đua

khen thưởng” [1] Tiêu chí đánh giá chưa rõ

ràng, những chế tài qui định trách nhiệm lao

động của giảng viên thiếu tính cụ thể, thiếu sự

phân định rõ ràng về mức độ hoàn thành hay

kết quả đóng góp của từng cá nhân

Mô hình quản lý GDĐH chưa thật sự tạo nên

tính tự chủ, sáng tạo, năng động của từng chủ

thể nhà giáo Trách nhiệm giải trình trước xã

hội của đội ngũ giảng viên về chất lượng

giảng dạy, NCKH và quản lý giáo dục ở nước

ta hiện nay chưa được chú trọng nâng cao

Thêm vào đó, việc đánh giá, kiểm tra, giám

sát hoạt động chuyên môn của hiệu trưởng và

cán bộ quản lý còn bỏ ngỏ nên chất lượng lao

động của đội ngũ này chưa được đánh giá

toàn diện Hơn nữa, cơ chế sa thải những

giảng viên yếu kém chưa trở thành yếu tố căn

bản được chú trọng trong văn hóa và khoa

học lãnh đạo, quản lý của ngành giáo dục

Điều này lý giải tại sao giảng viên chưa nhận

thấy áp lực thực sự từ trách nhiệm và bổn

phận của một nhà khoa học trước những yêu

cầu, đòi hỏi của thực tiễn cũng như sự mong

đợi và kỳ vọng của xã hội

KẾT LUẬN Nếu như sáng tạo là yếu tố căn bản để xác lập giá trị đích thực của khoa học sư phạm thì tâm huyết với nghề là động lực cho lao động sáng tạo của mỗi giảng viên Vấn đề đặt ra là cần thống nhất nhận thức rằng, chất lượng lao động của đội ngũ giảng viên đại học là vấn đề mang tính phức hợp, đòi hỏi trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân Trong đó, việc đổi mới tư duy của mỗi giảng viên, việc đổi mới cơ chế, chính sách đãi ngộ cũng như điều kiện đảm bảo chất lượng dạy và học được xem là những nhân tố quyết định tạo nên hiệu quả và giá trị lao động của toàn đội ngũ

Nhận diện những rào cản trước yêu cầu giải

phóng năng lực sáng tạo và tâm huyết của giảng viên đại học là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục luận chứng vấn đề thời cơ, thách thức cùng những giải pháp về đổi mới

tư duy, cơ chế, chính sách để nâng cao chất

lượng lao động sư phạm của đội ngũ giảng

viên ở các trường cao đẳng, đại học của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Xuân Bách (2010), Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Hà

Nội, tr.18

2 Bo Giao dục và Đao tạo/moet.gov.vn/So lieu

thong ke giao duc đai học nam 2016 – 2017

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá

X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.85

4 Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (2002),

Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI - Kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, tr.609

5 Trần Thanh Long (2017),

tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/chat-luong- hoat-dong-khoa-hoc-va-cong-nghe-tai-cac-co-so-giao-duc-dai-hoc-cua-viet-nam-117267.html.

Trang 6

ABSTRACT

IDENTIFYING THE BARRIERS IN THINKING, MECHANISMS, POLICIES,

QUALITY ASSURANCE CONDITION IN ADVANCE OF THE DEMAND

FOR CREATIVITY AND ENTHUSIASM OF UNIVERSITY LECTURERS

IN VIETNAM

Tran Thi Lan *

University of Education - TNU

The identification the barriers to the liberation of creativity and the enthusiasm of university

lecturers has been posed as a strategic solution to promote higher education that Vietnam has to

pay great attention to The paper focuses on clarifying the limitations of creativity and enthusiasm

for the career of Vietnamese university lecturers; This requires the release of creative and

enthusiastic capacity of this team; the barriers of thinking, mechanism, policy, quality assurance

before the need to release creative capacity as well as the enthusiasm of Vietnam university

lecturer in the current context

Keywords: To identifi, bariers, to think, to liberate, ability, creative, confidential, lecturer

Ngày nhận bài: 29/8/2018; Ngày hoàn thiện: 20/9/2018; Ngày duyệt đăng: 28/12/2018

*

Tel: 0983 896296; Email: lantrantn@gmail.com

Ngày đăng: 14/01/2021, 20:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w