1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

57 30 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Trang 1

NGUYỄN HOÀI LINH

TÊN ĐỀ TÀI:

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM MỘT SỐ VIRUS GÂY BỆNH THƯỜNG

GẶP TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Ngành : Công nghệ sinh học

Khóa học : 2016-2020

THÁI NGUYÊN, NĂM 2020

Trang 2

NGUYỄN HOÀI LINH

TÊN ĐỀ TÀI:

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM MỘT SỐ VIRUS GÂY BỆNH THƯỜNG

GẶP TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

THÁI NGUYÊN, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm em được phân công đến thực tập tại Khoa Vi sinh

- Bệnh viện TW Thái Nguyên với đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm một số virus

gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” Em xin bày tỏ lòng

biết ơn chân thành tới Th.S BS Lương Thị Hồng Nhung và toàn thể anh, chị kỹ

thuật viên làm việc tại Khoa Vi sinh - Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên đã luôn tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Văn Duy - Giảng viên Khoa

Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô trong Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian học tập

Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên đề tài của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận đươc

sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý Thầy/Cô để em có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức phục vụ cho việc học tập, công việc sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Hoài Linh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả xét nghiệm virus viêm gan trên các bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên bằng phương pháp test nhanh 32 Bảng 4.2.Tổng hợp tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virus viêm gan theo nhóm tuổi bằng phương pháp test nhanh 34 Bảng 4.3: Tổng hợp tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virus HIV bằng phương pháp test nhanh 36 Bảng 4.4.Tổng hợp tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virus HIV theo nhóm tuổi bằng phương pháp test nhanh 37 Bảng 4.5.Tổng hợp tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virus cúm A bằng phương pháp test nhanh 39 Bảng 4.6: Tổng hợp tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virus cúm A theo nhóm tuổi 40 Bảng 4.7 Tổng hợp tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virus cúm B theo nhóm tuổi bằng phương pháp test nhanh 41 Bảng 4.8: Tổng hợp tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virus cúm B theo nhóm tuổi 42

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

AIDS Acquired Immunodeficiency Syndrome (hội chứng suy giảm

miễn dịch mắc phải) HCV Hepatitis C Virus (virus gây viêm gan C)

HBV Hepatitis B Virus (virus gây viêm gan B)

HIV Human Immunodeficiency virus (virus gây suy giảm miễn dịch

ở người) SARS Severe acute respiratory syndrome (Hội chứng hô hấp cấp tính

nặng) WHO World Health Organization- Tổ chức Y tế Thế giới

MERS Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng Hô hấp cấp

Trung Đông) DNA Deoxyribonucleic acid, 1 trong 2 loại vật chất mang thông tin di

truyềnRNA Ribonucleic acid, 1 trong 2 loại vật chất mang thông tin di truyềnSARS-CoV-2 Severe acute respiratory syndrome corona virus 2 (Virus corona

gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2) CDC Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm kiểm soát

và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ )

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2

1.2.1.Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan chung đối tượng nghiên cứu 3

2.1.1 Khái niệm virus 3

2.1.2 Lịch sử và nguồn gốc 3

2.1.3 Đặc điểm 4

2.1.4 Cấu trúc 4

2.1.5 Chu trình nhân lên 8

2.2 Tổng quan về virus 10

2.2.1 Tổng quan về virus cúm 10

2.2.2 Tổng quan về virus HIV 14

2.2.3 Tổng quan về virus viêm gan C 17

2.2.4 Tổng quan về virus HBV 20

Trang 7

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu nội dung 1 25

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu nội dung 2 27

3.3.3 Phương pháp nghiêm cứu nội dung 3 29

3.4 Các phương pháp xử lý số liệu 30

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Kết quả khảo sát tình hình nhiễm virus viêm gan B và viêm gan C trên các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên 32

4.2 Khảo sát tình hình nhiễm virus HIV trên các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên 35

4.3 Khảo sát tình hình nhiễm virus Cúm A và Cúm B trên các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên 38

4.3.1 Kết quả tình hình nhiễm virus cúm A bằng phương pháp test nhanh 38

4.3.2 Kết quả tình hình nhiễm virus cúm B bằng phương pháp test nhanh 41

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

5.1 KẾT LUẬN 44

5.2 KIẾN NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Virus là tác nhân gây bệnh phổ biến trên người cùng với vi khuẩn và nấm trong nhóm các tác nhân vi sinh vật[7] Càng ngày, người ta ngày càng phát hiện ra nhiều loại bệnh do virus nguy hiểm như AIDS, SARS, viêm não Nhật Bản, dại, quai bị, sốt Ebola, sởi… Tùy từng loại virus mà có cách lây nhiễm và gây tác hại khác nhau (ví

dụ như lây qua đường tình dục: AIDS, viêm gan B; lây qua đường hô hấp: Cúm A, cúm B, SARS,…)

Thế giới từng phải đối mặt với những đại dịch lớn do virus gây ra và có sức lây lan khủng khiếp, với con số tử vong có thể lên đến hàng triệu người trong một đợt dịch (dịch MERS năm 2012: tính đến ngày 7/6/2012 có 1.179 người nhiễm trong đó

442 người tử vong[24]; dịch Ebola năm 2014 WHO xác nhận gần 7.000 trường hợp

tử vong vì virus này[23]; cúm H1N1 năm 2009, lan nhanh tại 214 quốc gia và khiến 18.0000 người thiệt mạng trên tổng số 575.000 ca nhiễm bệnh[7]; dịch SARS năm

2002 phát hiện trường hợp đầu tiên tại Hồng Kông sau đó dịch lây lan sang 37 quốc gia thông qua đường hàng không, khoảng 8000 ca nhiễm và 800 ca tử vong; đại dịch HIV/AIDS khiến 1,5 triệu người tử vong trong số 35 triệu người nhiễm bệnh Đặc biệt, chủng virus mới SARS-CoV-2 (COVID- 19) gây hội chứng hô hấp cấp tính bùng phát vào tháng 12 năm 2019 ở thành phố Vũ Hán và bắt đầu lây lan nhanh chóng sau đó, là một đại dịch toàn cầu, theo WHO tính đến 12:54PM ngày 21 tháng 6 năm

2020 có 8.708.008 trường hợp xác nhận nhiễm COVID-19, 461.715 trường hợp tử vong trên toàn cầu[26]

Đặc điểm chung của các bệnh do virus kí sinh gây ra trên người là lây lan nhanh,

dễ bùng phát thời gian ngắn, biểu biện bệnh không rõ ràng trong thời kì đầu, một số

có khả năng biến chủng lớn, gây chết trong thời gian ngắn gây rất nhiều khó khăn trong chẩn đoán và điều trị và kiểm soát dịch tễ học[7] Mặc dù virus gây bệnh cho người và động vật được nghiên cứu khá kỹ nhưng hiện nay chưa có phương pháp điều trị hiệu quả như AIDS, SARS, cúm A[5]; phương pháp điều trị chủ yếu là các biện pháp hỗ trợ đề kháng của của cơ thể chống lại virus gây bệnh và ngày càng

Trang 9

có nhiều loại virus mới nguy hiểm xuất hiện Do vậy, việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh trong thời gian ngắn, hiểu biết về tình hình dịch tễ học từ đó

đề xuất các biện pháp điều trị, phòng chống các bệnh do virus gây ra là rất quan trọng nhằm bảo đảm điều trị trúng đích và cải thiện tử vong bệnh nhân

Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm

một số virus gây bệnh thường gặp tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

1.2.1.Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu này nhằm khảo sát tình hình nhiễm một số virus gây bệnh thường gặp của bệnh nhân tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

Thu mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh do virus thường gặp (virus cúm A, cúm B, HCV, HBV và HIV) từ các khoa chuyên môn tại Bệnh viện viện Trung Ương Thái Nguyên

- Xác định các virus gây bệnh từ mẫu bệnh phẩm bằng phương pháp test nhanh

- Khảo sát tình hình tình hình nhiễm các virus của bệnh nhân

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về các virus gây bệnh thường gặp ở bệnh nhân và các biện pháp điều trị, phòng chống bệnh

hiêu quả

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả của đề tài góp phần vào quá trình chẩn đoán các bệnh do các virus thường gặp gây ra, cung cấp các thông tin cần thiết về dịch tễ học góp phần hỗ bác sĩ lựa chọn phương pháp và thuốc phù hợp để điều trị đạt hiệu quả tối ưu cho bệnh do virus

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan chung đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Khái niệm virus

Virus là tác nhân sinh học không có cấu tạo tế bào mang các nucleic acid, chi

có thể nhân lên trong các tế bào chủ và sử dụng bộ máy trao đổi chất và ribosome của

tế bào để tổng hợp nên các bộ phận cấu thành sau đó lắp ráp các bộ phận này tạo thành các hạt virus gọi là các virion mang bộ gene virus và có thể nhiễm vào các tế bào chủ khác [7]

Virus có thể lây nhiễm tất cả các dạng sống, từ động vật thực vật đến vi sinh vật, bao gồm cả vi khuẩn và vi khuẩn cổ Virus được tìm thấy trong hầu hết các hệ sinh thái trên Trái đất và là loại thực thể sinh học nhiều nhất [7] Khoảng 5.000 loại virus đã được mô tả một cách chi tiết trong hàng triệu loại virus tồn tại trên Trái đât [7] Khi không tồn tại trong tế bào bị lây nhiễm hoặc trong quá trình lây nhiễm một tế bào, virus tồn tại dưới dạng các hạt độc lập hoặc virion bao gồm: các vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA mã hóa cấu trúc của protein; một protein áo, các capsid bao quanh và bảo vệ vật liệu di truyền, trong một số trường hợp có vỏ ngoài lipid) Hình dạng của virus

đa dạng (xoắn ốc, chữ nhật đơn giản, hình khối, lập phương,… Hầu hết các loại virus không quan sát được bằng kinh hiển vi quang học, kích thước khoảng một phần tram so với hầu hết các vi khuẩn [7]

2.1.2 Lịch sử và nguồn gốc

Virus được tìm thấy ở bất cứ nơi nào có sự sống và có lẽ đã tồn tại kể từ khi các

tế bào sống phát triển đầu tiên Nguồn gốc của virus không rõ ràng vì chúng không tạo thành hóa thạch, vì vậy các kĩ thuật phân tử đã được sử dụng để sánh DNA hoặc RNA của virus là một phương tiện hữu ích để điều tra cách chúng phát sinh Ngoài

ra vật liệu di truyền của virus đôi khi có thể tích hợp vào dòng mầm của sinh vật chủ, nhờ đó chúng có thể được truyền theo chiều dọc cho con cái của vật chủ trong nhiều thế hệ Các giả thiết về nguồn gốc của virus:

Trang 11

 Giả thuyết hồi quy: virus có thể đã từng là những tế bào nhỏ kí sinh trên các

tế bào lớn hơn Theo thời gian các gene không được yêu cầu bởi kí sinh trùng của chúng đã biến mất Đây được gọi là giả thuyết thoái hóa hoặc giả thuyết giảm

 Giả thuyết nguồn gốc tế bào: một số virus có thể đã tiến hóa từ các DNA hoặc RNA “thoát” khỏi gene của một vi sinh vật lớn hơn DNA thoát ra có thể đến từ các plasmid hoặc transpose của tế bào

 Giả thuyết đồng tiến hóa: đây cùng là giả thuyết đầu tiên về virus và cho rằng virus có thể đã tiến hóa từ các phân tử phức tạp của protein và axit nucleic cùng lức với các tế bào xuất hiện lần đầu trên Trái Đất và đã phụ thuộc vào sự sống của tế bào trong hàng tỉ năm Viroid là các phân tử RNA không được phân loại là virus vì chúng thiếu lớp vỏ protein Chúng có những đặc điểm chung cho một số loại virus và thường được gọi là tác nhân phụ Viroid là mầm bệnh quan trọng của thực vật Chúng không

mã hóa protein những tương tác với tế bào chủ và sự dụng bộ máy tế bào chủ để sao chép

2.1.3 Đặc điểm

Đặc điểm chung của virus [7]:

- Virus rất nhỏ bé, kích thước chỉ trong khoảng 20nm đến 200nm (nhỏ hơn vi khuẩn hàng ngàn lần)

- Không có cấu tạo tế bào, không có màng kép lipid bao bọc

- Có đời sống kí sinh bắt buộc

- Vật chất di truyền là một trong hai loại: DNA hoặc RNA mà không có cả hai

- Không có hệ giải mã và dịch mã

- Không tăng kích thước

- Không tự di chuyển

- Không có khả năng tự phát triển và phân chia

- Không bất hoạt hoàn toàn khi ở ngoài vật chủ

2.1.4 Cấu trúc

Virus có cấu trúc đơn giản, không có cấu tạo tế bào, chỉ gồm axit nucleic được

bao bọc bởi một lớp vỏ protein bảo vệ gọi là capsid Lớp vỏ này được tạo thành từ

những tiểu đơn vị protein giống hệt nhau gọi là capsome Một số virus có một vỏ

Trang 12

bọc bằng lipid có xuất xứ từ màng tế bào vật chủ Vỏ capsid được cấu tạo từ protein được dịch mã từ bộ gene của virus và là cơ sở để phân biệt về mặt hình thái học Các tiểu đơn vị protein do virus mã hóa sẽ tự láp ráp để tạo nên vỏ capsid.Những virus phức tạp còn mã hóa những protein trợ giúp cho quá trình xây dựng capsid của chúng Những protein kết hợp với axit nucleic gọi là nucleoprotein, sự kết hợp củ

những protein ở capsid với axit nucleic gọi là nucleocapsid

Nhìn chung, có 4 loại hình thái virus:

- Xoắn ốc: Những virus này được tạo thành từ một loại capsomer duy nhất xếp chồng lên quanh một trục trung tâm để tạo nên cấu trúc xoắn ốc, có thể có một khoang trung tâm hoặc là một ống rỗng.Virion dạng hình que hay sợi, chúng có thể ngắn và rất cứng, hoặc dài và rất linh hoạt Vật liệu di truyền nhìn chung là RNA sợi đơn (ssRNA) hoặc DNA sợi đơn (ssDNA), và được gắn chặt với chuỗi xoắn protein Nói chung, độ dài của vỏ capsid xoắn ốc có liên quan tới độ dài của axít nucleic bên trong

nó và đường kính phụ thuộc vào kích thước và cách sắp xếp các capsomer Virus khảm thuốc lá là một ví dụ của virus dạng xoắn ốc

- Khối hai mươi mặt đều: Hầu hết virus động vật đều có dạng khối hai mươi mặt đều hoặc gần hình cầu với hai mươi mặt đều đối xứng Một khối hai mươi mặt đều bình thường là cách tối ưu để tạo nên một vỏ khép kín từ những tiểu đơn vị giống

y như nhau Tối thiểu có 12 capsomer cấu tạo từ 5 tiểu phần giống hệt nhau Nhiều virus, ví dụ rotavirus, có nhiều hơn 12 capsomer và xuất hiện dưới dạng hình cầu nhưng vẫn giữ tính đối xứng Capsomer tại mỗi đỉnh được bao quanh bởi 5 capsomer khác gọi là penton Capsomer trên những mặt hình tam giác thì được bao quanh bởi

6 và gọi là hexon Hexon về bản chất thường phẳng và penton, cấu trúc tạo nên 12 đỉnh, lại thường cong Cùng một protein cũng có thể là tiểu đơn vị của cả penton và hexon, hoặc chúng có thể được cấu tạo bởi những protein khác nhau

- Kéo dài: Có cấu trúc một khối hai mươi mặt đều được kéo dài gấp năm lần theo chiều dài của trục; đây cũng cách sắp xếp phổ biến ở đầu của mỗi bacteriophage

Nó tạo thành một hình trụ với nắp đậy ở hai đầu

- Phức tạp: Những virus này có một capsid mà không hoàn toàn xoắn hay hoàn toàn khối hai mươi mặt đều, và có thể mang những cấu trúc thêm vào như đuôi

Trang 13

- protein hoặc một vách ngăn ngoài phức hợp Một số bacteriophages, như Enterobacteria phage T4, có cấu trúc phức tạp bao gồm một đầu hình khối hai mươi mặt đều gắn với một đuôi xoắn; đuôi này có thể có một đĩa nền lục giác đều với các sợi đuôi protein nhô ra Cấu trúc đuôi này đóng vai trò một ống tiêm phân tử, giúp gắn vào vi khuẩn vật chủ rồi sau đó bơm bộ gen của virus vào bên trong tế bào

Vỏ bọc:

Một vài loài virus bao phủ bản thân chúng bằng một lớp vỏ bọc:có thể là lớp màng ngoài bao quanh tế bào vật chủ bị nhiễm, hoặc màng trong như màng nhân hay mạng lưới nội chất, tạo ra một lớp lipid kép bao ngoài được gọi là vỏ bọc

virus (viral envelope) Màng này được đính vào những protein mã hóa bởi bộ gen

virus và bộ gen vật chủ; ngoài ra, tất cả màng lipid và bất cứ carbohydrate đều có nguồn gốc từ vật chủ (Virus cúm và HIV) Hầu hết các virus có màng đều phụ thuộc vào lớp vỏ của chúng để có thể xâm nhiễm vào vật chủ

Ngoài ra, một số virus có hình thái bất thường như:

Poxvirus: Bộ gen được gắn với protein bên trong một cấu trúc đĩa ở trung tâm gọi là một nucleoid Nucleoid được bao quanh bởi một lớp màng và hai cơ quan ở hai bên mà không rõ chức năng Virus có một vỏ bọc ngoài với một lớp protein dày đính trên bề mặt vỏ bọc

Mimivirus là virus lớn nhất thường được biết, đường kính vỏ capsid là 400 nm Các sợi protein có thể nhô lên khỏi bề mặt với chiều dài lên tới 100 nm Vỏ capsid có dạng đa giác đều dưới kính hiển vi điện tử, do đó có thể đây là một virus dạng khối hai mươi mặt đều Năm 2011, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra một virus lớn hơn

ở đáy đại dương gần bờ biển Las Cruces, Chile Nó tạm được đặt tên là Megavirus chilensis, và có thể nhìn thấy được dưới kính hiển vi quang học cơ bản

Một vài loại virus trên vi khuẩn cổ có cấu trúc phức tạp mà không liên quan tới bất kỳ dạng virus nào khác, với những hình dạng bất thường rất đa dạng, từ những cấu trúc hình con suốt, cho tới hình que có móc, hình giọt nước, hay thậm chí cả hình cái chai Những virus trên vi khuẩn cổ giống khác thì tương tự với những bacteriophage có đuôi, và có thể có nhiều dạng cấu trúc đuôi khác nhau

Trang 14

Lõi virus

Cấu trúc bộ gene của virus rất đa dạng Có tới hàng triệu loại virus khác nhau, những chỉ có khoảng 5.000 trong số đó đã được mô tả chi tiết Một virus có các gen DNA hay RNA được gọi tương ứng là một virus DNA hoặc virus RNA Phần lớn virus có

bộ gen là RNA Virus thực vật có xu hướng có bộ gen RNA sợi đơn và bacteriophage thường có bộ gen DNA sợi đôi

Bộ gen virus có dạng mạch vòng, như ở polyomevirus, hay mạch thẳng, như

ở adenovirus Loại axít nucleic không liên quan tới hình dạng của bộ gen Ở các virus RNA hay một số virus DNA, bộ gen thường được phân làm các phần riêng biệt, gọi

là bị phân đoạn Với virus RNA, mỗi phân đoạn thường mã hóa cho chỉ một protein

và chúng thường được tìm thấy với nhau trong một capsid Tuy nhiên, tất cả phân đoạn không bắt buộc phải ở trong cùng một virion của virus để có thể xâm nhiễm, như được minh chứng ở virus khảm brôm và vài loại virus thực vật khác

Với hầu hết virus có bộ gen RNA và một số với bộ gen DNA sợi đơn, những sợi đơn lẻ được cho là có tính dương (+) hoặc tính âm RNA dương tính tức là chiều với mRNA và do vậy có ít nhất một phần của nó có thể dịch mã trực tiếp bởi tế bào vật chủ RNA âm tính thì bổ sung với mRNA và do vậy phải được chuyển thành RNA dương tính bởi một enzym RNA polymerase phụ thuộc RNA trước khi dịch mã Danh pháp DNA với virus bộ gen ssDNA đơn tính thì tương tự như danh pháp RNA, trong

đó sợi mã hóa cho mRNA của virus thì bổ sung với nó (-) và sợi không mã hóa là một bản sao của nó (+).Tuy nhiên, một vài loại virus ssDNA và ssRNA có bộ gen lưỡng tính trong đó sự phiên mã và dịch mã có thể xảy ở cả hai loại sợi trong một trung gian sao chép dạng sợi đôi Ví dụ như geminivirus, những virus thực vật có bộ gen ssDNA,

và arenavirus, những virus động vật có bộ gen ssRNA

Kích thước bộ gen khác biệt rất lớn giữa các loài khoảng 2000-1,2 triệu cặp bazo Nói chung, virus RNA có bộ gen nhỏ hơn virus DNA do có tỷ lệ lỗi cao hơn khi sao chép, và có giới hạn trên về kích thước tối đa Khi vượt qua giới hạn này, những lỗi trong bộ gen khi sao chép sẽ làm cho virus trở nên vô dụng hoặc không có tính cạnh tranh Để khắc phục điều này, virus RNA thường có bộ gen phân đoạn – chia bộ gen thành những phân tử nhỏ hơn – để làm giảm xác suất mà một lỗi

Trang 15

trong một bộ gen đơn phần sẽ làm mất khả năng của toàn bộ bộ gen Trái ngược lại, virus DNA thường có bộ gen lớn hơn do độ chính xác cao của những enzym sao chép của chúng Tuy nhiên những virus DNA sợi đơn là một ngoại lệ của quy luật này, bởi tỷ lệ đột biến ở bộ gen những loại này có thể đạt đến mức cực đại như ở trường hợp virus RNA sợi đơn

2.1.5 Chu trình nhân lên [7]

Virus sử dụng bộ máy và hệ trao đổi chất của tế bào vật chủ để tạo ra rất nhiều bản sao của chính chúng và tự lắp ráp ở bên trong đó Chu trình sống của virus có sự khác nhau rất lớn giữa các loài, nhưng nhìn chung có 6 giai đoạn cơ bản trong chu trình sống của virus như sau:

1 Hấp phụ: Đây là giai đoạn liên kết đặc hiệu giữa protein của vỏ capsid của virus với những thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào vật chủ Tính đặc hiệu này giúp xác định biên độ vật chủ của virus Ví dụ HIV xâm nhiễm vào một phạm vi giới hạn những tế bào bạch cầu của người Điều này là vì protein gp120 trên bề mặt của virus tương tác đặc hiệu với phân tử CD4 – một thụ thể chemokine thường được tìm thấy nhiều nhất trên bề mặt của tế bào T CD4+ Cơ chế này đã tiến hóa để giúp những virus này có thể lây nhiễm chỉ trên những tế bào mà chúng có khả năng nhân lên trong

đó Sự hấp phụ thụ thể có thể tạo ra những thay đổi đối với những protein của vỏ bọc virus, dẫn đến sự hợp nhất lớp lipid kép của màng tế bào và màng virus, hoặc tạo ra những biến đổi của protein bề mặt của virus để cho phép virus đi được vào bên trong

2 Xâm nhập sau khi đã hấp phụ: Virion đi vào trong tế bào vật chủ nhờ sự nhập bào qua trung gian thụ thể hoặc sự hợp nhất màng Sự xâm nhiễm của virus lên tế bào thực vật và nấm khác biệt với sự xâm nhiễm lên tế bào động vật Thực vật có một thành tế bào bằng cellulose rắn chắc, và nấm cũng có thành tế bào từ chitin, cho nên hầu hết virus đều chỉ có thể đi vào trong những tế bào này sau một tổn thương nào đấy lên thành tế bào Tuy nhiên, gần như tất cả virus lại có thể di chuyển trực tiếp từ

tế bào này qua tế bào khác thông qua các lỗ gọi là sợi liên bào (plasmodesma) Vi khuẩn, giống với thực vật, cũng có một thành tế bào vững chắc mà virus buộc phải chọc thủng để xâm nhiễm vào tế bào Tuy nhiên, thành tế

Trang 16

bào vi khuẩn kém dày hơn nhiều so với thành tế bào thực vật nên một số virus

đã phát triển những cơ chế giúp bơm bộ gen của chúng vào tế bào vi khuẩn xuyên qua thành tế bào, trong khi vỏ capsid vẫn còn ở bên ngoài

3 Loại bỏ lớp vỏ: lớp vỏ capsid của virus có thể bị tan rã do enzyme của virus hoặc tế bào chủ hay bởi sự phân ly đơn giản dẫn đến sự giải phóng ra axít nucleic của

bộ gen virus

4 Nhân lên: Sự nhân lên của virus chủ yếu liên quan đến sự nhân lên của bộ gen virus Quá trình nhân lên bao gồm sự tổng hợp những RNA thông tin (mRNA) của virus từ những gen "sớm", sự tổng hợp protein, việc lắp ráp của những protein có thể có, và sau cùng là sự sao chép bộ gen virus được quy hoạch bởi biểu hiện của protein "sớm" hoặc protein điều hòa Việc này có thể kéo theo một hoặc nhiều chu kỳ tổng hợp mRNA - đối với những virus phức tạp có bộ gen lớn - tạo ra

sự biểu hiện gen "muộn" của protein virion hoặc protein cấu trúc

5 Biến đổi protein sau lắp ráp: Sau sự tự lắp ráp do cấu trúc quy định để tạo nên các phần tử virus, thường xảy ra một số thay đổi trong các protein Ở những virus như HIV, sự thay đổi này diễn ra sau khi virus đã được giải phóng ra khỏi tế bào chủ

6 Phóng thích: Virus có thể được giải phóng ra khỏi tế bào vật chủ nhờ tiêu bào Đây là một quá trình tiêu diệt tế bào bằng cách phá tan màng tế bào (và thành tế bào nếu có) của vật chủ Sự phóng thích nhờ tiêu bào là một đặc tính của nhiều virus động vật và vi khuẩn Một số virus trải qua chu trình tiềm tan, khi mà bộ gen của virus được kết hợp do tái tổ hơp di truyền vào một vị trí cụ thể trong chromosome của vật chủ Bộ gen của virus lúc này được gọi là một "provirus", hoặc trong trường hợp của bacteriophages là một "prophage" Bất cứ khi nào vật chủ phân chia, bộ gen của virus cũng được nhân lên cùng Bộ gen này phần lớn thời gian sẽ không hoạt động ở bên trong vật chủ, tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó, provirus hay prophage có thể làm hoạt hóa virus, điều này có thể sẽ làm tan tế bào vật chủ Những virus có vỏ bọc (ví dụ HIV) có đặc trưng là giải phóng khỏi tế bào chủ nhờ "nảy chồi" Trong quá trình này, virus sẽ nhận được vỏ bọc

Trang 17

của chúng, là một phần nhỏ đã qua chỉnh sửa của tế bào chất hoặc các màng bên trong khác của tế bào vật chủ

2.1.6 Bệnh do virus ở người

Virus là tác nhân gây ra nhiều loại bệnh ở người Từ những bệnh thông thường như cảm lạnh, cúm mùa, thủy đậu, mụn rộp… đến các bệnh nghiêm trọng như sốt Ebola, AIDS, cúm gia cầm, SARS…

Các virus có những cơ chế gây bệnh khác nhau ở một sinh vật, phụ thuộc phần lớn vào loài virus Cơ chế ở cấp độ tế bào chủ yếu là tiêu bào dẫn đến cái chết của tế bào sau đó Ở các sinh vật đa bào, nếu có đủ số lượng tế bào chết, toàn bộ cơ thể sẽ bắt đầu chịu tác động Mặc dù virus cũng gây nên sự gián đoạn của cân bằng nội môi gây nên bệnh tật, chúng có thể cùng tồn tại một cách vô hại bên trong cơ thể Ví

dụ virus herpes, nguyên nhân gây ra bệnh rộp môi, virus Epstein-Barr, gây ra bệnh sốt tuyến, virus varicella zoster, loại gây ra thủy đậu và zona có thể duy trì trạng thái bất hoạt bên trong cơ thể người Đây gọi là trạng thái tiềm ẩn (latency) Những virus tiềm

ẩn này đôi khi có thể có lợi, vì sự có mặt của virus làm gia tăng sự miễn dịch chống

lại các mầm bệnh vi khuẩn, ví dụ như Yersinia pestis

Một số loại virus có thể gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính hoặc suốt đời, khi mà virus tiếp tục nhân lên trong cơ thể bất kể có những cơ chế phòng ngự của vật chủ Điều này rất phổ biến với bệnh do virus viêm gan B và viêm gan C Những người

bị nhiễm bệnh mãn tính gọi là những người mang (carrier), do họ đóng vai trò một nguồn dự trữ loại virus xâm nhiễm Ở những quần thể có tỷ lệ người mang cao, căn bệnh được coi là có tính địa phương

Trang 18

650 000 ca tử vong hàng năm liên quan đến các bệnh hô hấp do cúm theo mùa [27].Các đại dịch cúm lớn ở người gồm:

- Đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 do virus cúm A chủng H1N1

Đối với virus cúm type A, dựa vào các kháng nguyên ngưng kết hồng cầu (kháng nguyên H) và neuraminidase (kháng nguyên N) ở bề mặt của virus người ta phân chia thành nhiều type Hiện nay có khoảng 16 dưới type với kháng nguyên ngưng kết hồng cầu (H1 đến H16) và 9 dưới type kháng nguyên N (từ N1 đến N9) Virus cúm A có nhiều vật chủ gồm người, chim, lợn, ngựa Các dưới type cúm A thường gây nhiễm trùng ở những động vật vật chủ đặc thù, mặc dù đôi khi chúng có thể gây nhiễm trùng chéo Virus cúm dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ thường những có sức sống khá dai dẳng ở nhiệt độ thấp

Theo thống kê cứ khoảng 10-15 năm dịch cúm lại xuất hiện trở lại với những biến chứng mới rất khó lường Người ta nhận thấy rằng trong 3 type virus cúm A,B,C thì virus cúm A thường là thủ phạm của các đại dịch Những nghiêm cứu gần đây cho thấy virus cúm A có khả năng thay đổi kháng nguyên để kháng lại kháng thể của người bệnh Hơn nữa virus cúm A gây bênh ở người còn có thể lai ghép với cúm A gây bệnh ở động vật

để tạo ra virus có kháng nguyên khác hẳn với kháng nguyên của virus cúm A nguyên thủy

Trang 19

Theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) dự đoán có một đại dịch cúm gia cầm mới sẽ bùng phát ở tất cả các nước, tấn công khoảng 25-30 % dân số thế giới và cướp đi hàng triệu sinh mạng con người vì vậy chính phủ các nước cần phải chuẩn bị và tăng cường các biện pháp phòng ngừa để giảm thiệt hại về người và của [26]

Từ năm 1997 một chủng virus cúm A H5N1 bắt đầu phát hiện ở gia cầm và lây nhiễm cho những người tiếp xúc trực tiếp và làm tử vong cho người trong một số nước châu Á: Indonexia, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam,…

Hiện nay bệnh cúm đã và đang xảy ra ở gia cầm trong khu vực Châu Á và nhiều nước trên thế giới Dịch cúm A H5N1 là chủng có độc lực cao ở các loài chim di cư và gia cầm, phát triển nhanh và khó kiểm soát vì ở gia cầm và các loài chim di cư, những

cá thể mang virus làm lan nhanh mầm bệnh từ vùng này đến vùng khác và từ quốc gia này sang quốc gia khác [21]

Một chủng virus cúm A khác là H1N1 đã xuất hiện vào năm 2009 xuất phát từ Mexico và Hoa Kỳ, và sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới Chủng này là một biến thể mới do kết hợp nhiều gene khác nhau từ cúm người, cúm heo và cúm gà được gọi là “cúm heo” (swine flue) Đến cuối tháng 4/2009, cúm heo H1N1 đã gây tử vong cho hơn 150 người ở Mexico, và sau đó nhanh chóng lan ra khắp thế giới Ngày 11/6/2009, Tổ chức sức khỏe Thế giới (WHO) đã công bố nâng cấp dịch cúm H1N1 lên pha 6, pha dịch cúm toàn cầu [26][27] Theo thông báo của trung tâm y tế dự phòng và kiểm soát dịch bệnh Châu Âu (ECDC), đến ngày 11/8/2009 toàn thế giới đã ghi nhận 212.008 trường hợp dương tính với cúm A (H1N1) tại 168 Quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 1.717 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong vào khoảng 0,81%) Đến ngày 28/8/2009 đã có đến 209.438 người nhiễm virus cúm A (H1N1), trong đó có 2.185 trường hợp tử vong[26] Bệnh cúm thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2-7 ngày, nhưng đối với trẻ em, người già sức đề kháng kém, đặc biệt là người

có bệnh mãn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc suy giảm miễn dịch thì bệnh cúm có thể diễn biến nặng hơn, dễ bị biến chứng và có thể dẫn đến

tử vong nếu không điều trị kịp thời Biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất là chủ động tiêm vắc xin cúm để phòng bệnh Mặc dù tỉ lệ tử vong thấp, những

Trang 20

bệnh diễn biến nhanh, lây lan mạnh Tình hình dịch còn đang diễn biến phức tạp

và nguy cơ lây lan thành đại dịch trên toàn cầu [21]

Theo Trung tâm Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), từ năm 2010 trở lại đây, mỗi năm trên thế giới có khoảng 9 - 45 triệu trường hợp mắc cúm với khoảng trên 61.000 trường hợp tử vong do biến chứng viêm phổi do cúm

Những trường hợp đã được xác nhận bởi xét nghiệm tìm thấy virus cúm A (H1N1) phần lớn là trẻ em và người trẻ tuổi Nhiễm virus cúm H1N1 mới ở người trong đa số trường hợp có biểu hiện cúm nhẹ, tỉ lệ tử vong thấp Những trường hợp nặng chỉ xảy ra

ở phụ nữ có thai, hay người lớn tuổi bị bệnh tim phổi mãn tính Trong vụ dịch cúm H1N1 năm 2009, phần lớn trường hợp nhiễm virus cúm A (H1N1) có diễn biến lành tính, chỉ những trường hợp nặng cần phải nhập viện hoặc dùng kháng sinh [1]

Cúm lây nhiễm trục tiếp từ người sang người thông qua các giọt bắn nhỏ khi nói chuyện, ho hoặc hắt hơi Tại Việt Nam các virus gây bệnh cúm mùa thường gặp là cúm A/H3N2, A/H1N1 và cúm B[1] Nhiễm virus cúm gia cầm H5N1 bắt đầu được nghiên cứu và thông báo ở Việt Nam sau những trường hợp đầu tiên được thông báo ở Hồng Kong năm 1997 Sau khi tại Hà Nam các trường hợp bệnh được phát hiện bằng chẩn đoán chính xác tại phòng thí nghiệm vào tháng 12/2003, ngành Y tế dự phòng đã tăng cường tiến hành công tác giám sát chặt chẽ các trường hợp bệnh viêm đường hô hấp có lâm sàng nghi ngờ do virus và tiền sử tiếp xúc với gia cầm, đặc biệt gia cầm bị bệnh, chết Các trường hợp có nghi ngờ đều được nhập viện tại bệnh viện Trung Ương tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các bệnh viện lớn trên cả nước để lấy mẫu bệnh phẩm làm xét nghiệm xác định căn nguyên virus gây bệnh Kể từ tháng 12/2003 tới tháng 12/2013

cả nước đã ghi nhận 125 ca bệnh và 62 ca tử vong (tỷ lệ tử vong trong số ca mắc là 49,6%), là nước đứng thứ 3 trên thế giới về số ca mắc và số ca tử vong (sau Indonesia

Trang 21

những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh hô hấp cấp tính ở trẻ em trong

đó Cúm A và Cúm B là 2 virus gây bệnh chính [34] Theo báo cáo về bệnh nhân liên quan đến dịch cúm A (H1N1) 2009 ở Ấn Độ chỉ ra rằng độ tuổi trung bình của bệnh nhân dương tính với H1N1 từ 3 tháng đến 10 tuổi và 60% là nữ [35] Phân tích trẻ

em bị nhiễm virus cúm A tại Thượng Hải-Trung Quốc, bệnh nhân có độ tuổi từ 11 tháng đến 14 tuổi, và nữ chiếm 40% [36]

Tại Việt Nam, Nguyễn Hòai Linh Ly nghiên cứu sự lưu hành của virus cúm B tại miền Bắc Việt Nam chỉ ra rằng lưu hành đồng thời 2 dòng kháng nguyên B/Vicroria (B/Victoria/2/87-lineage) và B/Yamagata (B/Yamagata/16/88-lineage), trong đó dòng B/Victoria chiếm ưu thế năm 2010, 2011 và dòng B/Yamagata chiếm ưu thế năm 2012 [13] Nguyễn Lê Khánh Hằng đã chỉ ra rằng các dịch cúm tại miền Bắc Việt Nam từ năm

2000 đến nay đều có nguyên nhân là virus cúm tuýp A/B Virus cúm A/H1N1 là căn nguyên chủ yếu gây dịch trong 3 năm: 2003, 2006 và 2008 Virus cúm A/H3N2 là căn nguyên chủ yếu gây dịch trong 4 năm: 2002, 2004, 2005 và 2007 Virus cúm B là căn nguyên chủ yếu gây dịch năm 2001 Virus cúm A/H5N1 là một trong những căn nguyên gây viêm phổi nặng từ tháng 12/2003 đến tháng 5/2009 Virus cúm mùa lưu hành quanh năm, thường tập trung vào 2 thời điểm là cuối mùa xuân (tháng 2-3) và giữa mùa hè ( tháng 7-8) Virus cúm A/H5N1 xuất hiện tập trung chủ yếu vào mùa đông –xuân.) [14]

2.2.2 Tổng quan về virus HIV

HIV (Human Immunodeficiency Virus) - tên gọi của một loại virus gây suy giảm miễn dịch[3] HIV làm cho cơ thể người mất dần sức đề kháng với các vi sinh vật gây bệnh, tạo ra các nhiễm trùng cơ hội và tạo điều kiện phát triển ung thư cũng như nhiều bệnh lý nguy hiểm khác Nguồn gốc của HIV bắt nguồn từ châu Phi: có 2 chủng HIV là HIV-1 (bắt nguồn từ tinh tinh) và HIV-2 (bắt nguồn từ loài khỉ Sooty Mangabey ở châu Phi) HIV-1 có khả năng lây truyền cao trên phạm vi toàn cầu[12] Khi HIV xâm nhập vào cơ thể, nó sẽ xâm nhập vào tế bào bạch cầu CD4 Ngoài

ra, HIV còn có thể xâm nhập vào các tế bào khác như: lympho bào B, đại thực bào,

tế bào hình sao, tế bào nguồn, tế bào xơ non, [5] Khi đó, virus chiếm

Trang 22

lấy tế bào, sử dụng tế bào để sản sinh ra hàng trăm nghìn bản sao, đồng thời phá hủy tế bào CD4 Tiếp theo, những bản sao virus HIV này sẽ xâm nhập vào hệ tuần hoàn, tiếp tục gắn vào tế bào CD4 khác, tiếp tục nhân lên Vì các tế bào CD4 có vai trò chống lại các tác nhân gây bệnh cho cơ thể nên khi lượng tế bào CD4 bị thiếu hụt thì sẽ làm giảm sức đề kháng khiến họ dễ mắc bệnh Bên cạnh đó, khi số lượng virus HIV trong máu tăng lên, nguy cơ lây truyền virus từ người bệnh sang người khỏe mạnh cũng tăng theo.Ở người lớn khỏe mạnh số lượng CD4 dao động từ 500 - 1500

tế bào/mm3 máu Ở người mắc HIV, nếu CD4 ở mức từ 350 - 500 tế bào/mm3 máu tức là hệ miễn dịch suy giảm nhẹ Nếu CD4 ≤ 200 tế bào/mm3 máu đồng nghĩa với việc hệ miễn dịch bị suy giảm nặng, nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội cao [5]

Các rối loạn chính trong đáp ứng miễn dịch ở bệnh nhân HIV/AIDS gồm: Giảm

số lượng tế bào lympho T toàn phần, đặc biệt là CD4 giảm nặng, tỷ lệ CD4/CD8 giảm Giảm chức năng của các tế bào miễn dịch như giảm khả năng tăng sinh tế bào đối với các chất gây phân bào và kháng nguyên, giảm đáp ứng độc tế bào vì giảm chức năng tế bào CD8 và tế bào giết tự nhiên Phức hợp miễn dịch tăng, tăng các tự kháng thể và một số protein khác trong huyết thanh, tăng gamma-globulin Giảm đáp ứng kháng thể nguyên phát đối với những kháng nguyên mới tiếp xúc lần đầu Gamma-interferon trong các bệnh nhận HIV/AIDS giảm [7]

Thời gian trung bình từ khi nhiễm HIV virus tới khi tiến triển thành AIDS là khoảng 10 năm Một số bệnh nhân có thể tiến triển nhanh đến AIDS chỉ trong vài tháng [7] Bệnh tiến triển qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều có liên quan chặt chẽ tới số lượng và chức năng của tế bào CD4 Các giai đoạn nhiễm HIV virus gồm [2]:

Nhiễm cấp tính

Giai đoạn cấp tính xảy ra 2 – 4 tuần sau khi nhiễm virus Đa số các trường hợp

bị lây bệnh có các triệu chứng giống như cúm: sốt, phát ban, đau cơ, đau khớp, đau đầu, suy nhược, sưng hạch ở cổ và bẹn, Các triệu chứng nhẹ, không gây chú ý nhưng virus đang sinh sôi và lây lan khắp cơ thể trong thời gian này Đây là thời kỳ

có khả năng lây truyền virus HIV sang người khác cao nhất vì số lượng virus trong máu của bệnh nhân rất cao

Trang 23

AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải):

Giai đoạn ADIS thường diễn ra nhiều năm sau khi bị lây nhiễm HIV Số lượng virus tăng nhanh, tấn công và tiêu diệt các tế bào miễn dịch của cơ thể Vì vậy, người bệnh có phản ứng miễn dịch rất yếu, mất khả năng kháng nhiễm Người bệnh có nhiều triệu chứng khác nhau: sụt cân nhiều, nấm miệng, sốt kéo dài, tiêu chảy kéo dài, viêm phổi, lao phổi, viêm da, viêm mũi, viêm màng não, loét miệng nặng, thiếu máu, Ở giai đoạn cuối của AIDS, người bệnh có những biểu hiện như suy kiệt, nấm thực quản, các bệnh nhiễm trùng cơ hội nặng, suy giảm trí nhớ, ung thư, Có nhiều loại thuốc có thể điều trị cho bệnh nhân AIDS nhưng không thể trị dứt điểm

Trong 40 năm qua, đại dịch HIV/AIDS đã cướp đi sinh mạng của hơn 3 triệu người trên thế giới Theo thống kê của Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), trên thế giới có khoảng 37,9 triệu người đang sống chung với virus nguy hiểm này và 23,3 triệu người bệnh đang điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV) [25] Năm 2018, có khoảng 37,9 triệu người trên toàn cầu bị nhiễm HIV / AIDS vào năm 2018 Trong số này, 36,2 triệu là người trưởng thành và 1,7 triệu là trẻ em (<15 tuổi) [28]., số ca tử vong do nhiễm HIV đã giảm còn khoảng 770.000 trường hợp, giảm 30.000 ca so với năm 2017 và giảm 33% so với năm 2010- thời điểm cả thế giới ghi nhận 1,2 triệu ca nhiễm HIV tử vong [28] Đặc biệt, trong khi số

ca tử vong liên quan đến AIDS tại châu Phi- khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của căn bệnh này- giảm trong thập kỷ vừa qua, thì khu vực Đông Âu lại ghi nhận số

ca tử vong tăng 5%, khu vực Trung Đông và Bắc Phi cùng ghi nhận mức tăng 9%

Số ca nhiễm mới ở các khu vực này cùng có mức tăng lần lượt 29% và 10 % Hơn 50% các ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu thuộc nhóm người có nguy cơ cao như người sử dụng ma túy, quan hệ đồng giới, chuyển giới, người làm nghề mại dâm và

tù nhân [28] Và có chưa tới 50 % những người trong nhóm này được

Trang 24

sử dụng các biện pháp phòng ngừa HIV Trong năm 2018, toàn thế giới có hơn 160.000 ca nhiễm HIV mới là trẻ em, giảm 41% so với năm 2010, song vẫn nhiều gấp 4 lần so với mục tiêu đề ra Hiện HIV được xác định là nguyên nhân gây tử vong đừng hàng thứ tư ở các nước thu nhập thấp và đứng thứ 2 ở các nước châu Phi- cận Sahara Xung đột, nội chiến, biến đổi khí hậu và tình trạng di dân ồ ạt đã và đang khiến nguy cơ lây nhiễm HIV tăng cao cùng như gây ra những khó khăn trong công tác phát hiện, ngăn ngừa và điều trị HIV-AIDS

Tính đến ngày 31/10/2019, Việt Nam có 211.981 người nhiễm HIV còn sống

và 103.426 người nhiễm HIV đã tử vong Trong 10 tháng đầu năm 2019, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 8.479 trường hợp nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16-

29 (40,1%) và 30-39 (33,8%) [3] Đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (67,2%) và qua đường máu (16,6%), mẹ sang con 1,8% còn lại không có thông tin về đường lây truyền Trong số nhiễm mới HIV, có 36% là phụ nữ lây từ chồng, bạn tình bị nhiễm HIV, 24% là người quan hệ tình dục đồng giới và người chuyển giới nữ, 23% là người nghiện chích ma túy, 10% là người mua dâm, 5% là nam giới lây từ vợ, bạn tình bị nhiễm HIV, 2% là phụ nữ bán dâm HIV/AIDS chủ yếu tập trung ở 2 TP lớn là TP HCM và Hà Nội, chiếm 35% số người nhiễm HIV của cả nước; tiếp đến là các tỉnh, thành Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Phòng, Quảng Ninh, An Giang, Thái Nguyên, Đồng Nai, mỗi tỉnh chiếm khoảng 3% số người nhiễm HIV cả nước [3]

2.2.3 Tổng quan về virus viêm gan C

Viêm gan C là một trong những bệnh truyền nhiễm về gan, nguy hiểm do virus Hepatitis C virus (HCV) gây nên [23] Đây là một trong 5 loại viêm gan chính gồm viêm gan A, viêm gan B, viêm gan C, viêm gan D và viêm gan E [6] Bệnh lây truyền

từ người mang virus viêm gan C sang cho người lành theo 3 con đường gồm đường máu, đường tình dục và mẹ truyền cho con qua nhau thai khi sinh Tuy vậy, nguy cơ lây nhiễm theo đường tình dục của Viêm gan B hiếm hơn bệnh viêm gan B Hiện tượng mẹ truyền virus viêm gan C cho con đã có ghi nhận nhưng tỷ lệ cũng thấp Như vậy, nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan C chủ yếu theo đường máu (người nhận máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi C; dùng chung kim tiêm; một

Trang 25

số nguyên nhân khác như châm cứu, bấm lỗ tai, xăm mình mà các dụng cụ hành nghề không tuyệt đối vô khuẩn ) [5] Ngoài ra, có một tỷ lệ khoảng từ 30 - 40% trường hợp bị nhiễm HCV nhưng không rõ nguyên nhân lây nhiễm Viêm gan C có thể được điều trị bằng thuốc kháng vi rút vì hiện nay vẫn chưa có vắc xin phòng viêm gan C [6].Viêm gan C chia thành 2 giai đoạn: Viêm gan C cấp tính và viêm gan C mạn tính [23]

- Viêm gan C cấp tính: là một bệnh nhiễm virus phát triển trong những tuần đầu tiên hoặc vài tháng sau khi siêu vi viêm gan C xâm nhập vào máu của một người Tuy nhiên, một số người sẽ có những biểu hiện từ nhẹ tới nặng sau khi bị nhiễm virus, bao gồm: Mệt mỏi, chán ăn Đây là dấu hiệu khá phổ biến ở người bệnh viêm gan C cấp tính Người bị nhiễm có triệu chứng này là do virus viêm gan C tấn công trực tiếp vào hệ miễn dịch, từ đó khiến cho người bệnh mệt mỏi, lười hoạt động, ngại di chuyển ngay cả khi nằm Biểu hiện khác của thể cấp tính là Sốt nhẹ Triệu chứng sốt này có thể kéo dài hoặc xảy ra theo từng cơn Thông thường, người bệnh khá lơ là khi có dấu hiệu này vì nghĩ chỉ do thời tiết hoặc cảm mạo bình thường Da vàng, ngứa hoặc mắt vàng cũng là những biểu hiện của người mắc viên gan C thể cấp tính Ở giai đoạn đầu, triệu chứng này rất ít xuất hiện Nguyên nhân của triệu chứng này là do virus viêm gan C làm cho hoạt động của gan bị trì trệ, ảnh hưởng đến khả năng lọc thải các chất độc có hại ra khỏi cơ thể, từ đó khiến cho nồng độ bilirubin trong máu tăng cao nên sẽ gây hiện tượng vàng mắt, vàng da ở người bệnh Ngoài những triệu chứng kể trên, người bệnh còn có thể có một số biểu hiện khác, như: đau nhức cơ bắp, đau ở phần trên bên phải của ổ bụng, đau cơ hoặc khớp, buồn nôn hoặc nôn, đau dạ dày, sụt cân, nước tiểu vàng sậm, phân bạc màu, dễ chảy máu, dễ bầm tím Trong 25% trường hợp, virus sẽ tự xóa khỏi cơ thể mà không cần điều trị Nếu không có dấu hiệu rõ rệt

về bệnh tật, hầu hết các ca viêm gan C cấp tính đều dẫn đến nhiễm trùng mãn tính Mỗi năm, có khoảng 150 triệu người bị nhiễm vi rút viêm gan C mạn tính có nguy cơ phát triển thành xơ gan, ung thư gan hoặc suy gan dẫn đến tử vong Sau lây nhiễm ban đầu, khoảng 80% người không thể hiện bất kỳ triệu chứng nào và khi làm các xét nghiệm anti-HCV vẫn cho

Trang 26

kết quả âm tính với virus bởi cơ thể chưa có thời gian để tạo ra các kháng thể chống lại virus [23]

- Viêm gan C mạn tính: Ước tính từ 75% đến 85% những người bị viêm gan C cấp tính sẽ bị nhiễm trùng mãn tính, kéo dài ít nhất 6 tháng và thường lâu hơn Ngay

cả ở giai đoạn này, hầu hết mọi người không có triệu chứng, nhưng điều đó không có nghĩa là nhiễm trùng là lành tính Ở những bệnh nhân không có triệu chứng, viêm gan C thường được phát hiện nhờ xét nghiệm men gan trong máu (ALT, AST) thấy tăng cao và có tới 1/4 số người mắc bệnh viêm gan C mạn tính tiếp tục bị xơ gan, hoặc sẹo nghiêm trọng ở gan Những người này cũng có thể có các triệu chứng khác, bao gồm sưng ở chân và bụng, tích tụ chất độc trong máu có thể dẫn đến tổn thương não Tuy nhiên, triệu chứng viêm gan C ở mỗi người bệnh khác nhau Có những người mắc bệnh nhưng không có bất kỳ một triệu chứng gì hoặc triệu chứng rất mờ nhạt, không đủ để nhận biết Thực tế, nhiều trường hợp mắc bệnh nhiều năm mà không hề biết Để phát hiện mình mắc viêm gan C hay không, cần làm xét nghiệm máu để chẩn đoán Vì vậy, các chuyên gia khuyến cáo nên tầm soát viêm gan C ít nhất 6 tháng/lần để nếu không may mắc bệnh thì tuyệt đối cần tuân theo chỉ định của bác sĩ điều trị vì viêm gan C là một trong những loại virus có độ biến dị nhiều nhất, với hơn 11 genotype (là các kiểu gen khác biệt của các vi sinh vật cùng loài dựa vào

sự khác biệt trên bộ gen của vi sinh vật đó) [23]

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, trung bình 3% dân số thế giới nhiễm HCV, tương đương với khoảng gần 200 triệu người với số nhiễm mới 3-4 triệu người mỗi năm gần 71 triệu người bị nhiễm virus viêm gan C mãn tính [32] Trong

đó, Đông Nam Á có khoảng 32,3 triệu người bị nhiễm, chiếm 2,15% dân số khu vực này Con số này cùng đã gia tăng trong những năm gần đây Virus viêm gan C được xem như là kẻ giết người thầm lặng vì bệnh nhân mắc phỉa virus này có thể không có các triệu chứng gì trong khoảng hơn 10 năm trước khi phát triển thành viêm gan mãn tính và ung thư gan [7] Tỉ lệ nhiễm HVC ở các khu vực trên thế giới là khác nhau Trong đó các nước châu Phi và châu Á có tỉ lệ nhiễm cao nhất, có khu vực lên tới

>10% dân số [32] Theo kết quả điều tra về y tế và dinh dưỡng quốc gia của Mỹ, từ năm 1988 đến năm 1994 cho thấy số lượng nhiễm HCV là 3,9 triệu

Trang 27

người, trong đó 2,7 triệu người Mỹ mắc HCV mãn tính Tuy nhiên, đa số người bệnh có độ tuổi dưới 50 Khoảng 60-70% bệnh nhân sẽ tiến triển bệnh thành gan mãn tính, xơ gan ung thư gan và có thể dẫn đến tử vong [32]

Ở Việt Nam hiện nay, theo số liệu của WHO có khoảng 5-10% dân số nhiễm HCV Năm 2003, tại Hải Phòng tỉ lệ nhiễm HCV ở nội thành là 1,7%, 0,88% ở nông thôn và ở vùng ven biển là 0,87% Ở Thanh Hóa là 0,38% Ở Hà Nội, tỉ lệ nhiễm HCV là 0,4% vào năm 1995 Còn ở các tỉnh phía Nam, tỉ lệ nhiễm HCV tại TP Hồ Chí Minh là 2,53%, tại An Giang là 4,1% và tại Cà Mau là 2,15% Đối với các bệnh nhân bị viêm gan, tỉ lệ có HCV là khoảng 11%, còn ở các bệnh nhân xơ gan là 12,5%

và ung thư gan là 8% [12]

2.2.4 Tổng quan về virus HBV

Viêm gan B là một căn bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus viêm gan B (HBV) [30] Bệnh ảnh hưởng lớn đến hoạt động của gan, có thể gây nhiễm trùng gan thậm chí đe dọa đến tính mạng Hiện nay, virus viêm gan B vẫn là mối đe dọa lớn đến sức khỏe toàn cầu Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 400 triệu người trên thế giới mắc viêm gan B mãn tính [33] Ở Việt Nam hiện nay số người nhiễm virus viêm gan B chiếm khoảng 20% dân số Viêm gan B là nguyên nhân hàng

đầu dẫn đến suy gan, xơ gan, ung thư gan Viêm gan B có thể xảy ra ở bất kỳ đối

tượng nào Nếu bệnh xảy ra ở người lớn vẫn có thể điều trị để loại bỏ virus viêm gan

B dễ dàng [33] Tuy nhiên, một số trường hợp trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người lớn nhiễm virus nhưng không thể điều trị khỏi hoàn toàn Viêm gan B có triệu chứng không rõ ràng nên người bệnh rất khó nhận biết Thậm chí có rất nhiều người bị nhiễm viêm gan B mà không hề hay biết [6] Tuy nhiên, kể cả khi không có triệu chứng bệnh gì thì virus viêm gan B vẫn có thể gây tổn hại nặng nề đến gan sau một thời gian phát triển âm ỉ Do đó, khi tìm hiểu bệnh viêm gan B là gì cần lưu ý những triệu chứng nhận biết bệnh như sau: Cơ thể mệt mỏi, ăn uống không ngon miệng, đau nhức xương khớp, thường xuyên buồn nôn, ói mửa, nước tiểu có màu vàng sẫm, đau bụng, đau hạ sườn phải phân màu xanh xám, sẫm màu, người bệnh thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa, vàng da, vàng mắt, có hiện tượng xuất huyết dưới da, sưng bụng, chướng

Trang 28

bụng[5] Viêm gan B nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể phát triển thành suy gan, xơ gan cổ trướng rất nguy hiểm đến sức khỏe

Virus viêm gan B có cơ chế lây nhiễm giống với virus HIV Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng biệt virus viêm gan B được cảnh báo là còn nguy hiểm hơn cả virus HIV Nếu như virus HIV không thể tồn tại lâu ngoài cơ thể và không thể lây nhiễm trong môi trường tự nhiên thì virus viêm gan B có thể sống ở ngoài tự nhiên đến 1 tháng Cũng giống như virus HIV, virus viêm gan B lây nhiễm chủ yếu qua đường máu, quan hệ tình dục và lây từ mẹ sang con [6] Tuy nhiên, khả năng lây nhiễm của virus viêm gan B cao gấp 100 lần virus HIV Dưới đây là 3 con đường lây nhiễm viêm gan B cần lưu ý:

Lây từ mẹ sang con: Phụ nữ mang thai nếu bị viêm gan B có thể truyền bệnh sang con Tùy vào từng giai đoạn thai kỳ cụ thể mà tỷ lệ lây truyền sẽ khác nhau Cụ thể, nếu mẹ mắc bệnh trong 3 tháng đầu của thai kỳ tỷ lệ lây truyền khoảng 1% Nếu nhiễm bệnh ở 3 tháng giữa thai kỳ, tỷ lệ mắc bệnh ở thai nhi khoảng 10% Nếu thai phụ nhiễm virus viêm gan B ở 3 tháng cuối thai kỳ nguy cơ lây nhiễm sẽ tăng lên 70% Đặc biệt, nếu không có biện pháp bảo vệ sau sinh nguy cơ lây nhiễm sang con lên đến 90% [5]

Lây qua đường máu: Virus viêm gan B có thể dễ dàng lây qua truyền máu, hiến máu, tiêm, xăm hình nếu dụng cụ không được khử trùng đúng cách Ngoài ra, việc

sử dụng chung dao cạo râu, bàn chải đánh răng với người bị viêm gan B cũng có thể khiến bạn dễ dàng bị lây bệnh [6]

Lây qua quan hệ tình dục: Quan hệ tình dục với người bị viêm gan B mà không

có biện pháp phòng tránh an toàn cũng khiến bạn có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh Virus viêm gan B có thể lây nhiễm thông qua tất cả các hành vi tình dục khác giới hoặc đồng giới [6]

HBV là một trong số 7 loại virus viêm gan hiện được biết Bệnh được coi là rất nguy hiểm cho cộng đồng cần phải được phòng tránh Theo ước tính của Tổ chức y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 2 tỷ người nhiễm HBV, trong đó có khoảng 400 triệu người mang virus viêm gan B mạn tính, trong khi đó xơ gan, ung thư tế bào gan nguyên phát gặp ở 30% số người này [33] Thế giới hàng năm có khoảng 50 triệu người bị

Ngày đăng: 14/01/2021, 20:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[13] Phạm Hoài Linh Ly, Luận văn Thạc sĩ Khoa học: “Nghiên cứu sự lưu hành của virus cúm B tại miền Bắc Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự lưu hành của virus cúm B tại miền Bắc Việt Nam
[14] Nguyễn Lê Khánh Hằng luận án Tiến sĩ Sinh học: “Nghiên cứu căn nguyên của các vụ dịch cúm người đầu những năm 2000 tại miền Bắc Việt Nam” năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu căn nguyên của các vụ dịch cúm người đầu những năm 2000 tại miền Bắc Việt Nam
[15] Phạm Thị La và Đtg, “Nghiên cứu tình hình nhiễm HBV, HCV, HIV, Giang mai ở người hiến máu tình nguyện tại Thái Nguyên (2003 – 6/2007)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm HBV, HCV, HIV, Giang mai ở người hiến máu tình nguyện tại Thái Nguyên (2003 – 6/2007)
[16] Nguyễn Tiến Hòa, “Luận án Tiến sĩ Y học: Tình trạng nhiễm HIV, HBV, HCV và yếu tố liên quan ở một số nhóm nguy cơ cao tại Hà Nội, năm 2008-2010 [17] Ngô Thị Quỳnh Trang, “Xác định tỉ lệ nhiễm vi rút viêm gan B (HBsAg) vàviêm gan C (Anti HCV) trong huyết thanh người tại một xã vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam” năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ Y học: Tình trạng nhiễm HIV, HBV, HCV và yếu tố liên quan ở một số nhóm nguy cơ cao tại Hà Nội, năm 2008-2010 [17] Ngô Thị Quỳnh Trang, “Xác định tỉ lệ nhiễm vi rút viêm gan B (HBsAg) và viêm gan C (Anti HCV) trong huyết thanh người tại một xã vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
[18] Trung tâm Y tế thành phố Thái Nguyên năm 2013 “Nghiên cứu về thực trạng nhiễm HIV ở Thái Nguyên.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về thực trạng nhiễm HIV ở Thái Nguyên
[19] Lưu Thị Kim Thanh, Đào Thanh Quyên “Nghiên cứu tình hình nhiễm cúm A trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên vụ dịch 2009”2. Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm cúm A trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên vụ dịch 2009
[34] Kumar, V. Influenza in Children. Indian J Pediatr 84, 139–143 (2017). https://doi.org/10.1007/s12098-016-2232-x Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian J Pediatr
Tác giả: Kumar, V. Influenza in Children. Indian J Pediatr 84, 139–143
Năm: 2017
[35] Parakh, A., Kumar, A., Kumar, V. et al. “Pediatric Hospitalizations Associated with 2009 Pandemic Influenza A (H1N1): An Experience from a Tertiary Care Center in North India. Indian J Pediatr 77, 981–985 (2010)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al." “Pediatric Hospitalizations Associated with 2009 Pandemic Influenza A (H1N1): An Experience from a Tertiary Care Center in North India. "Indian J Pediatr" 77, 981–985 (2010)
[36] Xiang-Shi Wang , Jie-Hao Cai, Wei-Lei Yao, Yan-Ling Ge, Qi-Rong Zhu, Mei Zeng “Clinical Characteristics and Molecular Epidemiology of the Novel Influenza A (H1N1) Infection in Children in Shanghai” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Characteristics and Molecular Epidemiology of the Novel Influenza A (H1N1) Infection in Children in Shanghai
[37] Amanda J Noska , Pamela S Belperio , Timothy P Loomis , Thomas P O'Toole , Lisa I Backus “ Prevalence of Human Immunodeficiency Virus, Hepatitis C Virus, and Hepatitis B Virus Among Homeless and Nonhomeless United States Veterans 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of Human Immunodeficiency Virus, Hepatitis C Virus, and Hepatitis B Virus Among Homeless and Nonhomeless United States Veterans 2015
[38] Jamil A Al-Mughales “ Co-infection Assessment in HBV, HCV, and HIV Patients in Western Saudi Arabia 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Co-infection Assessment in HBV, HCV, and HIV Patients in Western Saudi Arabia 2016
[39] Oluyinka Oladele Opaleye , Magdalene C Igboama , Johnson Adeyemi Ojo , Gbolabo Odewale “ Seroprevalence of HIV, HBV, HCV, and HTLV Among Pregnant Women in Southwestern Nigeria in 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seroprevalence of HIV, HBV, HCV, and HTLV Among Pregnant Women in Southwestern Nigeria in 2016
[26] World Health Organization (2013), Cummulative number of confirmed human cases of avian influenza A(H5N1) reported to WHO, truy cập ngày 18/12/2019, tại trang web http://www.who.int/influenza/humananimal interfac/ENGIXP20131210 CumulativeNumber H5N 1 cases.pdf Link
[27] World Health Organization (2017), Up to 650 000 people die of respiratory diseases linked to seasonal flu each year reported to WHO, truy cập ngày 18/12/2019 tại trang web https://www.who.int/en/news- room/detail Link
[28] World Health Organization (2019), The Global HIV/AIDS Epidemic reported to WHO, truy cập ngày 21/6/2020 tại trang web https://www.hiv.gov/hiv- basics/overview/data-and-trends/global-statistics Link
[29] World Health Organization (2019), The Global COVID-19 pandemic reported to WHO truy cập ngày 21/6/2020 tại trang web https://www.who.int/emergencies/diseases/ novel-coronavirus-2019 Link
[30] World Health Organization (2019), The Global EBOLA pandemic reported to WHO, truy cập ngày 18/12/2019 tại trang web https://www.who.int/health-topics/ebola#tab=tab_1 Link
[31] World Health Organization (2019), The Global MERS pandemic reported to WHO, truy cập ngày 18/12/2019 tại trang web https://www.who.int/health-topics/middle-east-respiratory-syndrome-coronavirus-mers#tab=tab_1 Link
[32] World Health Organization (2019), Hepatitis C reported to WHO, truy cập ngày 1/6/2020 tại trang web https://www.who.int/news- room/factsheets/detail/ hepatitis-c Link
[33] World Health Organization (2019), Hepatitis B reported to WHO, truy cập ngày 18/6/2020 tại trang web https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hepatitis-b Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w