1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CẬP NHẬT VỀ CÁC THÀNH PHẦN LIPID MÁU THEO CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

6 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 454 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cholesterol, là thành phần thiết yếu cấu tạo của lipid, là phân tử tiền chất cho sự hình thành các axit mật (cần thiết để hấp thụ các chất dinh dưỡng), tổng hợp các hormon steroid [r]

Trang 1

CẬP NHẬT VỀ CÁC THÀNH PHẦN LIPID MÁU THEO CÁC NGHIÊN CỨU

TRÊN THẾ GIỚI

Nguyễn Thị Hương Ly * , Trần Thị Thanh Hương

Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Kiến thức về chuyển hóa lipid và lipoprotein là điều cần thiết để hiểu các mục tiêu điều trị cho các nhóm thuốc Lipid là các phân tử nhỏ có khả năng lưu trữ năng lượng của cơ thể, thu nhận tín hiệu

tế bào và là thành phần của màng tế bào Cholesterol, là thành phần thiết yếu cấu tạo của lipid, là phân tử tiền chất cho sự hình thành các axit mật (cần thiết để hấp thụ các chất dinh dưỡng), tổng hợp các hormon steroid và đảm bảo hình thành + tính toàn vẹn của màng tế bào Tuy nhiên, cholesterol dư thừa đóng một vai trò trung tâm trong quá trình sinh xơ vữa và các biến chứng xơ vữa động mạch sau đó

Từ khóa: Cholesterol, triglyceride, LDL, HDL, Lipid máu

Ngày nhận bài: 09/01/2019; Ngày hoàn thiện: 12/02/2019;Ngày duyệt đăng: 29/4/2019

THE COMPONENTS OF LIPIDEMIA: AN UPDATE FROM RESEARCHS

Nguyen Thi Huong Ly * , Tran Thi Thanh Huong

University of Information and Communication Technology - TNU

ABSTRACT

Knowledge of lipid and lipoprotein metabolism is essential to understanding therapeutic targets for pharmacologic agents Lipids are small molecules that function in the body’s storage of energy, in cellular signaling, and as components of cell membranes Cholesterol, an essential lipid, is the precursor molecule for the formation of bile acids (which are required for absorption of nutrients), the synthesis of steroid hormones (which provide important modulating effects in the body), and the formation and integrity of cellular membranes However, excess cholesterol plays a central role

in atherogenesis and subsequent atherothrombotic complications

Key words: Cholesterol, Triglyceride, LDL, HDL, Lipidemia

Received: 09/01/2019; Revised: 12/02/2019; Approved: 29/4/2019

* Corresponding author: Email: nthly@ictu.edu.vn

Trang 2

MỞ ĐẦU

Các tế bào thu giữ cholesterol theo hai cách:

Bằng tổng hợp nội bào hoặc hấp thu từ tuần

hoàn hệ thống Trong mỗi tế bào, cholesterol

được tổng hợp thông qua một loạt các bước

chuyển hóa, nhiều giai đoạn trong số đó được

xúc tác bởi các enzym Bước không thể đảo

ngược và hạn chế tốc độ trong sản xuất

cholesterol là chuyển đổi

β-hydroxyl-β-methylglutaryl coenzyme A (HMG-CoA)

thành axit mevalonic, được xúc tác bởi

HMG-CoA reductase Một trong những liệu pháp hạ

lipid hiệu quả nhất được phát triển cho đến

nay để điều trị rối loạn lipid máu là thuốc ức

chế HMG-CoA hoặc statin, cản trở cạnh tranh

với chất nền của enzyme quan trọng này, do

đó làm giảm tổng hợp cholesterol của tế bào

Quá trình tổng hợp cholesterol ở người theo

nhịp sinh học, tổng hợp cholesterol tối đa lúc

nửa đêm và tối thiểu vào giữa trưa [1]

Cholesterol tự do được ester hóa thành este

cholesteryl để dự trữ trong tế bào nhờ tác

động của enzyme acetyl CoA acetyl

transferase (ACAT) Hai dạng của ACAT đã

được xác định ACAT1 có mặt trong nhiều

mô, các tế bào viêm, trong khi ACAT2 có

mặt trong các tế bào niêm mạc ruột và tế bào

gan Cần có ACAT2 cho quá trình este hóa và

hấp thụ cholesterol trong chế độ ăn uống từ

ruột Về lý thuyết, sự ức chế enzyme này có

thể làm giảm sự hấp thụ cholesterol trong chế

độ ăn, sự bài tiết cholesterol của gan, và ngay

cả sự hấp thụ và lưu giữ cholesterol ở các tế

bào viêm trong thành động mạch Một số chất

ức chế ACAT đã được nghiên cứu tuy nhiên

trong các nghiên cứu lâm sàng, dường như

chúng không làm giảm xơ vữa động mạch

Triglyceride (TG) là nguồn năng lượng dự trữ

quan trọng trong mô mỡ TG được tổng hợp

từ ba phân tử acid béo este hóa thành bộ

khung glycerol Phospholipid (PLs) là một

loại lipid được hình thành từ các acid béo,

một nhóm phosphate có điện tích âm, alcohol

chứa nitơ và khung glycerol PL rất cần thiết

cho chức năng tế bào và sự hấp thụ, lưu trữ và

vận chuyển chất béo trong tuần hoàn Chúng tạo thành lớp đơn trên bề mặt của lipoprotein

có chức năng vận chuyển lipid trung tính khắp cơ thể PL là phân tử phân cực với một đầu ưa nước và đuôi kỵ nước tạo thành một màng kép của lipoprotein để tạo hàng rào kỵ nước (cholesterol và năng lượng dưới dạng chất béo) cho các cơ quan khác PL cũng tham gia quá trình tiết ra mật để hỗ trợ tiêu hóa và hấp thu chất béo và chất dinh dưỡng hòa tan trong chất béo từ chế độ ăn uống Chúng ổn định protein trong màng tế bào, hoạt động như các cofactors trong phản ứng enzym, và tham gia vào quá trình oxy hóa lipoprotein trong thành động mạch

Lipoproteins

Các tế bào cũng có được cholesterol bằng cách lấy nó từ hệ tuần hoàn Nguồn gốc của cholesterol này là gan, nơi nó được tổng hợp

và tiết ra vào hệ tuần hoàn Như đã thảo luận

ở trên, cholesterol và các lipid khác không tan trong nước Do đó, cholesterol, TG, và PLs được đóng gói thành phức hợp tan trong nước được gọi là lipoprotein trong tế bào gan và tế bào ruột trước khi được tiết vào máu Các lipoprotein này gồm một lõi lipid chứa các este cholesteryl và TG và một lớp màng ngoài

ưa nước tạo thành từ PL và cholesterol không được este hóa Lớp ngoài cũng chứa ít nhất một trong số các protein được gọi là

“apoprotein,” hoạt động như các cofactors cho các enzym khác nhau, và thêm tính toàn vẹn cấu trúc

Ba lipoprotein chính được tìm thấy trong máu của bệnh nhân (10-12 giờ) là lipoprotein tỉ trọng rất thấp (VLDL), lipoprotein tỉ rọng thấp (LDL) và lipoprotein tỉ trọng cao (HDL) Những hạt này có kích thước, thành phần cholesterol và Triglyceride và các protein đi kèm khác nhau [2]

LIPOPROTEIN TỈ TRỌNG RẤT THẤP Các hạt VLDL được hình thành trong gan Các axit béo tự do được hấp thụ bởi tế bào gan nơi enzyme diglycerol acyltransferase (DGAT) xúc tác hình thành TG từ

Trang 3

diacylglycerol và coenzyme AcylCoA

Protein chuyển hóa protein triglycerid

enzyme (MTP) lipidates apoprotein B bằng

cách chuyển este cholesteryl (CE) và TG

thành VLDL, sau đó được gan tiết ra vào tuần

hoàn Các chất ức chế MTP làm giảm nồng

độ VLDL, IDL và LDL Một trong những

thuốc này, lomitapide, hiện đang được chấp

thuận để điều trị dạng đồng hợp tử của các

thuốc ức chế FH DGAT làm giảm tổng hợp

TG hiện đang được nghiên cứu để kiểm soát

bệnh béo phì và tăng triglyceride máu

Các VLDL thường chứa 15% đến 20% tổng

nồng độ cholesterol trong máu và phần lớn

tổng nồng độ TG trong máu Nồng độ

cholesterol trong các hạt này xấp xỉ một phần

năm tổng nồng độ TG; do đó, nếu lấy tổng

TG đem chia cho 5 ra nồng độ

VLDL-cholesterol (VLDL-C) Các hạt VLDL dường

như chỉ đóng vai trò nhỏ trong sinh bệnh học

của xơ vữa động mạch [3]

Trong quá trình tuần hoàn, lipoprotein lipase

enzyme (LPL) thủy phân TG trong các hạt

VLDL Các TG được loại bỏ chuyển thành

các axit béo và được lưu trữ như một nguồn

năng lượng trong mô mỡ Khi các TG được

loại bỏ, hạt VLDL trở nên nhỏ dần và giàu

cholesterol hơn Các hạt được hình thành

thông qua quá trình này bao gồm các hạt

VLDL nhỏ (được gọi là VLDL còn sót lại),

lipoprotein mật độ trung bình (IDL) và LDL

(Hình dưới) Khoảng 50% các hạt VLDL và

IDL còn lại được loại bỏ khỏi tuần hoàn hệ

thống bởi các thụ thể LDL hoặc

apolipoprotein (apo) B-100 / apo E trên bề

mặt gan; 50% còn lại được chuyển thành các

hạt LDL bằng cách tiếp tục hoạt động thủy

phân lipase của gan Các hạt còn lại của

VLDL được tìm thấy trong thành động mạch,

mặc dù với số lượng nhỏ hơn LDL Các loại

thuốc tăng cường hoạt động của LPL, chẳng

hạn như các fibrate, tăng thủy phân TG trong

các hạt VLDL và nồng độ TG trong máu thấp

hơn [5]

LIPOPROTEINS TỈ TRỌNG THẤP Các hạt LDL giàu cholesterol và mang 60% đến 70% tổng lượng cholesterol trong máu LDL đóng một vai trò trung tâm trong sinh bệnh học của xơ vữa động mạch và là mục tiêu chính của liệu pháp hạ lipid máu Khoảng một nửa các hạt LDL được loại bỏ khỏi tuần hoàn hệ thống bởi gan; nửa còn lại có thể được đưa lên các tế bào ngoại vi hoặc lắng đọng trong không gian bên trong của động mạch vành, động mạch cảnh và các động mạch ngoại vi khác, nơi xơ vữa động mạch có thể phát triển Xác suất xơ vữa động mạch sẽ phát triển có liên quan trực tiếp đến nồng độ LDL-C trong tuần hoàn hệ thống và thời gian tiếp xúc với nồng độ LDL-C cao; do đó, nguy

cơ tích lũy của ASCVD ở nam giới và phụ nữ

bị tăng cholesterol máu tăng theo tuổi

LIPOPROTEINS TỈ TRỌNG CAO Các hạt HDL vận chuyển cholesterol từ các tế bào viêm ngoại vi, giàu lipid trong thành động mạch trở lại gan, quá trình này gọi là vận chuyển cholesterol ngược lại Trong các nghiên cứu dịch tễ học HDL cholesterol (HDL-C) có liên quan tỉ lệ nghịch với nguy

cơ của ASCVD Vì cholesterol đang được loại bỏ khỏi mô mạch và không thể đóng góp cho quá trình sinh xơ vữa Trong các tế bào ngoại vi, adenosine triphosphate gắn với enzym vận chuyển A-1 (ABCA-1) và G-1 tạo điều kiện chuyển cholesterol và PLs để apo A1 để tạo thành hạt HDL mới sinh Cholesterol thu được từ các tế bào ngoại vi chuyển sang HDL thông qua hoạt động của enzyme chuyển hóa lecithin-cholesterol acyl (LCAT) Các hạt HDL có thể vận chuyển cholesterol trực tiếp đến gan thông qua sự tương tác với thụ thể SR-B1, trên bề mặt của

tế bào gan hoặc chuyển nó sang dạng các hạt VLDL và LDL còn sót lại qua hoạt động của protein chuyển ester cholesterol (CETP) CETP chuyển cholesterol từ hạt HDL sang VLDL và LDL để đổi lấy TG, khiến cho hạt HDL ít cholesterol hơn cholesterol có thể được trả lại cho gan để giải phóng vào hệ tuần

Trang 4

hoàn hoặc đưa trở lại tế bào ngoại vi Bệnh

nhân được xác định là người thiếu CETP và

nồng độ HDL –C trong huyết tương cao

dường như có liên quan đến tỷ lệ mắc CHD

thấp Thuốc ức chế CETP có thể làm tăng

nồng độ HDL-C và đang được nghiên cứu

trong nghiên cứu kết cục nguy cơ tim mạch

lâu dài [5]

RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID GÂY XƠ

VỮA ĐỘNG MẠCH

Rối loạn mỡ máu do lối sống đặc trưng bởi

tăng TG trung bình (150-500mg/dL, VLDL

cao), nồng độ HDL-C thấp (<40 mg/dL) và

mức LDL-C giá trị nhẹ đến trung bình

Những bệnh nhân này có tăng nồng độ của

các hạt LDL nhỏ, dày đặc, không phải là

HDL và apo B-100 Thông thường, những

bệnh nhân này kèm theo tăng nhiễm mỡ tạng,

tăng huyết áp và kháng insulin

Khi có tăng chuyển hóa glucose và/hoặc tiểu

đường sẽ tăng huy động các acid béo từ các tế

bào mỡ vào hệ thống tuần hoàn Sự dư thừa

của các acid béo tự do dẫn đến tăng tổng hợp

TG và tiết ra các hạt VLDL giàu TG bởi gan

Những hạt này có chứa apo-CIII ức chế hoạt

động của LPL, do đó làm chậm quá trình phân

giải các TG từ các hạt VLDL Điều này dẫn

đến sự dư thừa của các hạt sót lại VLDL giàu

TG CETP trung hòa sự trao đổi TG từ những

hạt này với các este cholesteryl từ HDL, dẫn

đến các hạt còn sót lại của VLDL giàu

cholesterol TG cũng được trao đổi từ các hạt

còn lại của VLDL với các este cholesteryl từ các hạt LDL Do đó, phần sót lại VLDL trở nên giàu cholesterol hơn và các hạt LDL sẽ giàu

TG Các hạt sót lại VLDL giàu cholesterol gây

xơ vữa động mạch (atherogenic) LDL giàu TG trải qua quá trình ly giải lipid xúc tác bởi lipase gan để loại bỏ TG, dẫn đến các hạt LDL nhỏ nghèo cholesterol(được gọi là LDL tỉ trọng nhỏ) gây xơ vữa mạch cao Ly giải TG giảu HDL dẫn đến giảm HDL do tăng bài tiết giàu

TG dẫn đến HDL thấp do bài tiết apo A-I nghèo lipid qua thận

BỆNH XƠ VỮA MẠCH MÁU Cholesterol tuần hoàn là nguyên nhân chính gây ra xơ vữa mạch máu Tổn thương xơ vữa mạch máu bắt đầu trong thập niên đầu tiên của cuộc đời và tiến triển theo sự tăng lên của Cholesterol và nguy cơ tim mạch không được kiểm soát Xơ vữa mạch máu được coi là quá trình viêm mạn tính để đáp ứng với tổn thương nội mô mạch máu bởi các yếu tố như là sản phẩm Glycoxidate ở đái tháo đường, quá nhiều acid béo được giải phóng bởi tế bào mỡ

Ở bệnh nhân dư thừa apo-B chứa lipoprotein [VLDL còn dư, IDL, LDL và Lp(a)], hạt tạo mảng xơ vữa di chuyển qua lớp nội mô chức năng để vào lớp dưới nội mô hoặc lớp áo trong Sự tích tụ và giữ lại của lipoprotein ở lớp áo trong bằng cách bám vào chất nền dưới nội mô như chondroitin sulfate proteoglycan Ngay sau khi di chuyển vào lớp dưới nội mô, lipoprotein được biến đổi cấu trúc do sự oxy hóa Các lipoprotein này kích thích các tế bào nội mô rối loạn chức năng giải phóng phân tử kết dính tế bào và hóa hướng động, thúc đẩy

sự bám dính và kích thích sự di chuyển của bạch cầu đơn nhân và tế bào lympho vào lớp

áo trong Do đó, xơ vữa mạch máu là một quá trình viêm nhằm đáp ứng sự giữ lại và thay đổi của Lipoprotei Sự tiếp tục ứ lại của Lipoprotein bị oxy hóa làm ức chế tính di động của đại thực bào và tế bào trở thành độc

sẽ gây tổn thương thêm cho nội mô mạch máu Khi các đại thực bào hấp thụ các

Trang 5

Lipoprotein đã biến đổi, các đại thực bào trở

thành tế bào bọt Đại thực bào đơn nhân và tế

bào bọt tiếp tục tiết ra các yếu tố tăng trưởng và

cytokines và thiết lập một quá trình viêm mạn

tiến triển thành mảnh xơ vữa phức tạp hơn

Khi mảng xơ vữa đang tiến triển, tế bào cơ trơn

mạch máu từ lớp áo giữa di chuyển lên trên và

sinh sôi gần bề mặt Collagen được tăng tổng

hợp Dẫn đến việc chuyển đổi các tổn thương xơ

vữa mạch máu sớm có nhiều lipid trong với nắp

xơ mỏng thành một tổn thương ổn định hơn có

lõi lipid nhỏ bên trong và nhiều Collagen,

Protein nền Tại bất kì thời điểm nào, tổn thương

xơ vữa mạch máu ở các giai đoạn phát triển

khác nhau có thể tìm thấy dọc theo các động

mạch ở bệnh nhân nguy cơ cao [6]

Khi tổn thương xơ vữa mạch máu phát triển, tái

cấu trúc động mạch vành để phù hợp với lõi

giàu lipid Tổn thương bắt đầu to ra từ lòng

mạch vào lớp áo giữa/áo ngoài, do đó, bảo vệ

lòng mạch và bảo đảm lưu thông máu bình

thường Tuy nhiên, tổn thương phát triển dài

hơn, lòng mạch bị xâm lấn và trở nên hẹp vì tổn

thương xơ vữa Tế bào viêm tiết ra matrix

metalloproteinases làm thoái hóa collagen và

fibrin được tiết bởi tế bào cơ trơn mạch máu,

gây nên xơ yếu và tổn thương dễ bị tổn

thương hơn do mảng mãng xơ vữa vỡ Chết

theo chu trình của tế bào cơ trơn của mảng xơ

vữa làm tổn thương càng yếu hơn Các tiến

trình nào tạo cơ hội cho mảng xơ vữa dễ vỡ

hơn Collagen tiếp xúc với mảng xơ vữa có

thể kích hoạt hoạt động của tiểu cầu và yếu tố

mô (tissue factor) bởi đại thực bào và tế bào cơ

trơn kích hoạt dòng thác đông máu Tiểu có có

thể kết dính với các huyết khối nhỏ Các cục

máu đông có thể làm tắc mạch máu hoàn toàn,

gây nên nhồi máu cơ tim Phổ biến hơn, chỉ tắc

nghẽn một phần, gây nên triệu chứng thiếu máu

cục bộ thoáng qua hoặc đau thắt ngực không ổn

định Cục máu đông tạo một hàng rào giữa mô

và mạch máu và cho phép hồi phục mảng xơ

vữa vỡ Quá trình của sự nứt và tái hồi phục

diễn ra dẫn đến tổn thương xơ vừa mạch máu

càng phức tạp

Tổn thương xơ vữa mạch máu tồn tại liên tục

từ tổn thương giàu lipid dễ bị vỡ và tạo huyết khối cho đến mảng ổn định nghèo lipid, tổn thương giàu Collagen và fibrin Tổn thương

xơ vữa mạch máu trẻ hơn chỉ chiếm trong khoảng lớp áo trong, trong khi đó, tổn thương già hơn có thể lồi ra lòng mạch Thực tế thì tổn thương thủ phạm dẫn đến nhồi máu cơ tim cấp không thông thường tại vị trí hẹp nhất, mà là vị trí xa với nó [7]

KẾT LUẬN Việc hiểu rõ được bản chất, cấu tạo và cơ chế hình thành cũng như mối liên quan giữa các thành phần mỡ máu trong cơ thể sẽ giúp cho việc nghiên cứu tìm ra thuốc điều trị cũng như sử dụng đúng thuốc tác động vào các cơ chế liên quan của các loại lipid trong

cơ thể chúng ta

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] American Diabetes Association, “Standards of

diabetes care”, Diabetes Care, 38(Suppl 1), pp

S49–S57, 2015

[2] Barros ANAB, “Association of Copper Status

with Lipid Profile and Functional Status”, Patients with Amyotrophic Lateral Sclerosis, doi: 10.1155/2018/5678698 eCollection 2018, 2018 [3] Caroline Zeind, “Chapter 8: Dyslipidemias, Atherosclerosis, and Coronary Heart Disease”,

Applied-Therapeutics the clinical use of drug, pp

335-336, 2018

[4] R H Eckel, “Lifestyle management to reduce cardiovascular risk”, AHA/ACC Guideline,

doi:10.1161/01.cir.0000437740.48606.d1, 2013 [5] T Ivert, Jame S., “Cardiovascular events in patients under age fifty with early findings of

elevated lipid and glucose levels”, The AMORIS study, 13(8), pp e0201972, 2018

[6] C M Phillips, “Dietary Inflammatory Index and Biomarkers of Lipoprotein Metabolism”,

Inflammation and Glucose Homeostasis in Adults,

10(8), pp pii: E1033 doi: 10.3390/nu10081033,

2018

[7] N J Stone, “A report of the American College

of Cardiology/American Heart Association Task

Force on Practice Guidelines”, ACC/AHA guideline

on the treatment of blood cholesterol to reduce atherosclerotic cardiovascular risk in adults, 63, pp

2889–2934, 2013

Ngày đăng: 14/01/2021, 19:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w