Luận văn đã phân tích hoạt động truyền thông tại các doanh nghiệp lữ hành hiện nay, từ đó, đánh giá hiêụ quả hoạt động của bộ phận truyền thông tại các công ty lữ hành, mối quan hệ giữa
Trang 1-
PHẠM BĂNG THANH
TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU (Khảo sát báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau năm 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Cà Mau - 2020
Trang 2-
PHẠM BĂNG THANH
TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU (Khảo sát báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau năm 2019)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 8320101.01 (UD)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Cà Mau - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan Luận văn “Truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau” (Khảo sát báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau năm 2019) là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Huy Phượng (Học viện Báo chí và Tuyên truyền)
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, rõ nguồn và chưa được công bố trong các công trình nào khác Trong Luận văn có sử dụng, kế thừa và phát triển các tư liệu, các kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình liên quan đến đề tài và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được trích dẫn nguồn
cụ thể
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả Luận văn
Phạm Băng Thanh
Trang 4nhiệt tình của các thầy cô, các đồng nghiệp và gia đình
Trước hết, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Hà Huy Phượng, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Viện Đào tạo Báo Chí và Truyền Thông - Đại Học KHXH&NV Hà Nội đã truyền dạy, cập nhật những tri thức quý báu, làm nền tảng vững chắc để nghiên cứu về chuyên ngành Báo chí học, giúp tôi
có thêm kiến thức, lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô đơn vị liên kết đào tạo Trường Đại Học Bình Dương Phân hiệu tại Cà Mau đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất để lớp học diễn ra nghiêm túc, thành công
Trân trọng cảm ơn Nhà báo Nguyễn Danh, Phó tổng Biên tập Báo Cà Mau; Nhà báo Phạm Thanh Phong, Phó Giám đốc Đài PT-TH Cà Mau; ông Trần Hiếu Hùng, Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau; ông Trần Thanh Nghị, Phó Giám đốc BenThanh Tourist Chi nhánh Cần Thơ, Trưởng Văn phòng Đại diện BenThanh Tourist tại Cà Mau; bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ - Du lịch Phú Cường; cùng các nhà báo, phóng viên, biên tập viên tại Báo Cà Mau và Đài PT-TH Cà Mau, các anh chị em đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện giúp có thêm kiến thức, số liệu, kinh nghiệm và thông tin thiết thực để thực hiện Luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song, Luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo cùng các bạn đọc quan tâm
Cà Mau, ngày 29 ltháng 9 năm 2020
Phạm Băng Thanh
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 13
7 Kết cấu của Luận văn 13
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN BÁO CHÍ 14
1.1 Các khái niệm cơ bản 14
1.1.1 Khái niệm “chính sách” và khái niệm “chính sách phát triển du lịch” 14
1.1.2 Khái niệm “truyền thông”, khái niệm “truyền thông chính sách”, khái niệm “truyền thông chính sách phát triển du lịch” và khái niệm “báo chí địa phương” 18
1.2 Đặc điểm và vai trò của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 21
1.2.1 Đặc điểm của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 21
1.2.2 Vai trò của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 23
1.3 Cơ sở chính trị - pháp lý 25
1.3.1 Cơ sở chính trị 25
1.3.2 Cơ sở pháp lý 30
1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 33
1.4.1 Những yêu cầu chung 33
1.4.2 Những yêu cầu cụ thể đối với truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 36
Tiểu kết Chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU HIỆN NAY 40
2.1 Tổng quan về báo chí tỉnh Cà Mau 40
Trang 72.1.1 Báo Cà Mau 40
2.1.2 Đài PT-TH Cà Mau 41
2.2 Tần suất xuất hiện các tin, bài truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau 41
2.3 Nội dung về chính sách phát triển du lịch được truyền tải trên báo chí Cà Mau 48
2.4 Hình thức chuyển tải thông điệp truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau 50
2.5 Những thành công, hạn chế 58
2.5.1 Thành công 58
2.5.2 Hạn chế 59
Tiểu kết Chương 2 64
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU 65
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 65
3.1.1 Những vấn đề chung đối với truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 65
3.1.2 Những vấn đề cụ thể đối với truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau 66
3.2 Giải pháp về vấn đề truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau hiện nay 73
3.3 Một số khuyến nghị 77
3.3.1 Nhận thức tầm quan trọng của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 77
3.3.2 Đổi mới cơ chế, chính sách và nguồn lực truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí 79
Tiểu kết Chương 3 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 93
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH MINH HỌA
Danh mục hình
Hình 2.1 Chuyên mục Du lịch trên Báo Cà Mau Online 55 Hình 2.2 Chương trình Khám phá Cà Mau được phát 01 kỳ/tháng 55 Hình 2.3 Trang điện tử http://ctvcamau.vn 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước nước ta đã định hướng đưa du lịch trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn, và là điểm đến có sức cạnh tranh cao của du lịch thế giới
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường hoạt động truyền thông
về du lịch” (Quyết định 44/QĐ-TTg ban hành ngày 09/01/2019), theo đó xác định
đẩy mạnh truyền thông quảng bá hình ảnh, văn hoá, đất nước, con người Việt Nam góp phần xây dựng, định vị hình ảnh thương hiệu du lịch Việt Nam [53]
Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng Kế hoạch đẩy mạnh hoạt động truyền thông về du lịch, qua đó, tạo sự đột phá trong nâng cao nhận thức của xã hội
về phát triển du lịch bền vững và hiệu quả của hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong và ngoài nước
Báo chí là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực truyền thông Tại Hội thảo
quốc tế “Vai trò của báo chí với sự phát triển du lịch” diễn ra ở thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh, ngày 22/5/2019 cũng đã khẳng định du lịch không thể phát triển nếu thiếu truyền thông báo chí Đồng thời nhấn mạnh vai trò, thế mạnh của tất
cả các loại hình báo chí để từ đó có chiến lược truyền thông dài hạn, tận dụng lợi thế của công nghệ 4.0; đổi mới phương thức truyền thông, nâng cao tính chuyên nghiệp; có sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, sự thống nhất trong truyền thông giữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, cơ quan quản lý báo chí, các địa phương có điểm đến và cơ quan báo chí
Tại Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, được thiên nhiên ưu đãi
“rừng vàng, biển bạc, đất phù sa”, có tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế biển, nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch sinh thái, với trên 100.000 ha rừng tràm, rừng đước đặc trưng đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau (diện tích khoảng 42.000 ha) và Vườn quốc gia U Minh Hạ (diện tích trên 8.200 ha) đang được quy hoạch, kêu gọi các dự án đầu tư phát triển du lịch, nhất là phát triển du lịch sinh thái xứng tầm trong tương lai không xa
Trang 10Tài nguyên du lịch của Cà Mau còn là nét rất đặc trưng gắn liền với văn hóa bản địa đặc sắc: lễ hội dân gian, công trình kiến trúc, nghề truyền thống, văn hóa ẩm thực và giai điệu ngọt ngào của loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ cùng câu chuyện hài hước, dí dỏm của nghệ danh lừng danh Bác Ba Phi
Các sản phẩm du lịch nơi đây ngày càng đa dạng, phong phú Nhiều điểm du lịch mới đưa vào hoạt động như khu du lịch Mũi Cà Mau đã được đầu tư, nâng cấp,
là điểm hấp dẫn đối với du khách; khu du lịch Hòn Đá Bạc, Vườn sưu tập động vật
hệ sinh thái rừng tràm Lâm ngư trường Sông Trẹm, Vườn chim trong lòng Thành phố Cà Mau… cũng là những nhân tố quan trọng không kém trong chuỗi phát triển
du lịch Cà Mau trong tương lai Nếu như Hà Giang - vùng đất địa đầu cực Bắc với Lũng Cú, với ruộng bậc thang Mù - Cang - Chải huyền thoại thì Vườn quốc gia Mũi
Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc thiêng liêng có điểm du lịch Công viên Văn hóa - Du lịch Mũi Cà Mau mà bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng mong ước một lần được đến
Tuy nhiên, năm 2019 tổng lượt khách du lịch đến Cà Mau chỉ đạt gần 2 triệu lượt (trong đó, khách quốc tế chỉ hơn 28 nghìn lượt), so với một số tỉnh trong khu vực ĐBSCL như Kiên Giang, An Giang thì còn rất thấp Theo kế hoạch phát triển
du lịch đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Cà Mau đặt mục tiêu trở thành điểm đến du lịch an toàn, thân thiện, uy tín, hấp dẫn với sức cạnh tranh cao; đưa thương hiệu du lịch Cà Mau trên bản đồ quốc gia và quốc tế
Góp phần để du lịch Cà Mau phát triển, trong nhiều năm qua, báo chí Cà Mau luôn đồng hành, bám sát chủ trương của địa phương và đã làm tốt vai trò của mình trong công tác tuyên truyền về đất và người Cà Mau Cụ thể báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau có hẳn chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề về du lịch, với những bài viết giới thiệu những địa danh du lịch, về đời sống người Cà Mau, về những phong tục tập quán, những giá trị văn hóa truyền thống, những giá trị nghiên cứu lịch sử,
Song, phải nhìn nhận, mỗi năm thông tin trên báo chí Cà Mau đăng tải hàng trăm tin, bài, chùm ảnh, video clip, nhiều chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề dài
kỳ, nhưng chỉ chủ yếu xoay quanh: định hướng công tác chỉ đạo điều hành; xúc
Trang 11tiến, quảng bá du lịch; và liên kết vùng Vấn đề truyền thông chính sách phát triển
du lịch còn chưa nhiều, chưa thể giúp ngành du lịch nhìn rõ về tình hình du lịch tỉnh nhà trong thời hội nhập hiện nay
Từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài luận văn là “Truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau” (Khảo sát báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau
năm 2019) nhằm nghiên cứu thực trạng, đánh giá những thành công và hạn chế hoạt
động truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau, cụ thể là khảo sát trên báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau năm 2019; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng truyền thông chính sách du lịch trên báo chí Cà Mau trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu, tìm hiểu về truyền thông chính sách du lịch
và truyền thông về du lịch thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và nhà kinh tế Tuy nhiên, đến nay chưa có luận văn thạc
sĩ nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về vai trò, tác động của truyền thông báo chí đối với chính sách phát triển ngành công nghiệp không khói này, cũng như nghiên cứu sâu về truyền thông chính sách ở từng địa phương, trong đó có Cà Mau
- Một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến truyền thông và truyền thông chính sách, như:
Nguyễn Hương Thảo (2014), Truyền thông trong doanh nghiệp du lịch Việt
Nam hiện nay (Khảo sát hai công ty lữ hành là Công ty DVLH Saigontourist và
Công ty Lữ hành Hanoitourist từ tháng 01/2013 đến tháng 6/2014), luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, do Nguyễn Thị Thanh Huyền hướng dẫn Luận văn đã phân tích hoạt động truyền thông tại các doanh nghiệp lữ hành hiện nay, từ đó, đánh giá hiêụ quả hoạt động của bộ phận truyền thông tại các công ty lữ hành, mối quan
hệ giữa báo chí, truyền thông với doanh nghiệp du lịch lữ hành, từ đó rút kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động của bộ phận truyền thông tại các doanh nghiệp du lịch lữ hành của nước ta hiện nay
Nguyễn Thị Như Quỳnh (2018), Truyền thông chính sách giáo dục trên hệ
thống báo chí của ngành giai đoạn 2016 - 2017, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo
Trang 12chí học, do Đặng Thị Thu Hương hướng dẫn Tác giả đã hệ thống hóa lý luận về truyền thông chính sách giáo dục Phân tích đánh giá ưu, nhược điểm và thực trạng hoạt động của báo chí ngành giáo dục trên hệ thống báo chí ngành giai đoạn 2016 -
2017 Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động truyền thông các chính sách giáo dục trên hệ thống báo chí ngành trong những năm về sau
Đồng Thị Thu, Truyền thông chính sách dân số trên sóng phát thanh các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, do Nguyễn Thị
Thoa hướng dẫn Luận văn nghiên cứu thực trạng, đánh giá những thành công và hạn chế hoạt động truyền thông chính sách dân số trên sóng phát thanh ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ hiện nay (qua nghiên cứu ở 3 tỉnh: Thái Bình, Nam Định, Hà Nam), từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng truyền thông chính sách dân số trên sóng phát thanh ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trong thời gian tới
Nguyễn Thị Thái Hà (2007), Báo chí với vấn đề quảng bá phát triển du lịch
Việt Nam thời kỳ hội nhập, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, do Dương
Xuân Sơn hướng dẫn Luận văn đã đi sâu phân tích những thế mạnh của báo chí trong công tác tuyên truyền, quảng bá phát triển du lịch Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng đã giúp các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch phần nào thấy được sự cần thiết phải đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp liên ngành giữa báo chí và du lịch Trên cơ sở phân tích những hạn chế trong công tác tuyên truyền báo chí về phát triển du lịch
Có thể thấy, hoạt động truyền thông có vị trí rất quan trọng Từ các công trình nghiên cứu trên, tác giả có thể dựa trên nền tảng lý luận, thực hiện các khảo sát, và phân tích cụ thể vấn đề cần nghiên cứu trên báo chí địa phương
- Một số đề tài liên quan đến tuyên truyền, quảng bá du lịch, như:
Đề tài cấp Bộ - Tổng cục du lịch (1997), Cơ sở lý luận, thực tiễn của hoạt
động thông tin tuyên truyền quảng cáo du lịch và một số ấn phẩm thử nghiệm Đề
tài này chỉ mới tập trung nghiên cứu mảng quảng cáo du lịch trên các ấn phẩm : tờ rơi, catalogue, sách hướng dẫn du lịch Đây là một phần rất nhỏ trong công tác quảng bá
Trang 13Đề tài cấp Bộ - Tổng cục du lịch (2002), Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải
pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam trước những thách thức khoa học công nghệ hiện nay Trên cơ sở nghiên
cứu hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, quảng bá
du lịch mà cụ thể là trong xây dựng các website du lịch, nhóm tác giả đã đề xuất những giải pháp tiến tới triển khai ứng dụng công nghệ thông tin một cách đồng bộ
và toàn diện trong mọi hoạt động của ngành
Bên cạnh còn có một số công trình khoa học nghiên cứu về hoạt động truyền thông dưới góc độ tìm hiểu mối quan hệ giữa cơ quan/bộ phận truyền thông với báo
chí như: Nguyễn Thị Thuận (2008), Mối quan hệ giữa PR và báo chí (khảo sát một
số doanh nghiệp và cơ quan báo chí giai đoạn 2006 - 2008) Đỗ Thị Hoa Quỳnh
(2009), Vai trò của báo chí trong việc phát triển thương hiệu Từ những phân tích
cụ thể để các hoạt động quan hệ công chúng với doanh nghiệp cụ thể, các tác giả đã đưa ra được những đánh giá về thành công và hạn chế của các hoạt động này, đề xuất những giải pháp để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn
Đây là những công trình nghiên cứu tham khảo có ý nghĩa đối với đề tài Tuy nhiên, những bài viết, công trình nghiên cứu hầu hết chỉ hướng tới việc khẳng định
vị trí, vai trò của hoạt động truyền thông đối với việc phát triển du lịch nói chung, gắn với vấn đề quảng bá thương hiệu du lịch của quốc gia hay địa phương, chứ không bàn tới vấn đề truyền thông chính sách du lịch như thế nào trên báo chí để có được những kết quả như mong đợi
- Một số đề tài liên quan đến chính sách phát triển du lịch như:
Ngô Phú Mười (2018), Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực
tiễn thành phố Đà Nẵng, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công, do Bùi
Nhật Quang hướng dẫn Luận văn đã làm rõ những lý luận về thực hiện chính sách phát triển, qua đó phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển, trên cơ sở
đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng
Hoàng Văn Thiện (2013), Chính sách phát triển ngành du lịch tỉnh Thái
Nguyên, luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế Luận văn đã đề cập được khái niệm về du
lịch, ngành du lịch; các nhân tố môi trường ảnh hưởng tới chính sách phát triển du
Trang 14lịch Luận văn khái quát được thực trạng chính sách phát triển du lịch tại tỉnh Thái Nguyên và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện
Vũ Đức Minh (2009), Giáo trình Kinh tế du lịch, NXB Thống kê, Hà Nội
Giáo trình này đã đề cập một số vấn đề về sự phát triển ngành du lịch - một ngành kinh tế dịch vụ, thị trường du lịch và các chính sách đối với cán cân thanh toán trong du lịch
Kế thừa nghiên cứu của những đề tài trên, tác giả khái quát được thực trạng chính sách phát triển du lịch tại tỉnh Cà Mau, từ đó mở rộng nghiên cứu về truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí địa phương
- Ở Cà Mau, đã có một số công trình nghiên cứu khác về du lịch Tuy nhiên,
các nghiên cứu liên quan đến truyền thông chính sách phát triển du lịch vẫn đang cần bổ khuyết Có thể kể đến một số chương trình, công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch của tỉnh như:
Phạm Việt Hưng (2008), Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà
Mau, luận văn thạc sĩ Địa lý học Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển du lịch
sinh thái tỉnh Cà Mau, đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Trên cơ sở đó đã xây dựng được một số định hướng phát triển du lịch sinh thái trong tương lai
Nguyễn Thị Khánh Linh (2013), Phát triển du lịch tỉnh Cà Mau theo hướng
bền vững, luận văn thạc sĩ Địa lý học Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về tình hình phát triển du lịch của tỉnh, từ đó định hướng cho ngành du lịch có những bước đi hiệu quả nhất
Dương Kim Chuyển (2014), Nghiên cứu phát triển du lịch biển tỉnh Cà Mau,
luận văn thạc sĩ Du lịch Luận văn đã nhấn mạnh việc phát triển sản phẩm du lịch biển
có tầm quan trọng đối với ngành du lịch Cà Mau, bởi, Cà Mau là một tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch biển cần được chú trọng xây dựng và phát triển chiến lược biển
Trần Xuân Trường (2014), Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
sinh thái tại tỉnh Cà Mau, luận văn thạc sĩ Kinh tế Luận văn đã phân tích mức độ
hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Cà Mau nhằm
Trang 15thu hút và kéo dài thời gian lưu trú của du khách góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch
Đặc biệt tại Hội thảo Khoa học Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch
tỉnh Cà Mau vào đầu tháng 10/2018 đã tiếp cận các đánh giá, những giải pháp để
phát triển du lịch Cà Mau qua tham luận của các diễn giả, để từ đó lãnh đạo tỉnh Cà Mau ban hành những chính sách phù hợp, khả thi nhằm phát triển du lịch Cà Mau trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu đều quan tâm đến vấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng phát triển du lịch Cà Mau
Điều đó cho thấy, vấn đề phát triển du lịch Cà Mau mới chỉ được quan tâm ở một khía cạnh, chủ yếu tập trung tìm giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Trong khi, tỉnh Cà Mau đã và đang tăng cường đầu tư cho du lịch trên nhiều mặt; bên cạnh đó, các chính sách thu hút đầu tư phát triển du lịch của tỉnh không ngừng quan tâm triển khai thực hiện
Một trong những yếu tố quan trọng giúp ngành du lịch mang lại lợi nhuận cao nhất chính là các chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng với nhiều hình thức, nhiều phương tiện, đặc biệt, muốn du lịch phát triển không thể thiếu truyền thông
báo chí Do đó, đề tài luận văn “Truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau” (Khảo sát báo Cà Mau, Đài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau
năm 2019) là cấp thiết và không trùng lặp với các công trình đã công bố trước đó
Để làm nền tảng lý luận vững chãi thông qua việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã nêu trên, tác giả còn nghiên cứu các tài liệu liên quan như: các văn kiện về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về phát triển du lịch và về vai trò của truyền thông báo chí trong phát triển du lịch; những chủ trương, nghị quyết của Cà Mau về du lịch trung và dài hạn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng, đánh giá những thành công và hạn chế hoạt động truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau, cụ thể là khảo
Trang 16sát trên Báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau trong năm 2019; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng truyền thông chính sách du lịch trên báo chí Cà Mau trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Làm rõ những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch; chiến lược phát triển thông tin, báo chí – truyền thông
- Khảo sát các bài báo, chuyên mục, chuyên đề có nội dung liên quan đến vấn đề truyền thông chính sách phát triển du lịch; đánh giá những thành công và hạn chế hoạt động truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau trong năm 2019
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm giúp các cơ quan báo chí làm tốt vai trò đồng hành cùng ngành du lịch, góp phần nâng cao chất lượng truyền thông chính sách du lịch trên báo chí Cà Mau trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau
- Nội dung khảo sát:
+ Các văn bản về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
về phát triển du lịch và vai trò của truyền thông trong việc phát triển du lịch
+ Các lý thuyết liên quan đến việc tổ chức và triển khai hoạt động truyền thông chính sách phát triển du lịch
+ Khảo sát và đánh giá thực trạng truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí Cà Mau
- Phạm vi không gian: 2 cơ quan báo chí: Báo Cà Mau, Đài PT-TH Cà Mau
- Thời gian khảo sát: Năm 2019
Trang 175 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận của truyền thông chính sách phát triển du lịch
và vai trò của báo chí về truyền thông chính sách phát triển du lịch Bên cạnh đó còn sử dụng các kiến thức, các văn kiện về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vai trò của báo chí trong hoạt động truyền thông chính sách phát triển du lịch
Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu gồm: Lý thuyết truyền thông; lý thuyết báo chí học; lý thuyết quảng bá hình ảnh, thương hiệu
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng một số phương pháp thu thập thông tin như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: tập hợp, hệ thống những tài liệu
được xuất bản chính thức, những đề tài đã nghiên cứu có liên quan và báo cáo tổng kết của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng các công ty du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh Cà Mau về các số liệu, thông tin liên quan đến hoạt động du lịch Bên cạnh đó là các văn kiện về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về du lịch và về vai trò của báo chí trong hoạt động truyền thông chính sách phát triển du lịch
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả tham khảo ý kiến và tiến hành phỏng
vấn sâu lãnh đạo các cơ quan báo chí, các doanh nghiệp du lịch về chất lượng thông tin và cụ thể vấn đề truyền thông chính sách phát triển du lịch tỉnh Cà Mau Tùy theo điều kiện khách quan, tác giả có thể phỏng vấn trực tiếp, hoặc qua các ứng dụng công nghệ thông tin
Phỏng vấn sâu các nhà báo chuyên về lĩnh vực du lịch ở các loại hình báo chí khác nhau
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Tiến hành khảo sát và ghi nhận thực
trạng về nội dung và hình thức truyền thông của hai cơ quan báo chí Cà Mau đăng tải trong năm 2019, để đánh giá được những mặt ưu điểm và mặt tồn tại trong quá trình hoạt động chuyên môn, cũng như về vấn đề được nghiên cứu
Trang 18Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích đối chiếu, phân loại để từ đó rút ra các kết luận khoa học, phù hợp và cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khắc phục những hạn chế và thúc đẩy báo chí làm tốt công tác truyền thông chính sách phát triển du lịch, giúp cho Đảng và Nhà nước, mà cụ thể là tỉnh Cà Mau thực hiện được mục tiêu chính sách phát triển du lịch đề ra Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng truyền thông chính sách phát triển du lịch của báo chí Việt Nam nói chung, của báo chí tỉnh Cà Mau nói riêng trong thời gian tới
đề truyền thông chính sách phát triển du lịch, cũng như thúc đẩy du lịch phát triển bền vững
Kết quả đạt được của luận văn còn giúp ích cho việc phát triển nghề nghiệp của những người làm báo quan tâm đến lĩnh vực này
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm có
3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về truyền thông chính sách phát
triển du lịch trên báo chí
Chương 2: Thực trạng truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí
Cà Mau hiện nay
Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị về truyền thông chính sách phát triển
du lịch trên báo chí Cà Mau
Trang 19Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm “chính sách” và khái niệm “chính sách phát triển du lịch”
- Khái niệm “chính sách”
Hiện tại, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách, song các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách tương đối nhất trí về những nội dung cơ bản của khái niệm “chính sách” như sau:
Chính sách là những quy định, quyết định đã được thể chế hoá bởi cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội của con người, giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra, thực hiện những mục tiêu đã được xác định
Chính sách chính là những quy định, quyết định được đưa ra bởi các cơ quan
có thẩm quyền như Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính phủ, các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân, các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ quan khác có thẩm quyền
Có thể coi chính sách của Nhà nước là công cụ của các cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội của con người, của các tập đoàn người, giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra nhằm thực hiện những mục tiêu xác định của Nhà nước [11, tr.136]
- Khái niệm “chính sách phát triển du lịch”
Những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và cơ chế để thúc đẩy
du lịch phát triển với vai trò kinh tế mũi nhọn Ngày 8/12/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 92/NQ-CP về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời kỳ mới Những chủ trương đó đang được thực hiện với những hành động
cụ thể của các cấp, các ngành, thu được những kết quả ban đầu rất khả quan
Chính sách phát triển du lịch là tập hợp các chủ trương và hành động của Nhà nước để đẩy mạnh phát triển du lịch và bằng cách tác động vào việc cung cấp
và giá cả của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng); tác động tới giá sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác động việc thay đổi tổ
Trang 20chức và năng lực của nguồn nhân lực du lịch; tác động vào việc chuyển giao công nghề du lịch… Hai vế quan trọng của chính sách là chủ trương và hành động, chủ trương tốt và hành động quyết liệt sẽ đảm bảo chính sách thành công
Trong bối cảnh hiện nay, rất cần những chính sách phát triển du lịch chủ yếu sau: Chính sách tạo nguồn lực: Về chủ trương, cần huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển để bảo đảm du lịch phát huy vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn Về hành động, ưu tiên, hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch biển đảo, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch MICE; ưu tiên các dự án phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
Chính sách về đất đai và vốn: Chủ trương là khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; tuyên truyền, quảng bá
du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch; nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm
du lịch mới; hiện đại hoá hoạt động du lịch; xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch cao cấp và khu du lịch quốc gia; phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch nhưng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa, nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo Hành động là: giảm tiền thuê đất, ưu tiên cho cơ sở lưu trú và khu du lịch sử dụng nhiều diện tích đất tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường; được cấp và cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi, ân hạn dài; ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo du lịch đạt chuẩn
Chính sách bố trí ngân sách: Chủ trương là ưu tiên cho công tác quy hoạch;
hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực du lịch Về hành động, cần xem xét một cách minh bạch, đơn giản hoá thủ tục quyết định cấp ngân sách và cấp ngân sách đủ, đúng, nhanh theo lộ trình
Trang 21Chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho tiếp cận điểm đến: Chủ trương là tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch Hành động là: tiếp tục xem xét mở rộng diện miễn visa nhập cảnh đơn phương cho công dân một số thị trường du lịch trọng điểm của Việt Nam, áp dụng cấp visa tại cửa khẩu; đơn giản hoá thủ tục visa; thực hiện cấp visa trực tuyến; đẩy mạnh phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; ưu đãi đầu tư xây dựng các điểm dừng chân đạt chuẩn trên các tuyến du lịch quốc gia; xây dựng cảng biển du lịch tại các cảng biển trọng điểm của Việt Nam; tạo điều kiện cho khách quốc tế mang phương tiện giao thông riêng vào Việt Nam du lịch
Chính sách xã hội hoá du lịch: Về chủ trương, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về du lịch Hành động là: đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động du lịch; huy động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia quảng bá cho du lịch Việt Nam, hỗ trợ thành lập và hoạt động của văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại nước sở tại ngoài…
Chính sách về quỹ hỗ trợ phát triển du lịch: Chủ trương là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ các nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Hành động là: Áp dụng thuế suất giá trị gia tăng 0% đối với doanh thu đón khách du lịch quốc tế vào Việt Nam; hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch quốc tế khi mua hàng của Việt Nam mang ra; giảm và cho chậm nộp thuế trong các trường hợp cần thiết; sử dụng lãi suất từ tiền
ký quỹ của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế gửi ngân hàng thương mại để thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; vận động, khai thác và tiếp nhận đóng góp cho quỹ
hỗ trợ phát triển du lịch của mọi tổ chức và cá nhân tình nguyện
Chính sách về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch: Chủ trương là cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi hợp pháp từ hoạt động du lịch Về hành động, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ tài
Trang 22nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương của cộng đồng; giữ gìn an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch; tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư được đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hoá, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống; sử dụng lao động và nguyên liệu địa phương để sản xuất hàng hoá phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương
Chính sách về hiệp hội du lịch: Chủ trương là cho phép và tạo điều kiện cho hiệp hội du lịch được thành lập và hoạt động thuận lợi theo quy định của pháp luật
Về hành động, cần xem xét đơn giản hoá thủ tục thành lập hiệp hội, hội và câu lạc
bộ nghề nghiệp du lịch; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các thành viên; tạo điều kiện thuận lợi cho hiệp hội du lịch tham gia
tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia xây dựng, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về du lịch
Chính sách quy định về trách nhiệm quản lý Nhà nước về du lịch: Chủ trương là: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về du lịch; cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch ở trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về du lịch; chủ trì, phối hợp với các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về du lịch Hành động là: Các Bộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch ở Trung ương trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về du lịch; UBND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và the phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý Nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hoá chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch quốc gia phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Chính sách về bảo vệ môi trường du lịch: Về chủ trương, môi trường du lịch cần được bảo vệ, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh Theo đó, các Bộ, ngành trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát
Trang 23triển môi trường du lịch; UBND các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây
ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình; khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và Du lịch Việt Nam; ưu tiên các dự án du lịch gắn với sử dụng năng lực sạch, áp dụng mô hình 3R góp phần giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu
Như vậy, chính sách phát triển du lịch phải là một hệ thống đồng bộ những chủ trương và hành động thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, phù hợp xu thế phát triển du lịch của thời đại, đáp ứng mong muốn của Nhân dân và đúng định hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước [37]
1.1.2 Khái niệm “truyền thông”, khái niệm “truyền thông chính sách”, khái niệm
“truyền thông chính sách phát triển du lịch” và khái niệm “báo chí địa phương”
- Khái niệm “truyền thông”
Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi con người xã hội
Do đó, hiện tượng này có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau, tuỳ theo góc nhìn đối với truyền thông
Về thực chất, truyền thông là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau
về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó, mỗi người làm giàu thêm thông tin, kiến thức và gia tăng vốn hiểu biết của mình, làm cơ sở hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi/thay đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội
Có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức,
Trang 24tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội Truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển bền vững [27, tr 12-14]
Như vậy, truyền thông chính là những hoạt động truyền đạt hay lan truyền thông tin Truyền thông gồm những yếu tố cơ bản:
+ Nguồn: Chính là nơi bắt đầu hay khởi xướng cho mọi thông tin lan truyền + Nội dung: Thông tin hay thông điệp xây dựng từ chính nội dung đó để có
thể sản xuất ra những tác phẩm có ý nghĩa như những câu chuyện, bài viết, video và hình ảnh…
+ Kênh truyền tải: Thông qua hình thức truyền hình, phát thanh, báo chí, dư
luận để truyền tải thông tin đến công chúng nhờ Internet
+ Người nhận: Chính là đối tượng tìm kiếm thông tin truyền tải thông tin đến + Phản hồi: Chính là những thông tin, ý kiến người tiếp nhận thông tin phản hồi + Nhiễu: Những thông tin sai lệch trong quá trình lan truyền
+ Hiệu lực truyền thông: Là khả năng tạo ra sự chú ý của công chúng - nhóm
đối tượng
+ Hiệu quả truyền thông: Thay đổi được nhận thức, thái độ và hành vi của
công chúng - nhóm đối tượng truyền thông phù hợp với mục đích truyền thông [29,
- Khái niệm “truyền thông chính sách”
Truyền thông chính sách là quy trình chuyển tải thông điệp, cơ chế, chính sách của Chính phủ, cơ quan hành chính các cấp đến người dân để người dân hiểu
rõ, tham gia, hợp tác, đồng thuận trong quá trình thực thi chính sách vì lợi ích của Nhà nước và của chính người dân Đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác truyền thông của các cơ quan quản lý nhà nước và là một bước không thể thiếu
trong tổ chức thực hiện chính sách [16]
Trang 25Ở nước ta, truyền thông chính sách hướng tới mục tiêu giúp người dân có thể thực hiện được vai trò “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Trên thực tế, truyền thông tham gia vào tất cả các khâu trong quy trình chính sách từ lên kế hoạch, hoạch định, xây dựng, thực thi đến phân tích và điều chỉnh chính sách
Truyền thông chính sách là quá trình chủ thể chính sách tiếp cận, gắn kết công chúng thông qua các phương thức, phương tiện truyền thông phù hợp nhằm làm cho công chúng hiểu biết và ủng hộ chính sách, kích thích nhu cầu tìm hiểu, tham gia thảo luận và góp ý chính sách của công chúng Ở một mức độ cao hơn, truyền thông chính sách lý giải, phân tích và thuyết phục để giành được sự ủng hộ rộng rãi, tự nguyện của công chúng Truyền thông chính sách còn được hiểu đó là một hoạt động của chủ thể ban hành chính sách sử dụng các phương tiện truyền thông để truyền đạt thông điệp chính sách tới khách thể chính sách là dân chúng xã hội nói chung hoặc nhân viên của một tổ chức, đơn vị cụ thể
- Khái niệm “truyền thông chính sách phát triển du lịch”
Chính sách phát triển du lịch muốn đi vào cuộc sống và đạt được hiệu quả và hiệu lực xã hội thì khâu truyền thông chính sách cần được chú trọng
Có thể hiểu, truyền thông chính sách phát triển du lịch là truyền đạt, lan truyền, chuyển tải thông tin, để người dân và dư luận xã hội biết và hiểu về chính sách phát triển du lịch Cụ thể là các chủ trương và hành động thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, phù hợp xu thế phát triển du lịch của thời đại, đáp ứng mong muốn của Nhân dân và đúng định hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước Qua đó, người dân hiểu rõ, tham gia, hợp tác, đồng thuận trong quá trình thực thi chính sách vì lợi ích của Nhà nước và của chính người dân Dựa vào truyền thông, Nhà nước có thể tuyên truyền, đưa ra các thăm dò ý kiến của dư luận để cải thiện, điều chỉnh các chính sách phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói riêng và của quốc gia nói chung
- Khái niệm “báo chí địa phương”
Cơ sở lý luận báo chí đã chỉ ra, báo chí là phương tiện thông tin tác động đến đông đảo công chúng một cách thường xuyên, liên tục nhất Hoạt động của báo chí luôn gắn với chính trị, mục đích của báo chí là mục đích chính trị, báo chí lôi kéo,
Trang 26tập hợp, giáo dục và thuyết phục, tổ chức đông đảo Nhân dân tham gia giải quyết các vấn đề về kinh tế - văn hoá - xã hội Báo chí tuyên truyền thông qua sự kiện và vấn đề thời sự, lựa chọn thông tin sự kiện, qua đó tác động đến nhận thức của công chúng theo định hướng tư tưởng đã được hoạch định
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, báo chí là công cụ đắc lực của Đảng với thông tin nhanh chóng nhất, phổ cập nhất, phản ánh một cách chủ động và trung thực mọi mặt của đời sống xã hội; thông tin cập nhật tình hình trong nước và quốc
tế Báo chí là diễn đàn của Nhân dân, thường xuyên tiếp xúc với Nhân dân và góp phần giải đáp những vấn đề mới do cuộc sống đặt ra Báo chí gắn bó mật thiết với Nhân dân, không chỉ thực hành chức năng phản ánh xã hội, cung cấp thông tin, luận
cứ hướng dẫn tư tưởng và hoạt động cho người đọc, người xem, người nghe mà còn phục vụ nhu cầu giải trí, nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân Báo chí thực sự
là vũ khí sắc bén, hiệu quả trong mọi mặt đời sống chính trị - xã hội
Báo chí địa phương là công cụ của cấp uỷ và chính quyền địa phương; là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân địa phương, đặt dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương đó Báo chí địa phương bám sát, phản ánh kịp thời mọi hoạt động kinh tế -
xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, thiết thực phục
vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
1.2 Đặc điểm và vai trò của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí
1.2.1 Đặc điểm của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí
Đặc điểm của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí là thông điệp được truyền tải đến công chúng một cách nhanh chóng Tuy nhiên hoạt động này chịu tác động từ nhiều phía: các nhóm công chúng xã hội, các thiết chế xã hội
mà phương tiện là báo, đài; và các cơ quan quản lý nhà nước
Có thể nhận biết một số đặc điểm cơ bản sau:
- Đối tượng tác động rộng lớn, đông đảo công chúng trong xã hội Trong
thời đại công nghệ truyền thông số và toàn cầu hoá, truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí không chỉ tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội, mọi vùng miền trong cả nước mà còn cả các châu lục khác trên hành tinh Đối với báo
Trang 27in, báo phát thanh, truyền hình, báo điện tử, sự tác động là đồng thời, toả khắp Đặc biệt báo điện tử mở rộng tầm mắt cho công chúng trên phạm vi rộng lớn, lan toả, tác động ra ngoài biên giới quốc gia, lãnh thổ
- Có tính dễ nhớ, dễ hiểu, dễ tiếp cận và dễ làm theo Đối tượng tác động của
báo chí là công chúng xã hội, do đó, truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí phải bảo đảm cho số đông người cùng hiểu và hiểu như nhau, từ đó thống nhất nhận thức nhanh, cùng hành động nhanh Dễ nhớ, dễ hiểu, tức là truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí phải bảo đảm rằng người có trình độ cao tiếp nhận không nhàm chán, người trình độ trung bình không khó hiểu, người có trình độ thấp có thể hiểu một cách dễ dàng
- Có mục đích rõ ràng nhằm mục đích nâng cao nhận thức và thay đổi thái
độ, hành vi
- Có sự tham gia rộng rãi của quần chúng nhân dân (thể hiện tính tương tác
qua lại giữa nhiều người) Cơ sở đánh giá hiệu quả tương tác thông tin báo chí là tạo
ra đồng thuận xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững, tránh nguy cơ bất đồng
- Tính phong phú, đa dạng:
+ Hình ảnh, âm thanh, chữ viết, hoặc nhiều người thể hiện thông điệp
+ Hình thức thể loại linh hoạt, phong phú
+ Đối tượng tiếp nhận đa dạng
+ Đối tượng phản ánh ở nhiều lĩnh vực khác nhau
+ Nội dung thông điệp đáp ứng nhu cầu phát triển của con người và xã hội + Hệ thống tín hiệu, phương tiện, phương thức sản xuất, truyền tải thông điệp đa dạng
Đồng thời, tính phong phú, đa dạng, nhiều chiều đòi hỏi sự phù hợp với công chúng - nhóm đối tượng hết sức đa dạng, phù hợp với tâm lý và tâm trạng xã hội Các kênh chuyển tải truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí phong phú, từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử và sự liên kết giữa các loại hình báo chí với các mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác… Thông tin nhiều chiều, nhiều góc độ tiếp cận của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo
chí giúp công chúng nhận thức sâu sắc hơn bản chất các vấn đề thực tiễn đang đặt ra
Trang 281.2.2 Vai trò của truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí
- Đối với quốc gia
Hiện nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã định hướng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trở thành điểm đến có sự cạnh tranh cao của du lịch thế giới Du lịch không chỉ đơn thuần là ngành kinh tế đem lại lợi nhuận cho mỗi quốc gia, du lịch còn có chức năng làm cầu nối cho các nền văn hoá, tăng cường thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia
Do vậy, truyền thông chính sách phát triển du lịch là cách để Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập giao lưu quốc tế, là con đường để du lịch Việt Nam thực
sự trở thành điểm đến có sự cạnh tranh cao của du lịch thế giới
Vai trò truyền thông chính sách phát triển du lịch nhằm nâng cao nhận thức, làm rõ chủ trương, chính sách cũng như những chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước, để xã hội hiểu đúng, ủng hộ và chia sẻ Từ đó tạo sự đồng thuận của xã hội, các cấp, các ngành, lãnh đạo địa phương trong việc thực hiện mục tiêu phát triển du lịch theo hướng bền vững
Truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển trên mọi lĩnh vực của đất nước, nhất là đối với ngành công nghiệp không khói; đồng thời kích cầu du lịch, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác du lịch Việt Nam đối với các nước trên thế giới; tăng sức hút du lịch Việt Nam Với khả năng tạo dựng diễn đàn để đối thoại và phản biện chính sách, báo chí và truyền thông tạo cầu nối giữa chủ thể và đối tượng chính sách
- Đối với cơ quan ban hành và cơ quan báo chí
Để chính sách phát triển du lịch sát với thực tiễn cuộc sống, được xã hội đón nhận, thể hiện được sự đồng thuận giữa cơ quan ban hành và đối tượng thụ hưởng thì ngoài những yếu tố: năng lực, trình độ nhận thức… của những người trực tiếp soạn thảo chính sách thì việc truyền thông về chính sách có vai trò rất quan trọng
Thực tế, truyền thông tham gia chặt chẽ và mọi khâu liên quan đến chính sách, từ hoạch định, soạn thảo, hoàn thiện đến thực thi, điều chỉnh chính sách Hiệu quả của truyền thông chính sách phát triển du lịch hiện hành không chỉ quyết định
Trang 29sự thành công của từng chính sách riêng lẻ mà còn góp phần bảo đảm năng lực điều hành của Chính phủ cũng như năng lực cầm quyền của Đảng
Nhà nước ban hành cơ chế phối hợp và quy chế phối hợp giữa các cơ quan ban hành chính sách phát triển du lịch với các cơ quan báo chí, trong việc truyền thông chính sách; từ khâu công bố dự thảo, lấy ý kiến nhân dân, thảo luận, tiếp thu
ý kiến, chỉnh sửa và hoàn thiện chính sách, đến công bố rộng rãi cho nhân dân Đảng và Nhà nước quy định những trường hợp bắt buộc các cơ quan làm chính sách phải mời báo chí tham gia vào quy trình chính sách; quy định rõ ràng, cụ thể về vận động chính sách; truyền thông rộng rãi, nâng cao năng lực của báo chí trong phân tích, phản biện chính sách; thiết lập mối quan hệ tốt hơn giữa báo chí với các cơ quan ban hành chính sách
Nhà nước chủ trương tăng cường sự tham gia của các cơ quan báo chí vào quy trình chính sách phát triển du lịch; coi báo chí là kênh khảo sát, thăm dò công chúng chính thức trong việc lấy ý kiến để xây dựng và hoàn thiện chính sách, cũng như phản biện sửa đổi chính sách Tiếp đó, Đảng và Nhà nước đầu tư cho các cơ quan báo chí về đào tạo nhân lực, cung cấp nguồn lực cho hoạt động truyền thông chính sách phát triển du lịch của các cơ quan báo chí
Trong thực thi chính sách và đánh giá chính sách, báo chí có vai trò tuyên truyền, phổ biến chính sách của Chính phủ tới người dân, giám sát việc thực hiện chính sách, phát hiện những vấn đề bất cập của chính sách, phát hiện việc lợi dụng chính sách, đánh giá hiệu quả chính sách thông qua dư luận công chúng xã hội và thông qua chính sự thăm dò, khảo sát, đánh giá của cơ quan báo chí Đồng thời báo chí cũng là kênh thông tin rộng lớn và nhanh nhất, cung cấp thông tin, kinh nghiệm
về xây dựng và thực thi chính sách của các quốc gia, đến với người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước
Mặt khác, các cơ quan báo chí Việt Nam cũng đã thực hiện tốt vai trò và chức năng giám sát, phản biện chính sách, thông qua báo chí
- Đối với công chúng: Trong hoạt động truyền thông của Việt Nam, báo chí
có vai trò rất quan trọng, có chức năng giám sát, phản biện chính sách, thông qua hoạt động báo chí Bản chất hoạt động của báo chí được thể hiện qua các vai trò xã
Trang 30hội của báo chí như cung cấp thông tin, kiến thức, nâng cao trình độ cho công chúng xã hội Báo chí tuyên truyền, giám sát, phản biện xã hội trong quá trình lựa chọn, ban hành và thực thi chính sách Sau khi chính sách đã được quyết định và ban hành, báo chí thực hiện các chiến dịch truyền thông, tham gia giám sát quá trình thực thi chính sách, phân tích đánh giá những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện, giúp Chính phủ điều chỉnh hoặc ban hành các chính sách khác phù hợp với thực tiễn
Kết quả của truyền thông chính sách mà báo chí thực hiện là dư luận từ phía nhân dân, dư luận xã hội Vấn đề quan trọng của báo chí trong truyền thông chính sách là giúp công chúng nhận thức được chính sách liên quan thiết thực đến họ và buộc họ tham gia quá trình giám sát, phản biện, tạo đồng thuận xã hội trong thực thi chính sách Đây là trách nhiệm và sứ mệnh của báo chí Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, trong kỷ nguyên số và cách mạng công nghiệp 4.0, việc tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, do vậy, báo chí cần mạnh mẽ hơn nữa trong việc truyền thông chính sách phát triển du lịch Việc đưa ra những thông điệp đúng đắn sẽ có tác động lớn trong việc thu hút khách du lịch đặt chân đến Việt Nam cũng như nâng cao nhận thức để phục hồi, tái sinh những nét đẹp của Việt Nam và thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản của Việt Nam
1.3 Cơ sở chính trị - pháp lý
1.3.1 Cơ sở chính trị
- Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch
Nhiều năm qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách mang tính đột phá nhằm phát triển ngành du lịch thế mạnh của Việt Nam, trong đó, phải kể đến Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm
2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Tinh thần của Nghị quyết là phấn đấu đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thu hút 17-20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách nội địa, đóng góp trên 10% GDP; tổng doanh thu từ khách du lịch đạt 35 tỷ USD Phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự
là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành, lĩnh vực
Trang 31khác Việt Nam thuộc nhóm các nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á
Song song với chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, những năm qua, Đảng
và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai nhiều giải pháp để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL, cụ thể là:
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2743/QĐ-TTg ngày 29/12/2011; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn này được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 xác định vùng ĐBSCL hay còn gọi là Tây Nam Bộ là một vùng du lịch quan trọng với các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù
Tiếp đến Quyết định số 2227/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/11/2016 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Quyết định nêu rõ, tập trung phát triển 5 khu du lịch quốc gia, gồm: Thới Sơn nằm trong cụm cù lao Long Lân Quy Phụng (Tiền Giang, Bến tre), Phú Quốc (Kiên Giang), Năm Căn – Mũi Cà Mau (Cà Mau), Tràm Chim – Láng Sen (Long An, Đồng Tháp), Núi Sam (An Giang); 7 điểm du lịch quốc gia, gồm: Khu phức hợp giải trí Xứ Sở Hạnh Phúc (Long An), Cù Lao Ông Hổ (An Giang), Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Bạc Liêu), Bến Ninh Kiều (Cần Thơ), Hà Tiên (Kiên Giang), Văn Thánh Miếu (Vĩnh Long), Ao Bà Om (Trà Vinh)
Trước thách thức của hiện tượng biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu Nghị quyết đã đề cập cơ bản các vấn đề mang tính chiến lược căn bản, lâu dài đối với phát triển vùng ĐBSCL, đưa ra các giải pháp tổng thể về quy hoạch, tổ chức không gian, cơ cấu kinh tế liên kết vùng và huy động nguồn lực cho phát triển, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành địa phương Nghị quyết này là cơ sở để triển khai nhiều chương trình, hoạt động của Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển bền vững của vùng
Trang 32Để tạo điều kiện phát triển du lịch trong nền kinh tế phát triển bền vững, Chính phủ đã có Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 06/4/2016 của Thủ tướng về việc ban hành Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội của vùng giai đoạn
2016 – 2020
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội và các ngành kinh tế, thị trường du lịch Việt Nam cũng đang thay đổi do sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng nhanh của du lịch trực tuyến, đặt ra nhiều vấn đề cho quản lý và phát triển
du lịch Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch xây dựng “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030” để phù hợp với tình hình và xu hướng phát triển trong giai đoạn mới Ngày 22/1/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 147/QĐ-TTg ban hành Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam đến năm 2030 với những quan điểm phát triển:
1 Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành và lĩnh vực khác, góp phần quan trọng hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại
2 Phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hoá sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh
3 Chú trọng phát triển du lịch văn hoá, gắn phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hoá dân tộc
4 Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
5 Phát triển đồng thời du lịch quốc tế và du lịch nội địa; đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch; tăng cường liên kết nhằm phát huy lợi thế tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hoá; phát triển đa dạng sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam
Trang 33Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 được phê duyệt là định hướng chính sách quan trọng cho những bước phát triển đột phá hơn nữa của du lịch Việt Nam trong thập kỷ mới [2]
Đối với tỉnh Cà Mau, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh cũng đã quan tâm có nhiều chủ trương, chính sách thuộc thẩm quyền của địa phương để phát triển du lịch tỉnh nhà như đã triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương… Đặc biệt là ngày 20/07/2012, UBND tỉnh đã ra Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã chỉ rõ: “Quan điểm chủ đạo trong phát triển du lịch Cà Mau là phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả cả trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài… Trong đó nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các sản phẩm du lịch để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới…”
Định hướng phát triển du lịch ở Cà Mau là tập trung theo hướng khai thác tiềm năng du lịch sinh thái thành một ngành dịch vụ quan trọng của tỉnh Tỉnh uỷ cũng đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 10/10/2016 về phát triển du lịch tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Kế hoạch số 50-KH/TU thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 14/4/2017 thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh uỷ… Nghị quyết 04 cũng đã xác định quan điểm là “Khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của tỉnh để phát triển du lịch nhanh, bền vững, chuyên nghiệp, văn minh, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với Chiến lược tổng thể phát triển du lịch của Việt Nam và quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh; đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương” Qua đó, cho thấy Cà Mau luôn khẳng định vai trò quan trọng của du lịch đối với sự phát triển của tỉnh [36, tr.139]
Theo Quyết định số 744/QĐ-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch Quốc gia Mũi Cà Mau, tỉnh Cà Mau đến năm 2030 và theo Quyết định 1062/QĐ-UBND ngày 24/7/2012 của UBND tỉnh về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Cà Mau đến
Trang 34năm 2020 và định hướng đến năm 2030 sẽ tập trung triển khai thực hiện các quy hoạch bảo tồn, phát triển Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn Mũi Cà Mau; Khu du lịch sinh thái Vườn Quốc Gia U Minh hạ; phát triển du lịch Cụm đảo Hòn Khoai; Hòn Đá Bạc, Bãi Khai Long; đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cần thiết cho ngành du lịch vận hành và phát triển phù hợp với xu thế chung của khu vực và cả nước; trong đó tập trung bảo vệ và tôn tạo tài nguyên môi trường và những giá trị văn hoá – sinh thái đặc thù của tỉnh [36, tr 3]
Theo Chương trình xúc tiến thương mại, du lịch và đầu tư tỉnh Cà Mau giai đoạn 2017-2020, tỉnh phấn đấu đến năm 2020 sẽ thu hút trên 50 dự án đầu tư trong
và ngoài các khu công nghiệp, khu kinh tế Trong đó, đầu tư FDI khoảng 10 dự án, trọng tâm là vào các dự án như: cảng biển Hòn Khoai, cảng Năm Căn, khu liên hợp công nghệ cao, dự án điện gió, điện mặt trời…[36, tr 9]
Từ các cơ sở và căn cứ nêu trên, có thể nhận thấy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc đề ra các chính sách để quản lý và phát triển du lịch bền vững, giúp cho ngành du lịch Việt Nam, và du lịch của ĐBSCL nói chung cũng như du lịch Cà Mau nói riêng phát triển không ngừng, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Chiến lược phát triển thông tin, báo chí - truyền thông
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn 2030 trên các loại hình thông tin: báo chí, xuất bản, thông tin công cộng trên Internet, thông tin cơ sở (Quyết định số 1497/QĐ-TTg ngày 8/11/2018 về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn 2030)
Đáng lưu ý của Chiến lược chính là mục tiêu đến năm 2025, 100% người dân
ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được tiếp cận báo in hoặc báo điện tử phục
vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu; giảm tỷ lệ mất cân đối trong thụ hưởng các sản phẩm báo chí giữ khu vực thành phố, thị xã và các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, đạt mức 60%/40% Về báo nói, báo hình, mục tiêu đến năm 2025, 70% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được nghe, xem các kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị,
Trang 35thông tin tuyên truyền thiết yếu của quốc gia và địa phương; 100% dân số các vùng còn lại được nghe, xem các chương trình này…
Một trong những giải pháp mà Chiến lược đề ra là đối với các cơ quan báo chí thích ứng với sự phát triển khoa học và công nghệ để có mô hình phù hợp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả công tác thông tin và tiết kiệm nguồn lực; chuyển đổi các đơn vị, bộ phận truyền dẫn phát sóng thành các đơn vị cung cấp dịch
vụ truyền dẫn phát sóng theo mô hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Viễn thông khi đảm bảo các điều kiện cần thiết, đồng thời phù hợp với Quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020…
Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án “Tăng cường hoạt động truyền thông về du lịch” đến năm 2025 (Quyết định số 44/QĐ-TTg ngày 9/01/2019) Mục tiêu của Đề án nhằm đổi mới cách thức, nội dung và tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại trong công tác thông tin, truyền thông về du lịch; tăng cường các hoạt động thông tin, tuyên truyền về vị trí, vai trò động lực của ngành du lịch trong việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, về cơ chế chính sách phát triển du lịch, sản phẩm du lịch đặc thù của các vùng miền địa phương với các hình thức phong phú, đa dạng đến người dân, doanh nghiệp, du khách trong và ngoài nước nhằm góp phần quảng bá và điểm đến “An toàn - Thân thiện - Chất lượng”
1.3.2 Cơ sở pháp lý
- Các quy định trong Hiến pháp năm 2013 về quyền thông tin và tiếp nhận thông tin và các quyền khác liên quan
Ở Việt Nam, “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội
họp, lập hội, biểu tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hoá trong nhiều luật, nghị định như: Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng… Các quy định trên được thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội
Khuôn khổ pháp lý trên đã góp phần thể chế hoá quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do
Trang 36báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí…
Cụ thể, quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn; đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng Trên không gian mạng, Nhà nước cùng đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin Theo đó, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin; phải chịu trách nhiệm về nội dung thông do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội…
Hiến pháp năm 2013 đã hiến định các nguyên tắc thực hiện quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền tiếp cận thông tin (Điều 14, 16, 21, 28 Hiến pháp năm 2013) Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng thời nội luật hoá một số quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bản pháp luật và văn bản dưới luật đã ban hành quy định về quyền được thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra và nắm giữ
Nhằm thúc đẩy và triển khai hiệu quả quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam, trong thời gian qua, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước Quyền phát biểu ý kiến
về tình hình đất nước và thế giới, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích
- Các quy định trong các luật liên quan:
Trang 372 Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch được hưởng mức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cao nhất khi Nhà nước ban hành, áp dụng các chính sách về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư
3 Nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí cho các hoạt động sau đây:
a Điều tra, đánh giá, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch;
b Lập quy hoạch về du lịch;
c Xúc tiến du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia, địa phương;
d Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch
4 Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các hoạt động sau đây:
a Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao;
b Nghiên cứu, định hướng phát triển sản phẩm du lịch;
c Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch;
d Đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mới có tác động tích cực tới môi trường, thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hoá và sản phẩm du lịch đặc thù khác;
e Ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại phục vụ quản lý và phát triển du lịch;
f Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch; sử dụng nhân lực du lịch tại địa phương;
g Đầu tư hình thành khu dịch vụ du lịch phức hợp, có quy mô lớn; hệ thống cửa hàng miễn thuế, trung tâm mua sắm phục vụ khách du lịch
5 Nhà nước có chính sách tạo điều kiện thuận lợi về đi lại, cư trú, thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, hải quan, hoàn thuế giá trị gia tăng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp khách cho khách du lịch
+ Luật Báo chí 2016
Luật Báo chí năm 2016 định nghĩa: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”
Về luật pháp, Điều 16 Luật Báo chí năm 2016 quy định, cơ quan báo chí là
cơ quan ngôn luận của “cơ quan của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
Trang 38hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam” (khoản 1 Điều 14); và khoản 1 Điều 17 về điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí quy định cơ quan báo chí phải: “Xác định loại hình báo chí; tôn chỉ, mục đích phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản; đối tượng phục vụ; chương trình, thời gian, thời lượng, phương thức truyền dẫn, phát sóng (đối với báo nói, báo hình); tên miền, nơi đặt máy chủ và đơn
vị cung cấp dịch vụ kết nối (đối với báo điện tử)” Qua đó, có thể thấy hai vấn đề cơ bản đối với cơ quan báo chí là tư cách ngôn luận của cơ quan chủ quản, sản phẩm thông tin phải luôn phù hợp với tôn chỉ, mục đích, với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản và đối tượng phục vụ
Trên cơ sở quy định Điều 25 Hiến pháp năm 2013, Luật Báo chí năm 2016
đã cụ thể hoá quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Nội hàm của quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân đã được thể hiện trong các Điều 10 và Điều 11 Luật Báo chí năm 2016
Điều 10 giải thích cụ thể công dân có các quyền tự do báo chí sau: Sáng tạo tác phẩm báo chí; Cung cấp thông tin cho báo chí; Phản hồi thông tin trên báo chí; Tiếp cận thông tin báo chí; Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; In, phát hành báo in
Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 cũng quy định cụ thể quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Theo đó, công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác
1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí
1.4.1 Những yêu cầu chung
- Đối với chủ thể thông tin:
Trang 39Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông chính sách và khả năng tiếp
nhận của công chúng” do Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Báo Đại biểu Nhân
dân, Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) đồng tổ chức ngày 8/11/2018, diễn giả Vũ Thanh Vân (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) cho biết: “Truyền thông phải xuất phát từ nhu cầu và trình độ tiếp nhận của công chúng, chứ không phải xuất phát từ trình độ và nhu cầu của những người làm truyền thông Có như vậy, người dân mới tiếp nhận và hấp thụ hết được những thông điệp truyền thông,
từ đó chính sách sẽ đi vào cuộc sống” Đồng quan điểm, diễn giả Se-Hoon Jeong (Hàn Quốc) cho rằng: “Người làm truyền thông phải lấy công chúng làm trung tâm thông qua việc phải lựa chọn chính xác các kênh truyền tải thông điệp truyền thông phù hợp với nhu cầu tiếp nhận và trình độ nhận thức của từng nhóm công chúng Có như vậy chu trình truyền thông chính sách mới phát huy hiệu quả” [43]
Trên Tạp chí Thử nghiệm Ngày nay, số 20, tháng 6/2019, tác giả Hà Huy Phượng nhận định, thực tế, nhiều tổ chức, cá nhân sở hữu trong tay các phương tiện truyền thông, nhất là báo chí, nhưng lại chưa phát huy hết tác dụng của chúng trong truyền thông chính sách Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, dù là báo chí công hay tư thì chính phủ cũng yêu cầu phải dành thời lượng nhất định để truyền thông chính sách, vì đây là lợi ích của quốc gia, báo chí không thể đứng ngoài cuộc
Ngày nay, mạng xã hội bùng nổ, thu hút sự quan tâm, sử dụng của công chúng rất lớn Chủ thể ban hành chính sách cần sử dụng các phương tiện truyền thông mới để truyền thông chính sách phát triển du lịch hiệu quả Đồng thời, sử dụng nhiều loại hình, phương tiện, thể loại khác nhau để hợp thành “binh chủng” mạnh truyền thông chính sách
Các chủ thể truyền thông đại chúng cần có trách nhiệm truyền thông chính sách một cách thường xuyên, liên tục và có đánh giá hiệu quả, hiệu lực rõ ràng, minh bạch [13]
- Đối với thông điệp:
Thứ nhất, thông điệp truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí
phải phù hợp với công chúng/nhóm đối tượng và thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch/kế hoạch truyền thông Đối với nhóm đối tượng hoạch định chính sách, thông
Trang 40điệp cần tạo sự ủng hộ tích cực cho các việc hoạch định chính sách và chủ trương thuận lợi cho các vấn đề truyền thông, thông qua các cam kết chính trị hoặc chương trình hành động
Thứ hai, thông điệp phải phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước
Thứ ba, thông điệp phải phù hợp với các quy tắc và giá trị xã hội, với văn
hoá, lối sống cộng đồng, dân tộc và phát triển bền vững Ngoài ra, thông điệp còn phải phù hợp với tâm lý, tâm trạng xã hội và thể hiện lợi thế của công chúng Thông điệp cũng phải phù hợp với tính chất, đặc thù các kênh truyền thông
Một điểm cần lưu ý trong xây dựng thông điệp truyền thông chính sách phát triển du lịch trên báo chí đó là thời điểm và tần suất xuất hiện thông điệp
- Đối với kênh truyền thông: Lựa chọn kênh phù hợp để truyền thông chính
sách phát triển du lịch hiệu quả; đồng thời, phải thích nghi với môi trường truyền thông hiện đại Có 3 kênh đại chúng phổ biến mà chủ thể truyền thông sử dụng để truyền thông chính sách phát triển du lịch, đó là kênh in ấn, kênh truyền dẫn phát sóng và kênh đăng tải trên internet Mỗi kênh đều có những thế mạnh và hạn chế riêng mà chủ thể truyền thông có thể nắm bắt, sử dụng để biểu đạt thông điệp truyền thông chính sách hiệu quả
- Đối với đối tượng tiếp nhận: lấy công chúng làm trung tâm, không chỉ thể
hiện ở việc công chúng là đối tượng chính sách, mà công chúng còn là người tham gia quá trình thực thi chính sách, phản hồi chính sách, lựa chọn chính sách và đánh giá tác động của chính sách
- Các điều kiện đáp ứng:
Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Công nghệ truyền thông chính sách trong kỷ
nguyên 4.0” do Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đài Tiếng nói Việt Nam và các
Cơ quan quốc tế Hàn Quốc (KOICA) tổ chức, diễn ra ngày 01/11/2019 đã làm rõ tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho truyền thông chính sách trong kỷ nguyên số 4.0 Sự phát triển của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật… đòi hỏi đội ngũ cán bộ truyền thông chính sách phải có năng lực ứng dụng công nghệ Do đó, cán bộ truyền thông chính sách không chỉ cần nắm vững chủ