Báo chí truyền thông là một trong công cụ rất hiệu quả mà nông dân và doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng có thể sử dụng trong chiến lược phát triển thương hiệu sản phẩm n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THẢO NGUYÊN
BÁO IN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM
NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
(Khảo sát Báo Cà Mau, Báo Bạc Liêu, Báo Kiên Giang năm 2017 - 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Cà Mau - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THẢO NGUYÊN
BÁO IN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM
NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
(Khảo sát Báo Cà Mau, Báo Bạc Liêu, Báo Kiên Giang năm 2017 - 2019)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học (Định hướng ứng dụng)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn tận tình,
trách nhiệm của TS Phạm Thị Mỵ Các số liệu để triển khai luận văn này
là hoàn toàn trung thực, là kết quả lao động tích cực, nghiêm túc và sự nỗ
lực, quyết tâm của bản thân Các số liệu được sử dụng trong luận văn chưa
từng được diễn giả nào công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Cà Mau, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Thảo Nguyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy, cô ở Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; TS Phạm Thị Mỵ hướng dẫn khoa học; Ban biên tập và đồng nghiệp các báo Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang,… và các đồng nghiệp đã chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Do trình độ, năng lực của tác giả có hạn, luận văn này chắc chắn còn những thiếu sót, hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn, giúp
đỡ của các thầy cô, đồng nghiệp, thân hữu để chỉnh sửa, bổ sung cho luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Thảo Nguyên
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 16
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn 17
7 Kết cấu luận văn 18
PHẦN NỘI DUNG 19
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG 19
1.1 Khái niệm 19
1.1.1 Khái niệm về Báo chí Đồng bằng sông Cửu Long 19
1.1.2 Thương hiệu sản phẩm nông nghiệp 19
1.1.2.1 Khái niệm về thương hiệu 19
1.1.2.2 Khái niệm về sản phẩm nông nghiệp 21
1.1.3 Vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp 21
1.2 Đặc điểm, đặc trưng của báo in 23
1.2.1 Tính thời sự và tính định kỳ của báo in 23
1.2.2 Sự đồng hiện thông tin và đặc trưng việc tiếp cận thông tin của công chúng báo in 24
1.3 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về vấn đề xây
Trang 6dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp 27
1.3.1 Quan điểm chung của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp 27
1.3.2 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước trong vấn đề xây dựng thương hiệu nông sản 28
1.4 Chức năng và vai trò của báo in đối với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp 31
1.4.1 Chức năng và vai trò của báo in đối với việc tuyên truyền phát triển nông nghiệp địa phương 31
1.4.2 Chức năng và vai trò của báo in với xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương 32
1.5.1 Khái quát về các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long 35
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA BÁO IN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG 38
2.1 Tổng quan về các tờ báo lựa chọn khảo sát 38
2.1.1 Vài nét về lịch sử ra đời và phát triển 38
2.1.1.1 Báo Cà Mau 38
2.1.1.2 Báo Bạc Liêu 38
2.1.1.3 Báo i n iang 39
2.2 Nội dung tuyên truyền vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương trên các tờ báo in khảo sát 42
2.2.1 Tần suất xuất hiện 42
2.2.2 Nội dung tuy n truyền 42
2.2.2.1 Quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương đã được công nhận quyền sở hữu trí tuệ 42
Trang 72.2.2.2 Hướng đi, tầm nhìn về xây dựng và phát triển sản phẩm nông nghiệp
ở địa phương 44 2.2.2.3 Những khó khăn trong quá trình phát huy giá trị thương hiệu nông sản địa phương hiện nay 45
2.3 Hình thức tuyên truyền xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp trên các tờ báo khảo sát 47 2.4 So sánh ba tờ báo trong vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương 52 2.5 Tác động và hiệu quả tuyên truyền của báo Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương 55
2.5.1 Báo chí là chiếc cầu nối giữa sản phẩm nông nghiệp với người tiêu dùng 58 2.5.2 Báo chí tạo dựng hình ảnh thương hiệu sản phẩm nông nghiệp trong lòng công chúng 59 2.5.3 Báo chí tạo niềm tin của công chúng với thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương 60
2.6 Những kết quả đạt được về vấn đề xây dựng thương hiệu nông sản,
cụ thể trên báo in 3 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang 62
2.6.2 Những tồn tại, hạn chế 68 2.6.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương tr n báo in Đồng bằng sông Cửu Long 69
2.7 Những mặt được và chưa được của báo in Đồng bằng sông Cửu Long trong việc giúp nông dân xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp 70
2.7.1 Những mặt được 70 2.7.2 Những mặt chưa được 72
Tiểu kết chương 2 73
Trang 8Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO IN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỚI VẤN XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM NÔNG
NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG 75
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương 75
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của báo chí trong hoạt động tuyên truyền xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp tại địa phương 77
3.2.1 Giải pháp cụ thể 77
3.2.1.1 Tạo mối quan hệ thân thiết, hợp tác giữa người nông dân, doanh nghiệp với cơ quan báo chí 77
3.2.1.2 Báo chí tạo cơ hội cho cá nhân, doanh nghiệp xây dựng thương hiệu nông sản 77
3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nội dung thông tin 78
3.2.2.1 Về lựa chọn đề tài, chủ đề, sự kiện, vấn đề thông tin 78
3.2.2.2 Về lựa chọn sự vật, sự việc, hiện tượng, con người thông tin 79
3.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng hình thức thông tin 79
3.2.3.1 Về sử dụng thể loại tác phẩm 79
3.2.3.2 Về sử dụng ngôn ngữ 80
3.3 Một số khuyến nghị 84
3.3.1 Về cơ chế chính sách 84
3.3.2 Về nguồn nhân lực 85
3.3.3 Đối với các cơ quan báo in Đồng bằng sông Cửu Long 87
Tiểu kết chương 3 89
PHẦN KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tần suất xuất hiện các tác phẩm thuộc vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương trên báo in báo Cà Mau, báo Bạc Liêu, báo Kiên Giang (2017-2019) 42 Bảng 2.2: Ông, bà có theo dõi thông tin về sản phẩm nông nghiệp qua báo chí
không? 55 Bảng 2.3: Ông, bà đánh giá như thế nào về vai trò của thông tin trên báo chí? 55 Bảng 2.4: Để theo dõi thông tin về thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, ông,
bà chủ yếu lựa chọn loại hình báo chí nào? (chọn 1 phương án) 56 Bảng 2.5: Theo ông bà, ưu điểm chủ yếu của thông tin về vấn đề xây dựng thương hiệu nông sản trên báo in so với các loại hình truyền thông khác là gì? 56 Bảng 2.6: Xin ông, bà cho biết hạn chế chủ yếu của thông tin về vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp trên báo in hiện nay? 56 Bảng 2.7: Xin ông, bà cho biết đánh giá của mình về hình thức thể hiện của thông tin vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp trên báo in hiện nay? 57 Bảng 2.8: Ông, bà đánh giá như thế nào về vai trò của báo in đối với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm nông nghiệp hiện nay? 57
Trang 11Hiện nay trong điều kiện toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, song hành với nó là xu thế khu vực hóa trở nên sâu sắc đã mở ra nhiều cơ hội lý tưởng cho hàng nông sản Việt Nam quảng bá, đưa sản phẩm của mình ra thị trường thế giới Điều đó cũng đồng nghĩa với việc hàng nông sản đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt của các thương hiệu nông sản đến từ các nước khác Trên thực tế, hầu hết các mặt hàng nông sản ở Việt Nam đều ở dạng thô hoặc sơ chế, khi xuất khẩu phải thông qua các thương hiệu trung gian nước ngoài Điều đó khiến cho mặt hàng nông sản không phát huy được lợi thế so sánh của nước mình với các nước khác Việt Nam là nước có lợi thế xuất khẩu hàng nông sản thì việc xây dựng và phát triển các thương hiệu nông sản trở nên vô cùng cần thiết, bởi muốn nền nông nghiệp phát triển thì phải có tính cạnh tranh cao, phải có thương hiệu lớn Đứng trước những thuận lợi và thách thức to lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông sản Việt Nam cần tạo lập được thương hiệu vững chắc để nâng cao năng lực cạnh tranh với các nước trên thế giới
Đồng bằng sông Cửu Long (sau đây gọi tắt là ĐBSCL) được coi là vựa lúa, vựa thủy sản, vựa trái cây của cả nước ĐBSCL là vùng kinh tế quan trọng, nơi bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, nhưng vấn đề “nông dân
Trang 12ĐBSCL vẫn còn nghèo” trở thành một nỗi trăn trở, một câu hỏi lớn đối với người nông dân và với các nhà hoạch định chính sách Nông dân ĐBSCL rất giỏi về kỹ thuật, số lượng nông dân tiên tiến ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng tăng, các biện pháp thâm canh đều làm tốt hơn các vùng khác, nhưng vẫn còn lạc hậu so với thế giới về trình độ cơ giới hóa do đất đai manh mún Tuy nhiên, ngoài kinh nghiệm sản xuất, nông dân rất thiếu các kỹ năng khác, chẳng hạn như kỹ năng bán hàng, kỹ năng tiếp thị, quảng cáo… để tạo ra thương hiệu quốc tế Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp hiện nay là sản xuất hàng hóa, không còn cảnh tự cung tự cấp như vài chục năm trước Nhưng chuyện bán cho ai, bán ở đâu, bán vào thời điểm nào, bán như thế nào… hầu như là chuyện rất xa lạ đối với nông dân Hay những chuyện chung sống với lũ, thích ứng với biến đổi khí hậu, sản xuất sạch, xây dựng thương hiệu… đã được nhận diện từ rất lâu trên báo chí ĐBSCL, vừa định hướng cho nông dân vừa để tham mưu cho các cấp chính quyền
Nhiều địa phương đã có những hoạt động hình thành các tổ chức tập thể quản lý, sử dụng nhãn hiệu tập thể đối với các sản phẩm nông sản này, tuy nhiên, chưa có các chiến lược phát triển sản xuất và kinh doanh để duy trì tính
ổn định chất lượng và phát triển thị trường cho các sản phẩm Vì vậy, việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho nông sản Việt Nam, nhằm xác định được “tên tuổi và chỗ đứng” trên thị trường, tăng cường lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy việc phát triển kinh tế bền vững, tăng thu nhập cho người dân là một vấn đề cấp thiết Một trong những xu hướng phát triển thương hiệu cho nông sản hiện nay là phát triển thương hiệu tập thể dựa trên khai thác các đặc điểm của vùng, miền
Xây dựng và bảo vệ thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp trong nước nói chung và nông sản ĐBSCL nói riêng đang là mối quan tâm của rất nhiều địa phương Hiện nay, do chưa thấy được tầm quan trọng và giá trị
Trang 13thương hiệu của sản phẩm nên cả người dân và doanh nghiệp vẫn chưa mặn
mà với việc xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu cho sản phẩm Bên cạnh đó, việc sản xuất nông sản ở các địa phương hiện nay chủ yếu theo hình thức đơn
lẻ, manh mún và tự phát cho nên để người nông dân tự đăng ký, quản lý và khai thác thương hiệu là rất khó khăn
Xu hướng chung của thị trường hiện nay đòi hỏi sản phẩm trong đó có sản phẩm nông sản phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ từ các cơ quan chức năng của Nhà nước Sự chậm trễ này khiến nhiều nông sản nổi tiếng khó cạnh tranh với các loại hàng hóa giá rẻ, dẫn đến sản phẩm không có thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường, ảnh hưởng đến quyền lợi của người nông dân Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do chính quyền cơ sở và người nông dân chưa thấy hết tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu nông sản
Sản xuất nông nghiệp vẫn còn mang tính chất nhỏ lẻ, năng lực hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế, sự liên kết giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng các sản phẩm nông sản phát triển một cách tự phát, không có sự quản lý chặt chẽ của các ban ngành các cấp làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm nông sản Thông qua các hoạt động tư vấn, tuyên truyền, chương trình
hỗ trợ người dân khi họ đã am hiểu về vai trò quan trọng của thương hiệu đối với sản phẩm thì tư duy của họ cũng thay đổi
Để xây dựng hình ảnh một thương hiệu nông sản mạnh, ngoài những yếu tố nội lực, tự thân của người dân, doanh nghiệp - những yếu tố cốt lõi thực sự làm nên giá trị thương hiệu như chất lượng sản phẩm dịch vụ, phong cách, thái độ phục vụ, kỹ năng quản lý, khoa học công nghệ Người dân và doanh nghiệp cần quan tâm đến những công cụ có thể giúp công ty tổ chức hay cá nhân xây dựng một hình ảnh thương hiệu trong tâm trí công chúng
Trang 14Báo chí truyền thông là một trong công cụ rất hiệu quả mà nông dân và doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng có thể sử dụng trong chiến lược phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp của mình Hiện nay, ở nước ta chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hiệu quả của các kênh thông tin tuyên truyền về nông nghiệp nhất là thương hiệu của sản phẩm nông nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của nông dân Từ thực tế
đó, tôi chọn đề tài luận văn là “Báo in Đồng bằng sông Cửu Long với vấn
đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương” (Khảo sát
Báo Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2019) Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng về nhu cầu sử dụng thông tin các sản phẩm nông nghiệp của nông dân và hiệu quả của các chuyên trang, chuyên mục trên báo in các tỉnh ĐBSCL hiện nay Từ đó, tác giả phân tích nguyên nhân và đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến công tác truyền thông trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Trong đó, điển hình một số tài liệu như sau:
Nhóm tài liệu sách
- PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Cơ sở lý luận báo chí [7] Cuốn sách đã
cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, như khái niệm và đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động báo chí…
- Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, Cơ sở lí luận báo chí truyền thông [22] Cuốn sách đã cung cấp những vấn đề về phương pháp
luận, các khái niệm, đặc trưng, chức năng… của báo chí để làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề cụ thể của đề tài luận văn
- PGS.TS Vũ Chí Lộc, ThS Lê Thị Thu Hà, Xây dựng và phát triển
Trang 15thương hiệu [15] Cuốn sách đã cung cấp thông tin về thương hiệu và vai trò
của thương hiệu đối với doanh nghiệp, quy trình xây dựng và phát triển thuơng hiệu, tình hình xây dựng thương hiệu; những khó khăn thuờng gặp và một số giải pháp của doanh nghiệp trong xây dựng và phát triển thương hiệu
- ThS Phạm Hoàng Ngân, Truyền thông nông nghiệp nông thôn nông dân [17] Cuốn sách đã cung cấp những thông tin cơ bản vấn đề trong công
tác truyền thông nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Việt Nam như các loại kênh truyền thông, nhu cầu tiếp cận thông tin truyền thông tin truyền thông nông thôn Cuốn sách còn mang đến cách nhìn mở rộng về công tác truyền thông nông thôn của một số nước trên thế giới, đưa ra cách nhìn toàn cảnh về những dự án đầu tư và sáng kiến phát triển truyền thông nông thôn của Việt Nam trong thời gian tới
- Đặng Kim Sơn, Nông nghiệp nông dân và nông thôn hôm nay và mai sau [21] Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nông nghiệp Việt Nam sau 20 năm
đổi mới cuốn sách đã chỉ ra vấn đề “để nông nghiệp phát triển bền vững với chú trọng phát triển cả nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
- TS Nguyễn Từ, Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững
[27] Trong cuốn sách có nhiều bài viết bàn về vị trí của ngành nông nghiệp trong sự phát triển bền vững chung của đất nước
- PGS TS Nguyễn Sinh Cúc, Nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới [3] Trong cuốn sách luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính
sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Nhóm các công trình nghiên cứu
Nhu cầu tiếp nhận thông tin của nông dân đã được nêu trong Luận văn
Thạc sĩ “Nhu cầu sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của nông dân”
Trang 16của ThS Lê Thị Huê chuyên ngành xã hội học năm 2011, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn cho thấy thực trạng tiếp cận thông tin nông nghiệp, nông thôn của nông dân với đúc kết: nông dân rất quan tâm các thông tin phục vụ sản xuất nông nghiệp, thị trường nông sản và xa lạ với các thông tin chính sách Các kênh tiếp nhận thông tin, thời gian thích hợp theo dõi… của nông dân cũng được nghiên cứu
và đi đến kết luận: nông dân rất mong muốn tìm kiếm thông tin nông nghiệp
Trong quá trình khảo sát, tìm hiểu, chúng tôi cũng đã tiếp cận luận văn
của Thạc sĩ Lê Thái Hà về “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn tr n báo in hiện nay”, chuyên ngành báo chí học, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn cung cấp một số vấn đề
lý luận về nội dung “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X); bổ sung và làm rõ hơn hệ thống lý luận về vai trò, chức năng của báo chí trong điều kiện mới và nhiệm vụ tuyên truyền đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống trên báo in Cách thức tổ chức tác phẩm, biện pháp tuyên truyền trên báo in đạt hiệu quả Luận văn góp phần làm rõ nội dung nhận thức về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam và vị trí của “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước thông qua hoạt động báo chí truyền thông Qua đó khẳng định những đóng góp của báo in trong việc tuyên truyền đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống và trách nhiệm nâng cao chất lượng tuyên truyền về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” trên báo in, chỉ ra những biện pháp khả thi cho quá trình này
Liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Đồng bằng
sông Cửu Long tại Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng tuy n truyền về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tr n báo Đảng ở Đồng bằng sông Cửu Long” do Tạp chí Cộng sản phối hợp với tỉnh Hậu Giang tổ chức vào tháng
Trang 171/2013 Đề tài thuộc chương trình nghiên cứu khoa học các Ban Đảng do GS.TS Trương Giang Long làm chủ nhiệm Với hơn 50 bài tham luận, nội dung các bài tham luận đều nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trên báo Đảng và các phương tiện thông tin đại chúng về những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp, nâng cao đời sống mới Trong đó có các tham luận gần với đề tài
nghiên cứu của tác giả như: “Đẩy mạnh tuy n truyền tr n báo Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long” - GS.TS Trương Giang Long; “Tuy n truyền về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tr n báo Đảng ở nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp” - TS Nguyễn Thành Lợi;
“Báo Cần Thơ: Đẩy mạnh tuy n truyền về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” - Lê Thanh Long
Luận văn Thạc sĩ báo chí học “Báo in địa phương với việc phát triển nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long” của Trần An Phước (Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm 2012), đi sâu khảo sát và đánh giá thực trạng về việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn ở các tòa soạn báo in khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây được xem là bước đột phá mới về lĩnh vực nông nghiệp - nông dân - nông thôn Nghị quyết ra đời gắn liền với sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước vào lĩnh vực này, góp phần đưa đất nước tiến nhanh hơn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Việt Nam
Ở những đề tài này, các tác giả đi sâu nghiên cứu các vấn đề về phát triển nông nghiệp và vai trò của báo chí trong phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về vai trò của báo in đối với vấn
Trang 18đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Điều đó cho thấy vấn đề tuyên truyền về thương hiệu sản phẩm nông nghiệp còn chưa được sự quan
tâm thỏa đáng của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà báo…
Trong tình hình đó, tác giả luận văn mong muốn qua đề tài này sẽ góp phần xây dựng khung lý luận chung vấn đề báo in tham gia thúc đẩy quá trình xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời, luận văn sẽ lý giải một cách toàn diện, khoa học về cách thức tuyên truyền xây dựng thương hiệu nông sản ở báo in địa phương
Có thể nói vấn đề Báo in Đồng bằng sông Cửu Long với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương là một đề tài mới, nếu được thực hiện thành công sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo chí trong việc tham gia thúc đẩy vấn đề xây dựng thương hiệu địa phương
Chính vì thế việc nghiên cứu đề tài “Báo in Đồng bằng sông Cửu Long với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương” thật sự cần
thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, trước hết là đối với các cơ quan báo chí
và lĩnh vực nông nghiệp nói chung và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp nói riêng tại địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc phân tích vai trò của báo chí như là một công cụ trong công tác phát triển thương hiệu sản phẩm của người dân và doanh nghiệp, nêu bật mối quan hệ, vai trò và hiệu quả trong công tác tuyên truyền trên báo in của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong việc xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp ở địa phương hiện nay Từ đó nêu ra những ưu điểm và hạn chế của báo in trong vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp ĐBSCL
Bước đầu đưa ra một số giải pháp về việc sử dụng báo chí như là một công cụ cần thiết và rất hiệu quả trong công tác xây dựng và phát triển thương
Trang 19hiệu sản phẩm; rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông của báo in ĐBSCL Qua đó phục vụ ngày càng thiết thực cho bà con nông dân, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp ĐBSCL
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, Luận văn thực hiện những nhiệm vụ chính sau đây:
- Làm rõ các khái niệm về báo chí, thương hiệu và vai trò của việc xây dựng thương hiệu đối với nông sản
- Phân tích vai trò của báo chí trong hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản để độc giả nhận thức được vai trò to lớn của báo chí đối với xây dựng thương hiệu nông sản
- Khảo sát thực trạng tuyên truyền tại 3 cơ quan báo in của các tỉnh ĐBSCL, bao gồm: Báo Cà Mau, Báo Bạc Liêu và Báo Kiên Giang Từ đó sẽ đánh giá, phân tích để rút ra những bào học kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn, đề xuất các giải pháp cải tiến hình thức, nâng cao chất lượng nội dung tuyên truyền cho việc xây dựng thương hiệu nông sản ĐBSCL
- Đề ra giải pháp truyền thông cho các bài viết, chuyên trang, chuyên mục theo hướng gần gũi, xác thực và dễ hiểu đối với người nông dân Bởi đây
là cơ sở thông tin quan trọng để người dân ĐBSCL có hướng tiếp cận các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với nhu cầu của địa phương
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn khảo sát hoạt động báo in các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang với hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương hiện nay
Trang 204.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi Luận văn này, tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu trên địa bàn các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang thông qua việc khảo sát các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang thông qua việc khảo sát 3 cơ quan báo
in của các tỉnh này Thời gian khảo sát từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng những kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với hệ thống, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp và báo chí Trong đó tập trung làm rõ vai trò của báo chí trong vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp khảo sát: Tiến hành khảo sát và ghi nhận thực trạng về nội dung và hình thức tuyên truyền của 3 cơ quan báo in Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang để đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong quá trình hoạt động chuyên môn Các kết quả khảo sát là cơ sở để tác giả phân tích trong chương
2 của Luận văn
- Phương pháp phân tích nội dung: Sau khi đọc và tìm hiểu tài liệu, tác giả sử dụng phương pháp này để xử lý thông tin tìm được, phân tích nội dung
và hình thức tác phẩm báo in Từ đó làm sáng tỏ vai trò của báo in trong trong vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm ở Đồng bằng sông Cửu Long thông qua các tác phẩm báo chí đã đăng tải ở các báo khảo sát
- Phương pháp so sánh: So sánh 3 tờ báo Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang trong việc tuyên truyền, quảng bá thương hiệu sản phẩm nông nghiệp
Trang 21- Phương pháp điều tra xã hội học (anket): Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp điều tra thu thập ý kiến của công chúng trên địa bàn
3 tỉnh (Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang) về nhu cầu thông tin, cũng như mong muốn của họ trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và thương hiệu nông sản nói riêng thông qua bảng hỏi với số lượng là 200 nông dân, để làm cơ sở đổi mới công tác tuyên truyền nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong sản xuất và đời sống Đây là cơ sở lý luận để tác giả hoàn thiện đánh giá chương 2 và đưa
ra giải pháp, khuyến nghị tại chương 3 của Luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi sẽ thực hiện khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia nông nghiệp, lãnh đạo địa phương, tổng biên tập (hoặc phó tổng biên tập), các phóng viên chuyên trách về đề tài nông nghiệp, nông dân các địa phương khảo sát để tìm hiểu thông tin, thu thập các
số liệu, ghi nhận đánh giá về vai trò, tác động của báo in với vấn đề xây dựng thương hiệu nông sản ở ĐBSCL hiện nay
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng để phân tích, đánh giá
và tổng hợp những kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân cùng những thách thức đối với đội ngũ nhà báo, các cơ quan báo in trong vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Với những kết quả thu thập được về mặt lý luận, nghiên cứu này vận dụng hướng tiếp cận chức năng định hướng thông tin của báo chí trong việc tuyên truyền; một số lý thuyết về kinh tế nông nghiệp và xã hội học để đánh giá hiệu quả thông tin tuyên truyền về thương hiệu sản phẩm nông nghiệp đối với nhóm đối tượng chủ yếu là nông dân ở khu vực nông thôn
Trang 22Luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa thêm kiến thức lý luận chung về báo chí phục vụ sản xuất và đời sống của tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó còn tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản lý của địa phương định hướng công tác tuyên truyền về lĩnh vực này trong thời gian tới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong khuôn khổ Luận văn này, tác giả mong muốn sẽ đưa ra những đánh giá khách quan về công tác tuyên truyền trên lĩnh vực nông nghiệp hiện nay Đồng thời, tác giả cũng sẽ đưa ra một số giải pháp có hiệu quả để đưa thông tin hữu ích đến đông đảo nông dân Từ đó, tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể sử dụng như tài liệu tham khảo có ích, giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các ban ngành của địa phương có cái nhìn tổng quát hơn về vai trò của báo chí đối với việc tuyên truyền xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Qua đó người dân và doanh nghiệp có thể nhận thức và có hướng đi đúng cho việc lựa chọn phương thức để xây dựng và quảng bá thương hiệu một cách hiệu quả
Kết quả đạt được của luận văn sẽ giúp ích cho việc phát triển nghề nghiệp của những người làm báo quan tâm đến lĩnh vực này
7 Kết cấu luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của báo chí đối với vấn
đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương
Chương 2: Thực trạng của báo in Đồng bằng sông Cửu Long đối với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương
Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền của báo in Đồng bằng sông Cửu Long đối với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương
Trang 23PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM
NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm về Báo chí Đồng bằng sông Cửu Long
Báo chí là một bộ phận truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực, hiệu quả và tác động của truyền thông đại chúng Do đó, trong nhiều trường hợp có thể dùng báo chí để truyền thông đại chúng và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng - trước hết phải nói đến báo chí
Báo chí trong trường hợp này được dùng, được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm báo in, phát thanh (báo nói), truyền hình (báo hình), báo mạng điện
tử Báo chí theo nghĩa hẹp bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự Báo chí là hiện tượng xã hội đa nghĩa, phức tạp và có nhiều cách tiếp cận không giống nhau trong các xã hội có thể chế chính trị khác nhau
Báo chí Đồng bằng sông Cửu Long có những đặc điểm chung của báo chí cả nước Báo chí Đồng bằng sông Cửu Long đi vào những vấn đề thiết thực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, những vấn đề kinh tế - xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Những chuyên mục, chuyên trang dành riêng cho người dân Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với tính cách của người dân nơi đây mà báo chí ở những vùng khác không có Báo chí Đồng bằng sông Cửu Long là nơi cung cấp thông tin chính và phản hồi ý kiến về các vấn đề của công chúng vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.2 Thương hiệu sản phẩm nông nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm về thương hiệu
Trang 24Trong thời đại mở cửa kinh tế, cạnh tranh giữa các sản phẩm ngày càng trở nên khốc liệt Cạnh tranh giờ đây không chỉ dừng lại ở chất lượng và giá
cả sản phẩm mà còn là cuộc đua về hình ảnh Nếu công ty nào tạo được một hình ảnh đẹp về sản phẩm của mình trong ý nghĩ khách hàng thì đó là một lợi thế chiến lược Và người ta chú ý đến đến thuật ngữ thương hiệu hơn bao giờ hết, thương hiệu được đề cập qua nhiều khía cạnh như xây dựng, đăng ký, quảng bá, phát triển, tranh chấp… Tuy nhiên hiện nay khái niệm thương hiệu
có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (World Itellectual Property Organization): Thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt (hữu hình hoặc vô hình)
để nhận biết một sản phẩm, một hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, cung cấp bởi một tổ chức hay một cá nhân
Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế ITA (Internation Trademark Association): Thương hiệu bao gồm những từ ngữ tên gọi, biểu tượng hay bất kì sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hóa đó
Có thể hiểu thương hiệu là một ý niệm của người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ của sản phẩm Thương hiệu gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và chỉ được ủy quyền cho nhà đại diện thương mại chính thức Chúng ta cần phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu hàng hóa Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, nhãn hiệu có thể là tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh Như vậy, có thể thấy được một sự tương đối giống nhau trong hai khái niệm trên: Thương hiệu và nhãn
Trang 25hiệu đều là những từ ngữ, dấu hiệu, biểu trưng dùng để xác định, phân biệt các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau Song ở khái niệm thương hiệu ngoài yếu tố thương mại được nhấn mạnh còn nhắc đến sự xác định, phân biệt các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau Song ở khái niệm thương hiệu ngoài yếu tố thương mại được nhấn mạnh còn nhắc đến sự xác định rõ ràng về nguồn gốc của hàng hóa Như vậy
ở đây đã đề cập đến yếu tố luật pháp Khi một nhãn hiệu được bảo hộ và được chấp nhận bảo hộ thì nhãn hiệu đó được chứng nhận độc quyền và thường được coi là thương hiệu Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp nhãn hiệu đã được đăng ký nhưng chưa trở thành thương hiệu vì nó không có một dấu ấn gì trong tâm trí của khách hàng Ngược lại, cũng có những nhãn hiệu chưa tiến hành đăng ký bảo hộ nhưng vẫn nổi tiếng khắp thế giới và được người tiêu dùng ưa chuộng
Như vậy ta có thể định nghĩa thương hiệu: Thương hiệu là tập hợp các dấu hiệu (hữu hình hoặc vô hình) để phân biệt các loại hàng hóa và nó phải để lại một dấu ấn đặc biệt trong tâm trí của khách hàng
1.1.2.2 Khái niệm về sản phẩm nông nghiệp
Sản phẩm nông nghiệp là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm được sản xuất từ những nhóm ngành hàng nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp thông qua quá trình nuôi trồng và phát triển
Sản phẩm nông nghiệp là tập hợp các nhóm hàng như tơ, sợi, dệt, lụa, các loại thiên nhiên, nguyên vật liệu sản phẩm dược liệu, dược phẩm các mặt hàng hợp pháp và bất hợp pháp như ma túy và các mặt hàng đặc thù khác
1.1.3 Vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp
Trước hết, xây dựng thương hiệu phải bắt nguồn từ doanh nghiệp Các chủ doanh nghiệp đều hiểu rằng, thương hiệu là đảm bảo sự “sống còn” của sản phẩm trên thị trường thời hội nhập Thế nhưng, phần lớn doanh nghiệp
Trang 26Việt Nam có quy mô nhỏ, không đủ năng lực tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu và cũng chưa đầu tư đúng mức xây dựng thương hiệu Mặc khác, Việt Nam mới chuyển từ sản phẩm để bảo đảm cho đủ “cái ăn, cái mặc”, sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm, nên chưa thể lập tức có
sự thay đổi xu thế mới
Xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, chỉ dựa vào
sự nỗ lực các bộ, ngành, địa phương là chưa đủ, cần có sự chung tay của các doanh nghiệp Theo các chuyên gia kinh tế, muốn tạo dựng thương hiệu, doanh nghiệp cần chế biến sâu các sản phẩm Bên cạnh đó, cần tổ chức liên kết sản xuất, bám sát các tiêu chuẩn, yêu cầu chất lượng, an toàn thực phẩm của các thị trường xuất khẩu Ngoài ra, cần giúp khách hàng nhận biết phân biệt được sản phẩm Việt Nam so với các nước khác Việc xây dựng một thương hiệu sản phẩm nông nghiệp đi đôi với nâng cao chất lượng, uy tín và
vệ sinh an toàn thực phẩm để đứng vững được trên thị trường trong nước và vượt qua các rào cản kỹ thuật để vươn ra thị trường quốc tế là vô cùng cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay, các loại sản phẩm tràn ngập thị trường khiến người tiêu dùng rất khó nhận biết, phân biệt và đánh giá đúng chất lượng sản phẩm Nhất là khi các mặt hàng nông sản xuất xứ rõ ràng, người tiêu dùng lại càng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của mình và dành sự ưu ái đặc biệt cho những sản phẩm có tên tuổi và thương hiệu Việc lựa chọn những sản phẩm có tên tuổi
và thương hiệu không những tốt cho sức khỏe mà còn giúp họ tiết kiệm được thời gian và công sức trong việc tìm kiếm và lựa chọn sản phẩm mong muốn nhất Vì vậy, vấn đề xây dựng thương hiệu trở thành một trong những yếu tố quan trọng giúp sản phẩm nông sản đứng vững trên thị trường
Cùng với nhiều loại mặt hàng khác, các mặt hàng nông sản có thương
Trang 27hiệu cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng Bên cạnh đó, một thương hiệu nông sản mạnh giúp quảng bá sự giàu có, trình độ phát triển và góp phần tạo dựng nên hình ảnh - niềm tự hào của mỗi quốc gia, dân tộc trên thị trường quốc tế
1.2 Đặc điểm, đặc trƣng của báo in
1.2.1 Tính thời sự và tính định kỳ của báo in
Báo in là ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời
sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội
Định kỳ của báo in có nhiều loại khác nhau như: hàng ngày, thưa kỳ (2,
3, 5 ngày một số), hàng tuần Định kỳ của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định của sản phẩm báo Chu kỳ xuất hiện của báo in có
ý nghĩa quan trọng đối với báo in vì nó quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm báo in Ví dụ, cứ 6 giờ hằng ngày người ta có thể mua các
tờ báo buổi sáng ở bất kỳ quầy bán báo bày tại địa phương Nếu định kỳ của báo in bị phá vỡ có nghĩa là phá vỡ luôn cả thói quen mua (hay nhận) báo in vào giờ đó của người đọc và người đọc sẽ đi tìm phương tiện khác để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình
Tính thời sự của báo in được hiểu là sự phản ánh nhanh chóng những
sự kiện mới xảy ra, vấn đề mới nảy sinh hoặc vừa mới phát hiện trong đời sống xã hội Sản phẩm báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội, từng loại báo, từng tờ báo in đều có đối tượng riêng Ví dụ: báo Nhân dân dành cho cán
bộ, Đảng viên và tất cả những ai quan tâm đến vấn đề chính trị, xã hội trong
và ngoài nước; báo Nhi đồng; báo Phụ nữ Việt Nam; báo Tiền phong; báo Thanh niên; báo Tuổi trẻ lại có đối tượng bạn đọc riêng, xác định hơn, hẹp hơn Nội dung thông tin trong ấn phẩm đó mặc nhiên chỉ quan tâm chủ yếu đến đối tượng của mình Như vậy, mỗi một tờ báo đều có công chúng tiếp nhận khác nhau và công chúng thực hiện phương thức tiếp nhận theo những
Trang 28do tranh ảnh, biểu đồ minh họa gây chú ý cho họ Cũng chính vì vậy mà có thể nói sự đồng điệu thông tin của bài viết trên cùng một trang báo in là một trong những lợi thế nhất định của báo in Công chúng có thể cùng lướt mắt trên toàn bộ bài báo và sau đó có thể tìm những thông tin thú vị hoặc cần thiết cho mình Cũng chính sự đồng hiện các yếu tố thể hiện của một bài báo trên trang báo cũng là ảnh hưởng lớn đến công tác biên tập nội dung, tít, sapo, và phần chính văn của một bài báo in Do phương thức thông tin đặc thù trên báo
in có những đặc điểm ưu việt sau:
Một là, công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác -
giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh nên người đọc hoàn toàn chủ động về tốc độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in cụ thể Buổi sáng người ta có thể mua một tờ báo in của một cơ quan báo chí nào đó, đọc lướt qua các tin tức, bình luận quan trọng rồi chiều tối về nhà mới đọc tiếp những tờ báo dài và đáng quan tâm như phóng sự, phản ánh hay các loại bài ký… Khi đọc các tờ báo in, người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc
Trang 29lại những nội dung phức tạp mà đọc lần đầu chưa rõ Đặc điểm này tạo ra cho báo in khả năng thông tin với những nội dung sâu sắc, phức tạp Nhà báo có thể trình bày, lý giải các nội dung thông tin với những mối quan hệ đan chéo, những biểu hiện trên nhiều bình diện, nhiều tầng nhiều lớp khác nhau Những thông tin có thể được tổ chức theo nhiều cách khác nhau mà người đọc vẫn có thể hiểu, miễn là những thông tin, nội dung bài viết là bổ ích, đáp ứng được nhu cầu của người đọc
Hai là, vì sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá trình
chủ động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não Vì thế, làm tăng khả năng ghi nhớ thông tin, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện
Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói, báo phát thanh đưa tin, truyền hình diễn tả và báo in bình luận Qua đó, có thể thấy rằng các loại hình báo chí có phương thức tác động tới công chúng khác nhau sẽ tạo những hiệu ứng khác nhau Trong đó, báo in có sự tác động riêng biệt với công chúng tiếp nhận, đó là sự đồng hiện thông tin, sự tiếp nhận bằng thị giác, đưa thông tin trong sự bình luận đánh giá có chiều sâu, đã tạo nên sự sâu sắc trong truyền đạt thông tin và tác động mạnh mẽ vào tư duy của công chúng tiếp nhận Như vậy, nếu muốn chứng kiến tận mắt sự kiện, hiện tượng nào đó, người ta xem truyền hình Và muốn đi tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ về nguyên nhân, kết quả, đáng giá về sự kiện, hiện tượng nào đó người ta sẽ tìm đến với báo in Như vậy có thể nói, việc đi sâu bình luận, đánh giá về một sự kiện, hiện tượng nào
đó của báo in là một trong những ưu thế của báo in so với các loại hình truyền thông khác
Ba là, việc lưu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với thói
quen của nhiều người đọc Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối
Trang 30với người đọc Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài (nguyên bản hoặc lưu giữ riêng những tin tức bài vở được quan tâm, dẫn liệu minh chứng trong các công trình nghiên cứu xã hội, lịch sử)
Báo in chỉ xuất hiện trong một thời điểm cụ thể và nhất định với nội dung thông tin đề cập vấn đề, sự kiện trong cả một chu kỳ xuất bản Thông tin
về các vấn đề, sự kiện thời sự diễn ra trong cả một chu kỳ sau đó chỉ có thể được đề cập trong sản phẩm được xuất bản vào thời điểm định kỳ sau Vì thế trong mỗi tờ báo in bao giờ cũng tồn tại một khoảng trống thông tin, hay nói cách khác, độ nhanh và tính thời sự của báo in bị hạn chế hơn so với các loại hình phát thanh truyền hình và đặc biệt là báo mạng Để khắc phục hạn chế này khi mà phát thanh, truyền hình chưa phát triển, người ta đưa ra các tờ báo buổi chiều
Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có những người biết chữ mới có thể đọc báo Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có
ưu thế hơn so với báo in khi mà hầu như các thành viên của xã hội bất kể trình
độ văn hóa như thế nào đều có thể tiếp nhận thông tin do loại hình báo chí này mang lại
Việc phát hành báo in được thực hiện theo phương thức trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo Đối với các nước chậm phát triển, báo in chủ yếu chỉ được phát hành ở các thành phố, thị trấn đông dân cư, thuận lợi về giao thông đi lại Ở các địa phương xa trung tâm, báo in thường đến muộn và tin tức trở thành lạc hậu Vì thế ở khu vực này, ảnh hưởng thông tin từ báo in rất hạn chế Đối với những người đi công tác xa theo những lộ trình đặc biệt, như các đoàn khảo sát địa chất, các đoàn thám hiểm địa lý, phục vụ trên các con tàu trên đại dương… việc phát hành báo in hầu như không thể thực hiện được
Trang 311.3 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp
1.3.1 Quan điểm chung của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp
Với khoảng 70% dân số là nông dân; vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và chính sách lớn về vấn đề này như:
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III: Đảng xác định ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ một cách hợp lý
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV: Ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành cơ cấu kinh tế công nông nghiệp
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V: Tập trung phát triển mạnh
nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI: Bảo đảm cho nông nghiệp, kể
cả lâm nghiệp, ngư nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII: Phát triển nông - lâm - ngư
nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội…, phát triển một số ngành công nghiệp nặng trước
Trang 32hết để phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: Đặc biệt coi trọng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản…
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: Đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn… Tiếp tục phát triển và đưa nông, lâm, ngư nghiệp lên một trình độ mới…
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: Đẩy mạnh hơn nữa công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân… Phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: Phát triển nông - lâm - ngư
nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII: Xây dựng nền nông nghiệp
theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị giá tăng đẩy mạnh xuất khẩu
Như vậy, từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm chú ý tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể phát triển chung của đất nước
1.3.2 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước trong vấn
đề xây dựng thương hiệu nông sản
- Về nhận thức của cơ quan Nhà nước: Hiện nay vấn đề xây dựng và bảo vệ thương hiệu đang được Đảng và Nhà nước ta đặt lên hàng đầu Để quản lý toàn diện, hệ thống các vấn đề liên quan đến thương hiệu của doanh
Trang 33nghiệp, ngày 19/5/2003, Chính phủ quyết định ban hành Nghị định số 54/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học và Công nghệ Từ đây, Cục Sở hữu công nghiệp được đổi tên thành Cục Sở hữu trí tuệ Theo đó, trang web chính thức của Cục Sở hữu trí tuệ được xây dựng, cung cấp các thống kê cơ bản về số lượng hồ sơ đăng
ký sở hữu công nghiệp và các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp Đây
là sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức của Nhà nước đối với vấn đề bảo hộ thương hiệu Tính đến nay trang web của Cục đã trở thành trang thông tin quan trọng, thường xuyên cập nhật đầy đủ các tin tức liên quan đến văn bản pháp luật cũng như vấn đề sở hữu công nghiệp và bản quyền của doanh nghiệp, với lượng người truy cập theo ngày lên tới hàng triệu người
Đối với hệ thống thực thi bảo hộ thương hiệu hàng nông sản đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, bao gồm: Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Quản
lý thị trường, Thanh tra Khoa học Công nghệ; Công an kinh tế, Bộ đội biên phòng và Hải quan Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì hiện nay Việt Nam có 6 cơ quan tham gia xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và được chia làm 3 nhóm biện pháp khác nhau: Biện pháp thứ nhất là nhóm hành chính gồm có: Hải quan, Quản lý thị trường, UBND cấp huyện trở lên và cảnh sát kinh tế Biện pháp thứ 2 là nhóm dân sự gồm có: Tòa án dân sự, Tòa
án nhân dân các cấp Biện pháp thứ 3 là nhóm hình sự gồm có: Cảnh sát kinh
tế Các cơ quan có sự phối hợp tương đối tốt trong vấn đề xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đưa ra nhiều lựa chọn khi áp dụng các biện pháp để chống lại các hành vi vi phạm quyền
sở hữu công nghiệp
- Về hành lang pháp lý xây dựng thương hiệu hàng nông sản Việt Nam: Hiện nay, một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta
là xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, tạo
Trang 34môi trường pháp lý đầy đủ, minh bạch cho hoạt động sở hữu trí tuệ nhằm phát triển kinh tế của đất nước, hội nhập quốc tế
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Cục Sở hữu trí tuệ đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan soạn thảo và trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành 03 bộ Luật, 01 Pháp lệnh, 16 Nghị định hoặc Quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, 19 Thông tư hoặc các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, ngành ban hành [2, tr6] Đặc biệt, trong năm 2005, Cục
Sở hữu trí tuệ chủ trì xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ - một đạo luật chuyên ngành đầu tiên về sở hữu trí tuệ của Việt Nam với phạm
vi điều chỉnh rộng lớn và toàn diện, đã được Quốc hội chính thức thông qua
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 Có thể nói rằng, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam từ khi Luật Sở hữu trí tuệ và một loạt các văn bản dưới luật được ban hành, đã tạo ra một nền tảng pháp lý tương đối hoàn chỉnh, đầy đủ và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động xây dựng thương hiệu hiện nay
Quy định mới về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp: Ngày 26/6/2015, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 11/2015/TT- BKHCN quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ- CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp [2, tr 48]
- Các chương trình hỗ trợ của Nhà nước về xây dựng thương hiệu: Khi Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường, Nhà nước và các cơ quan chức năng
có những nhận thức về vai trò của thương hiệu với không chỉ doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh mà cả tầm quốc gia nên đã có nhiều hỗ trợ như các chương trình, dự án để doanh nghiệp xây dựng thương hiệu mạnh Doanh nghiệp có sản phẩm được mang biểu trưng Thương hiệu Quốc gia được hỗ trợ
tư vấn về đăng ký nhãn hiệu sản phẩm tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ hàng hóa ở trong, ngoài nước; tư vấn về thông tin nghiên cứu thị
Trang 35trường và hoạt động xuất khẩu; được trợ giúp, quảng bá tại thị trường trong, ngoài nước trong khuôn khổ các Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia hàng năm do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đây là động lực cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hàng nông sản phát triển thương hiệu Với sự thành công này sẽ giúp hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới có tên tuổi hơn, có giá trị hơn
Nhà nước phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ tổ chức đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, trong đó chú trọng công tác đào tạo ngắn hạn và dài hạn nhằm tạo nguồn nhân lực có trình
độ cơ bản và chuyên sâu bổ sung cho hệ thống, nâng cao nhận thức, kiến thức
và kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cán bộ nghiên cứu và triển khai thuộc các ngành, địa phương trong cả nước Công tác hỗ trợ và tư vấn về sở hữu công nghiệp đối với doanh nghiệp, nhà nông được quan tâm và bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực Cùng với việc tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp, các hoạt động hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý) được tăng cường Các chương trình này giúp doanh nghiệp có cái nhìn khách quan để đưa ra các ý tưởng cho doanh nghiệp mình, đồng thời khai thác được những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm phong phú của nhà tư vấn, tiếp thu công nghệ thiết kế để tổ chức thực hiện chương trình quảng cáo chuyên nghiệp, làm giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn thâm nhập thị trường
1.4 Chức năng và vai trò của báo in đối với vấn đề xây dựng
thương hiệu sản phẩm nông nghiệp
1.4.1 Chức năng và vai trò của báo in đối với việc tuyên truyền phát triển nông nghiệp địa phương
Trong bối cảnh hội nhập, báo chí cách mạng Việt Nam tiếp tục đóng góp to lớn, thúc đẩy lan tỏa những thành tựu phát triển kinh tế của đất nước
Trang 36nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng
- Hiệu quả tích cực: Phải khẳng định rằng báo chí đã phát huy hiệu quả tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của pháp luật liên quan đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân; tuyên truyền về hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước, phát triển nông nghiệp địa phương Thông qua báo chí để khẳng định giá trị những sản phẩm nông nghiệp cũng như những giải pháp đưa sản phẩm đến được với người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất
- Tạo sự đồng thuận: Tại các địa phương nhờ có sự tuyên truyền tích cực của cơ quan báo chí, những chủ trương, chính sách, định hướng phát triển nền nông nghiệp đã đến kịp với người dân và cộng đồng doanh nghiệp, từ đó
góp phần tạo sự đồng thuận chung trong hành động
- Lắng nghe: Báo chí với hợp chặt chẽ thông tin các hoạt động của
ngành, lắng nghe những phản hồi từ thực tiễn, từ đó phát huy những điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, hạn chế…, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển nền nông nghiệp nói riêng
và kinh tế - xã hội của đất nước nói chung
1.4.2 Chức năng và vai trò của báo in với xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương
Báo in có vai trò quan trọng trong vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Vai trò này được thể hiện qua việc thực hiện các nội dung thông tin tuyên truyền trên các khía cạnh sau:
+ Tuyên truyền làm rõ về chủ trương chính sách xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương
Một trong những nhiệm vụ của báo chí được đưa ra trong nội dung Luật Báo chí của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là báo chí có nhiệm vụ thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước
và thế giới, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của
Trang 37Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật của trong nước và thế giới theo tôn chỉ mục đích của cơ quan báo chí góp phần nâng cao kiến thức đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nông dân bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Báo in là một bộ phận quan trọng trong hệ thống báo chí Việt Nam, đặc biệt đối với đối tượng nông dân, báo in trở thành một loại hình phát huy được nhiều ưu thế Trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và thương hiệu sản phẩm nông nghiệp nói riêng đối tượng được hướng đến chủ yếu là nông dân, do đó việc tuyên truyền làm rõ chủ trương, chính sách về xây dựng và phát triển thương hiệu đối với người dân thông qua các báo in là một nhiệm vụ rất quan trọng và có khả năng mang lại hiệu quả lớn nhất
Với lợi thế có thể lưu trữ, khả năng tiếp cận dễ dàng (chỉ cần người đọc biết chữ) báo in có thể làm rõ, phân tích sâu hoặc trình bày nguyên văn các chủ trương đường lối chính sách phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp tại địa phương Qua đó giúp người dân hiểu được đường lối, chủ trương, quan điểm, chính sách của Chính phủ, Nhà nước, của ngành để từ đó thực hiện theo đúng định hướng phát triển
Thương hiệu sản phẩm nông nghiệp là một khái niệm không mới nhưng đối với người dân đồng bằng sông Cửu Long việc truyền đạt để người dân hiểu và làm theo đã trở thành nhiệm vụ quan trọng đối với báo in Trong thực
tế, báo in, đặc biệt là hệ thống báo Đảng đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua đã thông qua các bài viết đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức thể hiện đã tuyên truyền đến người dân về những chủ trương đường lối chính sách phát triển chiến lược phát triển và qua đó khẳng định vai trò của báo in trong vấn đề xây dựng sản phẩm nông nghiệp địa phương
Trang 38+ Nâng cao nhận thức người dân, ý thức của người dân trong vấn đề xây dựng thương hiệu nông sản
Từ việc hiểu biết và đi đến hành động đúng cần có một nhận thức đúng,
ý thức đúng Nếu báo chí chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền giúp người dân hiểu được nội dung, ý nghĩa của ở việc xây dựng thương hiệu thì chưa đủ Một trong những chức năng quan trọng của báo chí, đó là chức năng tư tưởng Chức năng có tính mục đích đầu tiên trong hoạt động tư tưởng của báo chí chính là nâng cao tính tự giác của quần chúng nhân dân, nhiệm vụ đặt ra cho báo chí là phát triển nhận thức của họ Trình độ nhận thức là tiền đề quy định trình độ tự giác của nhân dân lao động Một khi đã được hình thành trong nhân dân lao động, tính tự giác sẽ trở thành động lực mạnh mẽ cho những hành động sáng tạo của nhân dân trong quá trong lao động sản xuất và xây dựng cuộc sống mới của họ Đối với nông dân lao động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng vậy, để định hướng họ thực hiện việc xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm nông nghiệp cần thúc đẩy nâng cao nhận thức, ý thức của họ trong lĩnh vực này Tuyên truyền để người dân hiểu được sự cần thiết của việc xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, vai trò và ý nghĩa của một nền nông nghiệp phát triển bền vững, sự ảnh hưởng tích cực của việc xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương đối với đời sống người dân cũng như nền kinh tế đất nước trong hiện tại và tương lai
+ Báo chí đưa tin đã giúp tên tuổi, thương hiệu, sản phẩm nông nghiệp được nhiều người tiêu dùng, đối tác biết đến
Hiện nay, các mặt hàng nông sản tràn ngập thị trường khiến người tiêu dùng rất khó nhận biết, phân biệt và đánh giá đúng chất lượng sản phẩm Khi những mặt hàng nông sản có xuất xứ rõ ràng, uy tín, chất lượng được báo in thông tin đến độc giả sẽ được họ ưu ái, tin tưởng hơn trong việc lựa chọn sản phẩm
Trang 391.5 Đặc điểm công chúng địa phương Đồng bằng sông Cửu Long
1.5.1 Khái quát về các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
1.5.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là một đồng bằng rộng lớn đa dạng về sinh thái và có vùng phù sa phì nhiêu, có núi, có rừng, có sông rạch chằng chịt Ranh giới của vùng đồng bằng được phân định bởi: phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Campuchia, phía Đông giáp Vàm Cỏ, thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp biển Đông, phía Tây giáp vịnh Thái Lan Đây là phần cuối cùng của khu vực sông Mê Kông và vùng cực Nam của nước Việt Nam
Đồng bằng sông Cửu Long gồm Thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long
An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre
1.5.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố ở vùng ĐBSCL
- Dân số và lao động: Theo số liệu của Tổng cục thống kê, dân số ở đồng bằng sông Cửu Long vào thời điểm Tổng điều ta (01/4/2019) khoảng 17,2 triệu người chiếm gần 18% dân số cả nước Trong đó có 82% dân số ở nông thôn, 18% dân số ở thành thị Dân số trong độ tuổi lao động trung bình của một hộ dân ở ĐBSCL cao hơn mức trung bình chung của cả nước là 0,5 nhân khẩu/hộ
- Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế ở các tỉnh, thành phố ĐBSCL theo
hướng nông nghiệp - nông thôn và dịch vụ, có sự thay đổi theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp Thời gian qua cơ cấu kinh tế trong toàn vùng tuy có chuyển biến nhưng vẫn phản ánh hiện trạng kinh tế với nông nghiệp là cơ bản, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ, xu hướng tăng chậm
Trang 40- Đặc điểm văn hóa - xã hội: Các tỉnh, thành phố ở ĐBSCL là nơi quần
cư của nhiều dân tộc trong đó có 4 dân tộc chính là: Kinh, Hoa, Khmer và Chăm Nên văn hóa nơi đây vừa mang bản sắc văn hóa Việt Nam vừa đa dạng phong phú trong sự giao lưu với nhiều niềm văn hóa từ các nước ngoài tác
động vào vùng đất và con người vùng này
Nơi đây có 6 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo hòa hảo, Cao đài, Hồi giáo Trong lịch sử, các tín đồ tôn giáo nơi đã từng tham gia đóng góp và đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc
Môi trường tự nhiên hệ sinh thái của Đồng bằng sông Cửu Long mang những nét đặc trưng riêng, cư dân nơi đây đã thích ứng với tác động để tạo dựng cho mình có một môi trường sống thích nghi hơn
Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, luận văn đã trình bày một số khái niệm cơ bản về báo in; thương hiệu sản phẩm nông nghiệp; quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp và vai trò của báo chí với vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp và những đặc điểm về công chúng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Có thể nói Việt Nam là quốc gia có tiềm năng về xuất khẩu nông sản và thương hiệu nông sản là tài sản vô cùng quý giá, góp phần đưa sản phẩm nông sản đến gần hơn với người tiêu dùng Thương hiệu là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên khả năng nhận biết, gợi nhớ, phân biệt và định hướng cho khách hàng sử dụng sản phẩm uy tín, chất lượng Và việc tuyên truyền thương hiệu nông sản đến với đông đảo quần chúng hiểu rõ vấn đề xây dựng thương hiệu nông sản ngày càng trở nên cần thiết, đòi hỏi sự tham gia của cơ quan báo chí, đặc biệt là báo in Theo đó báo in đã tham gia thúc đẩy quá trình xây dựng thương hiệu, nâng cao nhận thức của người dân, đưa sản phẩm nông