1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài biện pháp giúp học sinh học tốt kiểu bài ôn tập ở Địa lí 9

14 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 5,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Địa lí không đều. Nhận thức của giáo viên nói chung và giáo viên Địa lí nói riêng về môn Địa lí còn chưa đúng. Một số học sinh chưa chú trọng khi học bộ môn, cho rằng môn Địa lí là môn học phụ chỉ cần học thuộc là được. Một số phụ huynh chưa thực sự chú ý, thậm chí có phụ huynh không quan tâm khi học sinh nói đến môn học này. Tài liệu phục vụ cho giảng dạy còn quá ít, đặc biệt là tài liệu phục vụ cho giảng dạy bài thực hành và bài ôn tập.

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN

Kính gửi:Hội đồng Sáng kiến cấp cơ sở huyện

Tên đề tài sáng kiến: Một vài biện pháp giúp học sinh học tốt kiểu bài ôn tập

ở Địa lí 9.

1- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục

2- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 12 năm 2017.

3- Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:

Trong thực tế ở các trường hiện nay, việc dạy bài ôn tập chưa được quan tâm đúng mức Dạy ôn tập chủ yếu là giáo viên ra câu hỏi cho học sinh trả lời hoặc cho học sinh tự ôn tập ở nhà Những bài ôn tập thường tổ chức một cách qua quýt chưa chú ý đến nội dung và cách rèn luyện kĩ năng cho học sinh Trong chương trình Địa lí lớp 9, các em được học về Địa lí dân cư, Địa lí kinh tế và Địa

lí các vùng kinh tế chủ yếu học sinh học tại lớp, tự ôn tập và tự liên hệ thực tế

Do đó, việc phát huy khả năng tổng hợp, hệ thống hóa các kiến thức đã học của học sinh chưa đạt hiệu quả cao Chính điều này làm cho việc kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh chưa toàn diện, khách quan, chính xác

Bản thân tôi trong quá trình giảng dạy đã nhận thấy một số nhược điểm của tiết ôn tập Địa lí như sau:

* Về giáo viên:

Bên cạnh những ưu điểm mà người giáo viên đạt được trong quá trình giảng dạy, môn Địa lí vẫn còn tồn tại một số nhược điểm cần khắc phục như sau:

- Bản thân giáo viên đôi lúc còn dạy chay, chưa đổi mới phương pháp trong giảng dạy đặc biệt là tiết ôn tập, vì vậy học sinh chóng chán, mệt mỏi, hiệu quả dạy và học thấp

- Các tiết thực hành ôn tập chưa hướng dẫn kĩ cho học sinh về khâu chuẩn

bị bài ở nhà

* Về học sinh:

- Một số học sinh chưa có sự ham mê trong tiết ôn tập, tư tưởng coi thường tiết ôn tập nên ít tập trung, lơ là trong các hoạt động

- Một số khác lười làm bài tập, kĩ năng đọc bản đồ, lược đồ, phân tích bảng biểu đặc biệt kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ còn yếu

- Một số khác, khi hoạt động nhóm và khi xây dựng bài không chịu khó suy nghĩ, thiếu chủ động, còn phụ thuộc vào sách giáo khoa, phụ thuộc, ỉ lại vào

Trang 2

* Nguyên nhân của thực trạng trên:

- Chất lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Địa lí không đều

- Nhận thức của giáo viên nói chung và giáo viên Địa lí nói riêng về môn Địa lí còn chưa đúng

- Một số học sinh chưa chú trọng khi học bộ môn, cho rằng môn Địa lí là môn học phụ chỉ cần học thuộc là được

- Một số phụ huynh chưa thực sự chú ý, thậm chí có phụ huynh không quan tâm khi học sinh nói đến môn học này

- Tài liệu phục vụ cho giảng dạy còn quá ít, đặc biệt là tài liệu phục vụ cho giảng dạy bài thực hành và bài ôn tập

Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, tôi thiết nghĩ làm sao để nâng cao hiệu quả của từng tiết dạy, để bài ôn tập nào cũng sinh động, hấp dẫn và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh? Làm thế nào để bài ôn tập vừa củng cố kiến thức vừa rèn luyện kĩ năng cho học sinh giúp các em tự chủ trong việc lĩnh hội kiến thức? Đó là những suy nghĩ và trăn trở không những của bản thân tôi mà là của rất nhiều giáo viên dạy môn Địa lí hiện nay

3.2 Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết:

Hiện nay, khi dạy các bài ôn tập Địa lí, giáo viên thường rất khó khăn khi soạn giáo án, soạn như thế nào để vừa đảm bảo được mục tiêu đề ra lại vừa đảm bảo được về mặt thời gian của một tiết học, nếu không có sự đầu tư chuẩn bị từ trước thì hầu như tiết ôn tập được xem như quá trình dò lại bài cũ, hay liệt kê lại kiến thức mà chưa làm rõ, chưa khái quát Đặc biệt, các tiết ôn tập theo Kế hoạch giảng dạy thì sách giáo khoa và sách giáo viên không đề cập đến tiết này nên việc lựa chọn nội dung ôn tập càng khó khăn hơn cho giáo viên Một vấn đề nữa đó là đối tượng học sinh của chúng ta thường rất đa dạng, ít đồng đều về mặt nắm bắt kiến thức, đây là một vấn đề tác động không nhỏ trong quá trình dạy tiết

ôn tập

Thông qua các đợt tập huấn chuyên đề về công tác đổi mới phương pháp dạy học, theo định hướng này thì người giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động học tập và giữ vai trò chủ đạo Còn học sinh là chủ thể nhận thức, biết cách tự học, tự rèn luyện Sự chủ động trong học tập thể hiện ở chỗ học sinh tự giác, sẵn sàng tham gia vào hoạt động học tập dưới sự điều khiển của giáo viên, học sinh hứng thú, hào hứng trong quá trình học tập, chủ động trao đổi với nhau và với giáo viên nhiều hơn, không tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà luôn lật đi lật lại vấn đề…

Từ những vấn đề trên, khi dạy bài ôn tập Địa lí 9, từ kinh nghiệm của bản thân tôi vận dụng theo một quy trình như sau:

3.2.1/ Quy trình thực hiện khi dạy bài ôn tập Địa lí:

Trang 3

3.2.1.1 Giai đoạn 1:Chuẩn bị.

Ở tiết học trước đó, giáo viên đề nghị học sinh ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học bằng cách lập bảng hệ thống, sơ đồ hoặc sơ đồ tư duy tùy theo mỗi

em Giáo viên phải lựa chọn một số câu hỏi, bài tập phù hợp và làm thành đề cương ôn tập cụ thể để học sinh có cơ sở ôn tập trước Khi soạn các nội dung cho tiết học này nên phân bố theo từng cấp độ nhận thức và phải phù hợp với trình độ của học sinh trong mỗi lớp

Khi học sinh đã có được hệ thống câu hỏi ôn tập trước thì giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chuẩn bị trước, ghi chép ra những điều chưa hiểu, những câu chưa làm được … để đến lớp trao đổi thêm với bạn bè hoặc hỏi thêm giáo viên

Tùy theo nội dung bài học cần phải có hoạt động nhóm, giáo viên nên phân công các nhóm học tập và giao việc cho các nhóm từ trước để không mất thời gian ở tiết học phải thực hiện khâu này

Để có nội dung phù hợp và mang tính hệ thống đúng đặc trưng của kiểu bài ôn tập, tổng kết giáo viên phải có sự lựa chọn trước các câu hỏi hoặc bài tập khác nhau để yêu cầu học sinh phải thực hiện trong tiết học đó mà không nhất thiết phải làm hết tất cả nội dung các câu hỏi và bài tập của các bài như trong sách giáo khoa trình bày

Chú ý : Đối với phần ôn tập về kiến thức thì hệ thống câu hỏi ôn tập phải

được chọn lọc Và giáo viên có thể thiết kế các câu hỏi qua các hình thức trò chơi

để gây hứng thú cũng như huy động được tất cả các đối tượng của lớp học cùng tham gia Đối với phần kĩ năng, giáo viên nên giao nhiệm vụ cho các nhóm vẽ và trình bày về một dạng biểu đồ cụ thể nào đó

Yêu cầu trên là rất quan trọng để tiết học thành công, nếu giáo viên và học sinh có sự chuẩn bị tốt phần này thì nội dung tiết học sẽ đảm bảo được về mặt thời gian và tiết học sẽ phong phú, sôi nổi hơn.

3.2.1.2 Giai đoạn 2: Tổ chức dạy học

Theo kế hoạch bài dạy của bản thân xây dựng thì tiết ôn tập môn Địa lí 9cũng được thực hiện theo đúng tiến trình chuỗi các hoạt động học (Hoạt động khởi động-kết nối vào bài, hoạt động ôn tập kiến thức-kĩ năng, hoạt động củng cố-luyện tập và hoạt động tìm tòi-mở rộng) Tuy nhiên, ở sáng kiến này tôi muốn

đề cập đến hoạt động tổ chức ôn tập kiến thức-kĩ năng đã học Cụ thể với 2 phần

cơ bản như sau:

Phần 1: Ôn tập, hệ thống kiến thức cơ bản

Phần 2: Rèn luyện, củng cố kĩ năng

Phần 1: Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cơ bản đã học

Từ những kinh nghiệm của bản thân, qua trao đổi với đồng nghiệp, tôi thực hiện hoạt động ôn tập kiến thức theo các bước như sau:

Trang 4

1/ Xác định mục tiêu về kiến thức theo chuẩn kiến thức kĩ năng và nội dung giảm tải

2/ Tổ chức cho HS hoạt động nhóm hoàn thành các phiếu học tập

3/ Tổ chức cho học sinh hệ thống hóa kiến thức đã học (HS đã chuẩn bị ở nhà)

4/ Tăng cường ghi nhớ kiến thức cho HS thông qua phương pháp tổ chức trò chơi

5/ Tổng kết: GV hệ thống những kiến thức quan trọng cần khắc sâu cho

HS (có thể hệ thống bằng sơ đồ tư duy nếu như nội dung kiến thức quá nhiều cần rút bớt cho HS)

Phần 2: Rèn luyện, củng cố kĩ năng

1/ GV giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm (mỗi nhóm trình bày cách nhận biết, nêu cách vẽ và phân tích một biểu đồ)

2/ Đại điện các nhóm báo cáo kết quả

3/ Tổng kết cách nhận biết, vẽ và phân tích biểu đồ

3.2.1.3.Ưu điểm và hạn chế khi áp dụng phương pháp trên:

* Ưu điểm:

- Rèn luyện ở học sinh ý thức về sự cần thiết phải có sự chuẩn bị những kiến thức cơ bản để cùng tham gia trao đổi, thảo luận trên lớp hay trong những hoạt động học tập ngoài tiết học

- Từng học sinh của lớp đều phải thực hiện các hoạt động giải bài tập, nghĩa là phải vận dụng kiến thức và kỹ năng để giải quyết các tình huống cụ thể khác nhau Do đó giúp các em hiểu rõ hơn cũng như củng cố và khắc sâu các kiến thức và kỹ năng này

- Phân loại được học sinh trong lớp về trình độ vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học Nhờ đó giáo viên có thể ghi nhận học sinh nào còn yếu, học sinh nào khá, giỏi để có kế hoạch giúp đỡ phù hợp và có hiệu quả trong từng tiết dạy, tiết ôn tập và trong toàn bộ quá trình dạy học sau đó

- Tạo ra cơ hội để học sinh trao đổi, thảo luận nhóm (Đặt câu hỏi và nhận xét với nhau) Qua đó phát triển ở học sinh tinh thần hợp tác, phê phán và sáng

tạo trong học tập

* Hạn chế:

Để tổ chức tốt một tiết ôn tập có hiệu quả thì trước hết giáo viên phải có

kế hoạch chuẩn bị tương đối công phu, sao cho các câu hỏi, bài tập được lựa chọn để yêu cầu học sinh thực hiện trên lớp phải có tác dụng phát triển ở học sinh khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng để giải quyết các tình huống cụ thể

ở mỗi bài tập, nghĩa là để giải được bài tập này học sinh phải tích cực và sáng tạo Nói cách khác là trong những câu hỏi, bài tập để ôn tập thì nội dung của nó phải là những kiến thức cơ bản của các bài đã được học và phù hợp với mọi trình

Trang 5

độ học sinh của lớp Điều này cũng đòi hỏi giáo viên phải nắm vững trình độ học sinh ở mỗi lớp để từ đó đề ra những phương án hợp lý trong việc lựa chọn những kiến thức để đưa vào tiết học

Giáo viên một mặt cần chọn các câu hỏi, bài tập để tạo ra cơ hội cho học sinh trao đổi, thảo luận nhóm, tạo ra các tương tác giữa học sinh với học sinh và giữa giáo viên với học sinh, nhưng mặt khác làm việc theo nhóm lại đòi hỏi có nhiều thời gian nên sẽ rất hạn chế trong khoảng thời gian 45 phút của một tiết học Mâu thuẫn này đòi hỏi giáo viên có sự cân đối thời gian sao cho hợp lý các hoạt động học tập của học sinh, trong đó tùy theo từng đối tượng học sinh của mỗi lớp mà ưu tiên loại hoạt động nào

3.2.2/ VÍ DỤ MINH HỌA KẾ HOẠCH BÀI HỌC PHẦN 1 VÀ PHẦN

2 TIẾT ÔN TẬP HỌC KÌ I - ĐỊA LÍ 9 (Trích kế hoạch bài học)

I CHUẨN BỊ:

1/ Giáo viên:

- Phân công nhóm học tập và nhiệm vụ cho các nhóm từ tiết học trước đó

- Chuẩn bị các phương án trợ giúp khi học sinh trả lời các câu hỏi ôn tập

- Chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm khách quan thiết kế dưới hình thức trò chơi: Rung chuông vàng và Đoán hình qua các mảnh ghép và một số câu hỏi vận dụng thể hiện trong trò chơi Ai nhanh hơn,

- Thiết kế giáo án trên Power Point

- Chuẩn bị các câu hỏi định hướng ôn tập cho HS (giao từ tiết học trước đó)

- Các tranh ảnh, lược đồ có liên quan

2/ Học sinh:

- Trao đổi theo nhóm đã được phân công làm trước ở nhà các câu hỏi được giao

- Hệ thống hóa các kiến thức đã học bằng sơ đồ, bằng lập bảng hoặc sơ đồ

tư duy (tùy theo mỗi học sinh) từ bài 17 đến bài 30

- Chuẩn bị bảng nhóm, bút lông

II TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

A HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG (Tình huống xuất phát) (3 phút)

1 Mục tiêu: Giới thiệu nội dung tiết học, tạo hứng thú cho HS.

2 Phương pháp - kĩ thuật dạy học:Nêu vấn đề.

3 Phương tiện dạy học:Lược đồ các vùng kinh tế.

4 Hình thức tổ chức:cả lớp

GV sử dụng lược đồ để nêu nhiệm vụ của tiết học: Từ bài 17 đến 30, chúng ta đã nghiên cứu xong 5 trong 7 vùng kinh tế của cả nước Bài ôn tập hôm nay sẽ giúp các em hệ thống lại kiến thức về đặc điểm tự nhiên và xã hội,

Trang 6

các thế mạnh và khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội của các vùng kinh

tế đó.

B.TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHẦN 1 VÀ PHẦN 2 CỦA TIẾT ÔN TẬP.

* TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN PHẦN 1: Ôn tập, hệ thống kiến thức đã học

Hoạt động 1: GV thu biên bản kiểm tra của các tổ về việc chuẩn bị đề

cương ôn tập của các thành viên tổ mình Trong biên bản này phải ghi rõ em nào làm đủ, em nào còn thiếu và thiếu câu nào GV kiểm tra xác suất theo biên bản

để có đánh giá ban đầu về việc chuẩn bị học tập của học sinh

Hoạt động 2: Ôn lại vị trí địa lí và các trung tâm kinh tế của các vùng

GV gọi HS lên xác định trên bản đồ treo tường (H6.2 SGK trang 21) vị trí giới hạn 5 vùng kinh tế đã học và nêu rõ vị trí ấy có ý nghĩa như thế nào?

- Đại diện học sinh lên xác định trên bản đồ các trung tâm kinh tế quan trọng của các vùng

Hoạt động 3: Nhóm

Bước 1: GV chia lớp thành 4 nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm Nhóm 1: Phiếu học tập số 1

1/ So sánh thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của TD&MNBB với Tây Nguyên Giải thích sự khác nhau

2/ Xác định trên bản đồ các trung tâm công nghiệp của 2 vùng Chức năng của từng trung tâm

3/ Vai trò của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với TD&MNBB và ĐBSH

Nhóm 2: Phiếu học tập số 2

1/ Ngành sản xuất lương thực ở vùng ĐBSH có vai trò quan trọng như thế nào? Những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong sản xuất lương thực ở ĐBSH

2/ Tại sao vùng ĐBSH đưa vụ đông thành vụ sản xuất chính trong nông nghiệp?

3/ Xác định trên bản đồ các trung tâm công nghiệp của vùng, chức năng chuyên ngành của từng trung tâm

Nhóm 3: Phiếu học tập số 3

1/ Tại sao vùng BTB và DHNTB trồng cây lương thực bị hạn chế, trong khi cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc lớn lại phát triển?

2/ Tại sao ngành khai thác, nuôi trồng thủy sản là thế mạnh của BTB và DHNTB?

3/ Xác định các TTCN của 2 vùng và nói rõ tại sao công nghiệp còn hạn chế?

Nhóm 4: Phiếu học tập số 4

- Hoàn thành sơ đồ hệ thống hóa kiến thức từ bài 17 đến bài 30 (các vùng kinh tế)

Bước 2: Các nhóm làm việc theo yêu cầu của phiếu học tập

Trang 7

Bước 3: Đại diện các nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác nhận xét, bổ

sung

Bước 4: GV kết luận chuẩn kiến thức

4 Đánh giá:

- GV cùng HS đánh giá kết quả làm việc của các nhóm

- GV hệ thống kiến thức (trình bày ở bảng phụ hoặc trình chiếu trên máy tính) để HS theo dõi về nhà bổ sung

- Tổ chức trò chơi: Mục đích giúp các em ghi nhớ kiến thức trắc nghiệm khách quan Thông qua hoạt động này, GV có thể đánh giá cho điểm học sinh đồng thời tạo không khí sôi nổi trong tiết dạy, huy động được các đối tượng HS cùng tham gia vào cuộc chơi (Phụ lục)

* TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN PHẦN 2: Rèn luyện, củng cố kĩ năng

- GV tổ chức các nhóm thảo luận nhanh và thống nhất kết quả chuẩn bị ở nhà theo phân công ở cuối tiết học trước về phần biểu đồ

- GV tổ chức đại diện một số nhóm trình bày kết quả về phần kĩ năng: Các dạng biểu đồ đã học, nêu cách vẽ Các nhóm khác nhận xét

- GV chuẩn xác

Trang 8

C PHỤ LỤC HOẠT ĐỘNG PHẦN 1: ÔN TẬP, HỆ THỐNG KIẾN THỨC

1 BẢNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC TỪ BÀI 17 - 30

2 TỔ CHỨC TRÒ CHƠI:

2.1/ Trò chơi “Rung chuông vàng”

Thể lệ: Có 10 câu hỏi Sau khi GV đọc xong câu hỏi, HS sẽ ghi đáp án đúng nhất vào bảng trong HS nào trả lời sai sẽ tự động dừng cuộc chơi HS nào trả lời được 10 câu hỏi sẽ được RUNG CHUÔNG VÀNG (tương đương

với điểm thưởng là 10 điểm) (Đây là 10 câu hỏi thuộc phần Địa lí dân cư và

Địa lí kinh tế mà các em cần ghi nhớ để kiểm tra học kì)

Trang 10

2.2/ Trò chơi Đoán hình qua mảnh ghép: Giáo viên thiết kế 8 mảnh

ghép, mỗi mảnh là 1 câu hỏi trắc nghiệm về Địa lí các vùng kinh tế 8 mảnh ghép chia ra 4 mức độ khó tương ứng với các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình

và yếu kém GV bố trí mức độ khó của câu hỏi theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn Như vậy các em học sinh sẽ tùy theo sức của mình mà chọn câu hỏi phù hợp

Thể lệ: HS nào trả lời đúng câu hỏi sẽ được gỡ 1 mảnh ghép tương ứng với điểm thưởng là 1 điểm HS nào đoán được nội dung được giấu trong các mảnh ghép ngay từ lúc mảnh ghép đầu tiên được gỡ ra sẽ được điểm thưởng là 10 điểm tương đương với điểm 10 Các trường hợp còn lại sẽ trừ dần số điểm xuống.

- GV chọn hình để ghép đó là Di tích Mỹ Sơn, Quảng Nam (H25.3 SGK trang 94)

- Câu hỏi:

1/ Vùng TD và MNBB được chia thành tiểu vùng nào?

(Tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc)

Ngày đăng: 13/01/2021, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w