DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Lag Model Mô hình Phân bố trễ Tự hồi quy ECM Error Correction Model Mô hình Hiệu chỉnh Sai số Agreement Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU FDI Foreign Direct
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-*** -
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
PHẠM LINH PHƯƠNG
Hà Nội - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-*** -
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 8310106
Họ và tên học viên : Phạm Linh Phương Người hướng dẫn : TS Đinh Thị Thanh Bình
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Học viên
Phạm Linh Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ này, em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới người hướng dẫn khoa học, Tiến sỹ Đinh Thị Thanh Bình đã luôn tận tình giúp đỡ, góp ý, hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại thương đã trang bị cho em những kiến thức bổ ích, phục vụ cho việc viết luận văn
Do khả năng của bản thân còn hạn chế cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo để luận văn hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2018
Học viên thực hiện
Phạm Linh Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài này trên thế giới và tại Việt Nam 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu và số liệu 5
6 Kết cấu đề tài 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI VIỆC LÀM 7
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài 9
1.1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới nước tiếp nhận vốn 10
1.2 Việc làm 14
1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm 16
1.3.1 Kênh tác động của FDI tới vấn đề việc làm 16
1.3.2 Tổng quan nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới việc làm 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ TÁC ĐỘNG TỚI VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 28
2.1 Thực trạng hoạt động đầu trực tiếp nước ngoài và việc làm ở Việt Nam 28 2.1.1 Tổng quan FDI và vấn đề việc làm 28
Trang 62.1.2 Hình thức và lĩnh vực đầu tư của FDI vào Việt Nam 32
2.1.3 Tương tác của khu vực FDI với nền kinh tế 37
2.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm ở Việt Nam 42
2.2.1 Biến và mô hình 42
2.2.2 Số liệu 50
2.3.3 Phương pháp ước lượng 57
2.3.4 Kết quả ước lượng 58
2.3.5 Nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng việc làm ròng tiêu cực của FDI tại Việt Nam 65
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA VIỆT NAM 68
3.1 Bối cảnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 68
3.2 Hàm ý chính sách 69
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 1 LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG 82
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Lag Model
Mô hình Phân bố trễ Tự hồi quy
ECM Error Correction Model Mô hình Hiệu chỉnh Sai số
Agreement
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI Foreign Portfolio Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Least Square
Bình phương Nhỏ nhất Hiệu chỉnh toàn phần
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GI Greenfield Investments Đầu tư mới
GlobalGAP Global Good Agricultural
Phương pháp mô-men tổng quát
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
IV Instrumental Variables Biến công cụ
LFS Labor Force Survey Điều tra Lao động Việc làm
M&A Mergers and Acquisitions Mua lại và Sáp nhập
MNCs Multinational Corporations Các công ty đa quốc gia
Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Quốc tế
OLS Ordinary Least Squares Bình phương nhỏ nhất
Competitiveness Index
Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh
Squares
Hồi quy Bình phương nhỏ nhất gộp
R&D Research and Development Nghiên cứu và Phát triển
Product
Tổng sản phẩm quốc nội vùng
SIC Schwarz Information
Criterion
Tiêu chuẩn SIC
Enterprises
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 8SSTD Sai số thay đổi
SUR Seemingly Unrelated
Doanh nghiệp Hương thôn
on Trade and Development
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
VEC Vietnam Enterprise Census Bộ số liệu Điều tra Doanh nghiệp
Practice
Thực hành nông nghiệp tốt của Việt Nam
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tóm tắt tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới số lượng, chất lượng
và tính khu vực của lao động 18
Bảng 1.2 Tổng quan tài liệu thực nghiệm tác động của FDI tới việc làm 25
Bảng 2.1 Quy mô M&A ở Việt Nam, 2011-2016 (Triệu USD) 33
Bảng 2.2 Cơ cấu FDI theo ngành kinh tế (Triệu USD) 34
Bảng 2.3 Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo ngành kinh tế, 2011-2015 (%) 36
Bảng 2.4 Chỉ số HHI50 trong ngành nông nghiệp năm 2015 41
Bảng 2.5 Danh sách các tỉnh và mã tỉnh của Việt Nam 50
Bảng 2.6 Hệ thống VSIC 2007 52
Bảng 2.7 Thống kê mô tả các biến 55
Bảng 2.8 Bảng hệ số tương quan giữa các biến 56
Bảng 2.9 Tác động của FDI tới vấn đề việc làm tại Việt Nam 59
Bảng 2.10 Tác động của FDI vào các ngành khác nhau tới việc làm ở Việt Nam 61
Bảng 2.11 Hiệu ứng việc làm của FDI thông qua xuất nhập khẩu 64
Bảng 2.12 Nguyên nhân dẫn tới thực trạng hiệu ứng việc làm của FDI tại Việt Nam 66
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tác động ngắn hạn của FDI tới việc làm ngành sản xuất và dịch vụ tại
Singapore 22
Biểu đồ 2.1 Quy mô vốn FDI thực hiện và việc làm ở Việt Nam, 2007-2016 28
Biểu đồ 2.2 FDI vào Việt Nam, 1995-2016 (Số dự án, triệu USD) 29
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu việc làm theo độ tuổi, 2009-2016 (%) 30
Biểu đồ 2.4 Đóng góp của FDI tới việc làm tại Việt Nam, 2000-2016 (Nghìn người) 31
Biểu đồ 2.5 Số lượng lao động trên 1 tỷ VND phân theo khu vực kinh tế, 2010-2016 (Người/tỷ VND) 32
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu việc làm theo ngành, 2011-2015 (Nghìn người) 35
Biểu đồ 2.7 Giá trị gia tăng trên một lao động theo khu vực kinh tế, 2005-2016 (Triệu VND/lao động) 37
Biểu đồ 2.8 Tỷ trọng nhập khẩu so với giá trị gia tăng theo khu vực kinh tế, 2011-2016 38
Trang 11TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới nước tiếp nhận vốn luôn là
đề tài được các nhà kinh tế học quan tâm Nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn cho thấy tác động mà FDI tạo ra có thể tích cực với nước này nhưng tiêu cực ở nước khác, tùy thuộc vào đặc điểm của dòng vốn này khi đi vào nước tiếp nhận vốn và khả năng hấp thụ của nền kinh tế Luận văn này là một cố gắng tổng hợp lại các nghiên cứu đã có về hiệu ứng việc làm của dòng vốn vào FDI, từ đó đánh giá hiệu ứng này tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Nghiên cứu bắt đầu bằng việc tổng quan những ảnh hưởng của FDI tới các khía cạnh khác nhau của nền kinh tế: vốn, công nghệ, trình độ quản lý, cán cân thanh toán, và tính cạnh tranh ở nước tiếp nhận vốn Tiếp đó, nghiên cứu đi sâu tìm hiểu các hiệu ứng có thể có của FDI tới quy mô và chất lượng việc làm UNCTAD
(1994, tr 166-7) đưa ra những dẫn chứng lý thuyết cụ thể về ảnh hưởng của hoạt
động FDI tới việc làm Theo đó, những ảnh hưởng này phụ thuộc vào nhiều nhân tố Cách thức gia nhập thị trường của doanh nghiệp FDI như đầu tư mới hoặc mua lại
là một nhân tố quan trọng tác động trực tiếp tới kết quả thị trường lao động của nước tiếp nhận vốn trong ngắn hạn Sự sáp nhập hay mua lại có thể khiến quy mô lao động không thay đổi, thậm chí giảm đi vì trên thực tế, đó chỉ là sự thay đổi về tính chất sở hữu Đầu tư mới vào các ngành nghề thâm dụng lao động sẽ tác động tích cực tới quy mô lao động Thêm vào đó, quá trình tạo việc làm của doanh nghiệp FDI còn phụ thuộc vào sản phẩm họ làm ra có phải là hàng hóa thay thế cho sản xuất nội địa hay không
Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy hiệu ứng việc làm ở các nước khác nhau là khác nhau, thậm chí trong các ngành khác nhau của một nền kinh tế cũng không giống nhau Luận văn đã tổng hợp lại các nghiên cứu thực nghiệm này theo chiều hướng tác động ròng tới các ngành hoặc các nước bao gồm: (i) tác động tích cực; (ii) tác động tiêu cực; và (iii) tác động bằng không và khác biệt theo từng lĩnh vực
Đối với Việt Nam, dòng vốn FDI đã có những đóng góp tích cực khi bổ sung nguồn vốn đầu tư trong nước, nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế Tổng
Trang 12vốn đầu tư FDI luôn chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2011-2016 Cùng với đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đóng góp tích cực tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Tuy nhiên, có những dấu hiệu về số liệu thống kê
vĩ mô cho thấy hiệu ứng việc làm của FDI có thể mang tính tiêu cực trong giai đoạn 2011-2015, điều mà Jenkins (2006) đã kết luận khi phân tích vấn đề này giai đoạn cuối những năm 1990 Quy mô vốn lớn; tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI chỉ hấp thụ 3-4% lao động trong nền kinh tế giai đoạn 2011-2015 Con số này đã tăng lên từ mức 1-2% ở giai đoạn trước đó, tuy nhiên nó vẫn rất khiêm tốn
Nhằm đưa ra những nhận định nghiêm mật hơn về hiệu ứng này, nghiên cứu
sử dụng phương pháp hiệu ứng cố định hiệu chỉnh sai số chuẩn ước lượng dữ liệu mảng 63 tỉnh thành Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 tại ba ngành: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Xây dựng được nghiên cứu xếp vào ngành dịch vụ do có sự tương đồng về khả năng hấp thụ FDI Các tác động có thể có được phân tách theo ngành nghề kinh doanh và quy mô xuất nhập khẩu Kết quả ước lượng cho thấy, hiệu ứng việc làm và việc làm trình độ cao ròng của FDI ở Việt Nam là tiêu cực, hiệu ứng tiêu cực đối với việc làm cho lao động có trình độ từ cao đẳng nghề trở lên mạnh hơn tổng quy mô việc làm Phân theo ngành nghề, hiệu ứng việc làm của FDI đối với ngành dịch vụ là tích cực, trong khi đó ngành công nghiệp có thiên hướng tích cực với mức độ nhỏ, ngành nông nghiệp có hiệu ứng ròng tiêu cực Tác động của FDI tới quy mô lao động trình độ cao có xu hướng tương tự trong cả ba ngành Theo quy mô xuất nhập khẩu ngành, nghiên cứu không thể khẳng định tăng quy mô xuất nhập khẩu ngành làm thay đổi hiệu ứng tới việc làm trong ngành tương ứng Tuy nhiên, tăng quy mô xuất nhập khẩu lại làm tăng các hiệu ứng tiêu cực của FDI tới quy mô lao động trình độ cao
Sử dụng dữ liệu vĩ mô tổng thể nền kinh tế và dữ liệu vi mô cấp độ doanh nghiệp, nghiên cứu tổng kết 05 lý do chính dẫn tới hiệu ứng việc làm ròng tiêu cực của FDI ở Việt Nam bao gồm:
- Khu vực doanh nghiệp FDI có xu hướng thuê ít lao động trên một đồng vốn đầu tư do năng suất lao động cao;
Trang 13- Tỷ trọng hoạt động đầu tư qua M&A trên tổng vốn FDI khá lớn;
- Tính kết nối của doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa yếu do chênh lệch về trình độ công nghệ và năng suất lao động; doanh nghiệp FDI phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu;
- Một số ngành dịch vụ như y tế, tài chính… không thể xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp FDI phải kết nối với doanh nghiệp nội địa
- FDI làm tăng tính cạnh tranh trong các ngành kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp
Phân tích nguyên nhân dẫn tới hiệu ứng việc làm ròng tiêu cực của FDI tại Việt Nam là cơ sở để nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị chính sách cụ thể, giúp nâng cao chất lượng và số lượng việc làm tại Việt Nam khi thu hút dòng vốn này Hai nhóm chính sách được đưa ra bao gồm: (i) hỗ trợ phát triển đầu tư mới và (ii) tăng tính liên kết khu vực nội địa với khu vực FDI Đây cũng là những chính sách
có tính dài hạn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao trình
độ cho người lao động trong quá trình toàn cầu hóa
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong khi các nghiên cứu trên thế giới đều đồng thuận về ảnh hưởng của đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới tăng tưởng kinh tế và chuyển giao công nghệ, nhiều nhà nghiên cứu vẫn hoài nghi về ảnh hưởng của FDI tới vấn đề lao động của các nước tiếp nhận vốn, đặc biệt là các nước đang phát triển Tại các nước khan hiếm về vốn và dư thừa lao động, thu hút FDI sẽ trực tiếp làm tăng quy mô việc làm thông qua tuyển dụng của doanh nghiệp FDI, đồng thời gián tiếp mở rộng quy mô lao động cho các doanh nghiệp trong nước cung cấp sản phẩm đầu vào Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI cũng có thể cạnh tranh trên thị trường lao động và thuê lao động của các doanh nghiệp trong nước, tạo ra hiệu ứng lấn át Điều này khiến cho FDI tạo ra những tác động trái chiều tới quy mô lao động tại các nền kinh tế
Việt Nam sau quá trình Đổi mới đã bắt đầu hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn
cầu thông qua thương mại và đầu tư Quy mô FDI vào Việt Nam liên tục tăng từ 0,4
tỷ USD vốn thực hiện năm 1991 lên mức 2,4 tỷ USD năm 2000 và 14,5 tỷ USD năm 2015 FDI đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển giao công nghệ ở Việt Nam Mặc dù vậy, vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá chi tiết ảnh hưởng của nguồn vốn này tới quy mô và chất lượng lao động
Đề tài “Phân tích ảnh hưởng của Đầu tư trực tiếp nước ngoài đến vấn đề việc làm của Việt Nam” được thực hiện nhằm tìm hiểu tác động của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tới quy mô, chất lượng lao động của Việt Nam tại các ngành khác nhau Từ đó, luận văn đưa ra các hàm ý chính sách nhằm thu hút các dòng vốn FDI theo hướng tăng quy mô và chất lượng lao động cho Việt Nam trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài này trên thế giới và tại Việt Nam
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của FDI tới vấn đề việc làm; tuy nhiên, tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu định lượng về vấn đề này Đặc biệt, nghiên cứu chưa tìm thấy một nghiên cứu định lượng đầy đủ về hiệu ứng việc làm của FDI vào Việt Nam trong giai đoạn từ 2011 đến nay
Trang 15Về nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt các quốc gia đang phát triển, một số nghiên cứu đưa ra kết luận FDI tác động tích cực tới việc làm, gắn FDI với quá trình xuất khẩu của các doanh nghiệp hoặc ngành được phân tích Waldkirch,
Nunnenkamp, & Bremont (2009) sử dụng phương pháp GMM phân tích mối quan
hệ giữa lao động và việc làm trong gần 200 ngành sản xuất phi lắp ráp miễn thuế (non-maquiladora) ở Mexico giai đoạn 1994-2006 Sử dụng dữ liệu FDI và việc làm theo ngành, nghiên cứu ước lượng hàm cầu lao động đối với công nhân và nhân viên hành chính, với các biến độc lập bao gồm FDI và các đặc điểm chính của ngành như lương, sản lượng đầu ra FDI nhìn chung có ảnh hưởng tích cực, dù mức
độ không lớn đối với việc làm ngành sản xuất ở Mexico Nghiên cứu ước lượng ảnh hưởng của quy mô xuất khẩu tới hiệu ứng việc làm của FDI thông qua biến độc lập
là tích của FDI và quy mô xuất khẩu Kết quả cho thấy hệ số này dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Như vậy, ảnh hưởng của FDI tới việc làm sẽ lớn hơn ở các ngành có định hướng xuất khẩu Ngoài ra, ở những ngành thâm dụng vốn, hiệu ứng lao động của FDI có tính tích cực với công nhân nhưng không có ý nghĩa thống
kê với các nhân viên hành chính
Các doanh nghiệp có định hướng xuất khẩu cũng là đối tượng nghiên cứu của
Fu & Balasubramanyam (2005) Nghiên cứu tác động của FDI và xuất khẩu của các doanh nghiệp hương thôn (TVEs) tới việc làm tại Trung Quốc Sử dụng phương pháp ước lượng GMM, nghiên cứu kiểm định giả thuyết trong mô hình Smith-Myint đề cao vai trò của của thương mại quốc tế tới nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không ủng hộ giả thuyết của mô hình này Những phát hiện của Fu & Balasubramanyam (2005) cho thấy thương mại quốc tế chỉ làm tăng quy mô lao động chứ không tăng năng suất lao động tại Trung Quốc Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng FDI có ảnh hưởng tích cực tới việc làm của TVEs có định hướng xuất khẩu với mức ý nghĩa 10% Nếu nguồn vốn FDI tăng 1%, quy mô lao động tại các doanh nghiệp này tăng lên 0,031%
Trong khi đó, FDI cũng có thể có tác động ròng tiêu cực tới quy mô việc làm Bailey & Driffield (2007) so sánh tác động của thương mại, FDI và phát triển công nghệ đến cầu lao động phổ thông và lao động có kỹ năng tại Vương quốc Anh
Trang 16Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng GMM với dữ liệu mảng theo ngành trong giai đoạn 1984-1992 FDI có xu hướng làm giảm quy mô lao động có kỹ năng
và không có kỹ năng
Tại một số quốc gia, FDI có thể có những tác động tới việc làm khác nhau theo ngành nghề Ying Wei (2013) nghiên cứu tác động của FDI tới quy mô việc làm toàn bộ nền kinh tế và các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của Trung Quốc giai đoạn 1985-2011 Sử dụng quy trình tự hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS-AUTORE Procedure), nghiên cứu cho thấy tác động của FDI tới việc làm trên tổng thể nền kinh tế bằng không Tuy nhiên, FDI có tác động dương tới việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, không tác động tới lĩnh vực công nghiệp và tác động âm ở lĩnh vực dịch vụ
Pin và cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa việc làm và FDI ở Malaysia Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thời gian từ 1997-2007, áp dụng phương pháp kiểm định ARDL và mô hình ECM-ARDL Kết quả cho thấy không
có mối quan hệ tương tác trong dài hạn giữa FDI và việc làm
Tại Việt Nam, Jenkins (2006) là nghiên cứu hiếm hoi đánh giá đầy đủ và toàn
diện tác động của FDI tới việc làm ở Việt Nam giai đoạn 1995-1999 Ngoài việc đi sâu so sánh, phân tích số liệu thứ cấp, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp hồi quy OLS xem xét tác động FDI tới quy mô việc làm tại Việt Nam Mặc dù dòng vốn FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh trong thập niên 1990 và chiếm tỳ trọng lớn trong giá trị sản xuất đầu ra theo ngành và giá trị xuất khẩu trong cùng thời kỳ, tác động trực tiếp của chúng tới việc làm khá hạn chế Hầu hết lực lượng lao động của Việt Nam vẫn nằm ở khu vực nông nghiệp, dịch vụ bao gồm bán buôn và bán lẻ, và ngành vận tải, những ngành mà FDI ít đầu tư Mặc dù đã có dấu hiệu mở rộng của FDI trong những ngành sản xuất thâm dụng vốn, tuy nhiên số việc làm trực tiếp mà các doanh nghiệp FDI tạo ra còn hạn chế do năng suất lao động cao và giá trị gia tăng của các doanh nghiệp này thấp
Không chỉ hiệu ứng trực tiếp về việc làm của FDI tại Việt Nam không cao, hiệu ứng gián tiếp khá nhỏ, thậm chí theo chiều hướng tiêu cực do những liên kết yếu mà doanh nghiệp nước ngoài tạo ra và nguy cơ của hiệu ứng lấn át đối với đầu
Trang 17tư trong nước Tác động cuối cùng của hiệu ứng gián tiếp phụ thuộc vào hai hiệu ứng khác nhau Hiệu ứng đầu tiên là hiệu ứng lan tỏa của FDI khi giúp nhà đầu tư trong nước tạo ra việc làm mới từ các thị trường mới Hiệu ứng thứ hai là hiệu ứng lấn át khi các doanh nghiệp nước ngoài thay thế các đối thủ cạnh tranh trong nước Doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam tạo ra những liên kết ngành yếu do họ nhập khẩu chủ yếu nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài Nghiên cứu chỉ ra 69,3% các nguyên liệu và sản phẩm đầu vào cho sản xuất của các doanh nghiệp FDI được nhập khẩu, trong khi đó con số này ở doanh nghiệp nhà nước là 36,6%, doanh nghiệp ngoài nhà nước là 18,2% Con số này cũng có sự khác biệt lớn ở các ngành mà FDI tham gia, ví dụ, ngành chế biến thực phẩm sử dụng nhiều nguồn cung trong nước hơn là ngành may mặc và điện tử Tuy nhiên, bức tranh chung của các doanh nghiệp FDI vẫn là phụ thuộc và nguyên liệu nhập khẩu
Trong khi liên kết ngành còn khá yếu, bằng chứng thực nghiệm cho thấy dấu hiệu tiêu cực về hiệu ứng lấn át của FDI đối với các doanh nghiệp nội địa và quá trình tổ chức lại nhân sự của các doanh nghiệp nhà nước nhằm phản ứng với sự xuất hiện của các đối thủ đến từ nước ngoài, khiến giảm quy mô lao động
Trong khi các nước trên thế giới, đặc biệt các nước đang phát triển, đã thực hiện nhiều nghiên cứu định lượng về tác động của FDI tới quy mô và chất lượng việc làm, các nghiên cứu định lượng về tình hình này ở Việt Nam còn rất ít, đặc biệt sau giai đoạn Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thu hút một lượng lớn FDI
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đưa ra những lý luận chung nhất về FDI
và ảnh hưởng của FDI tới việc làm Trên cơ sở đó, luận văn lượng hóa ảnh hưởng của hoạt động FDI tới quá trình tạo việc làm cũng như chất lượng việc làm ở Việt Nam Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thu hút FDI một cách có hiệu quả, cải thiện quy mô việc làm và nâng cao chất lượng lao động ở Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ảnh hưởng của hoạt động FDI tới vấn đề việc làm ở Việt Nam
Trang 18Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 2011 –
2016, giai đoạn nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu hồi phục sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế Do hạn chế về số liệu, mô hình đánh giá tác động của FDI tới vấn đề việc làm của Việt Nam sử dụng số liệu mảng 63 tỉnh trong giai đoạn 2011-2015, phân theo 3 ngành nghề chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Phạm vi về nội dung: Luận văn xem xét (i) hiệu ứng ròng của FDI tới vấn đề
việc làm ở các khía cạnh số lượng và chất lượng lao động; (ii) hiệu ứng khác nhau theo cách ngành nghề nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; và (ii) hiệu ứng của FDI khi gia tăng xuất nhập khẩu ngành
5 Phương pháp nghiên cứu và số liệu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: nghiên cứu các tài liệu sẵn có;
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh số liệu nhằm có cái nhìn tổng quan về tình hình FDI và việc làm tại Việt Nam;
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu sử dụng phương pháp hiệu ứng cố định (fixed effects, FE) hiệu chỉnh sai số chuẩn (robust standard errors) ước lượng mô hình đánh giá tác động của FDI tới việc làm của Việt Nam
Về số liệu, đề tài sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp sau:
- Bộ Điều tra doanh nghiệp (VEC), số liệu điều tra các doanh nghiệp đăng
- Chỉ số Doing Business của Ngân hàng Thế giới;
- Niên giám thống kê của Tổng Cục Thống kê;
- Trang số liệu Stoxplus về số liệu mua bán, sáp nhập,
Trang 19- World Development Indicators của Ngân hàng Thế giới
Trang 201 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI VIỆC LÀM
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thuật ngữ “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” (FDI) đã được nhiều tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD)… định nghĩa, nhằm thực hiện đo lường quy mô dòng vốn đầu tư này tới các quốc gia trên thế giới IMF (2010, tr.100, đoạn 6.8), hướng dẫn kế toán cán cân thanh toán, định nghĩa “đầu tư trực tiếp là mội loại hình đầu tư xuyên biên giới gắn liền với một dân
cư trong một nền kinh tế nhằm kiểm soát hoặc có mức độ ảnh hưởng nhất định tới việc quản lý một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.”
IMF phân tách định nghĩa này thành hai cấu phần chính xác định một nguồn vốn là FDI, bao gồm: (i) nhà đầu tư nước ngoài (IMF 2010, tr.101, đoạn 6.11) và (ii) quyền kiểm soát (IMF 2010, tr.101, đoạn 6.12) “Nhà đầu tư trực tiếp là một thực thể hoặc tập đoàn có thể thực hiện kiểm soát hoặc có ảnh hưởng nhất định tới một thực thể khác đặt tại một nền kinh tế khác Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là một thành phần của nền kinh tế - đối tượng chịu kiểm soát hoặc chịu mức độ ảnh hưởng nhất định bởi nhà đầu tư trực tiếp” (IMF 2010, tr.101, đoạn 6.11) Trong khi
đó, “quyền kiểm soát hoặc sự ảnh hưỏng có được một cách trực tiếp thông qua sở hữu cổ phần có quyền biểu quyết trong công ty, hoặc gián tiếp thông qua quyền biểu quyết ở một công ty khác mà có quyền biểu quyết trong công ty đó” (IMF
2010, tr.101, đoạn 6.12) Dòng vốn FDI tạo ra quyền kiểm soát trực tiếp, vì vậy chúng cần “có mối quan hệ đầu tư trực tiếp” (IMF 2010, tr.101, đoạn 6.12a) theo
đó, “nhà đầu tư trực tiếp phải trực tiếp sở hữu số cổ phần tương ứng với 10% hoặc nhiều hơn quyền biểu quyết trong doanh nghiệp đầu tư trực tiếp” (ibid.) Nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát được doanh nghiệp nếu nhà đầu tư sở hữu tỷ lệ biểu quyết trên 50%, trong khi đó, có sự ảnh hưởng với tỷ lệ này từ 10-50% (ibid.)
IMF (2010) cũng nhấn mạnh định nghĩa mà IMF sử dụng giống với định nghĩa của OECD (2008) OECD (2008, tr 24-5) sử dụng định nghĩa này cũng nhằm áp
Trang 21dụng các tiêu chuẩn thống kê tài khoản vốn FDI cho các nước khác nhau bao gồm
ba tài khoản: (i) tổng vốn đầu tư, (ii) giao dịch tài chính và (iii) dòng thu nhập có liên quan sử dụng để tái đầu tư:
“i) Tổng số vốn đầu tư trực tiếp (giá trị tích lũy của đầu tư), cung cấp thông tin
về tổng giá trị tích lũy đầu tư vào trong nước và ra nước ngoài… Số liệu tổng FDI cho phép phân tích cấu trúc vốn đầu tư ở nước tiếp nhận hoặc trong các ngành” …;
“ii) Giao dịch tài chính đầu tư trực tiếp cho biết giá trị ròng các dòng vốn đầu
tư vào và ra với tài sản và nợ được phân tách theo công cụ tài chính (cổ phần, cho vay) tại một khoảng thời gian tham chiếu (năm, quý, tháng) Dòng vốn vào FDI cung cấp một chỉ số hữu dụng trong tương quan về mức độ hấp dẫn của nền kinh tế, tuy nhiên, cách hiểu này cũng cần thêm những thông tin bổ sung để đưa ra những kết luận xác đáng;
iii) Thu nhập đầu tư nước ngoài cung cấp thông tin về các khoản lợi tức của nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp đầu tư trực tiếp Lợi tức từ đầu tư trực tiếp tăng lên từ a) cổ phần, ví dụ lợi nhuận doanh nghiệp tạo ra trong một khoảng thời gian và bao gồm lợi tức được phân phối (cổ tức) và lợi tức chưa được phân phối, được sử dụng như những khoản tái đầu tư trong doanh nghiệp đó; và b) từ các khoản nợ (ví dụ lãi suất từ các khoản vay, tín dụng thương mại và các loại hình nợ khác).”
UNCTAD (2009, tr.35) cho rằng “FDI có thể được định nghĩa là một khoản đầu tư từ một thực thể của một nền kinh tế tới một nền kinh tế khác và có tính chất dài hạn hay mối quan tâm lâu dài.” UNCTAD (2009) cũng nhấn mạnh tới hai nhân
tố thiết yếu khi đưa ra định nghĩa về FDI trong sự khác biệt với đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đó là (i) tính di cư quốc tế của vốn và (ii) có quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng nhất định tới một doanh nghiệp của nước tiếp nhận vốn
Ở Việt Nam, nghiên cứu tập trung tìm hiểu các quy định về FDI trong Luật Đầu tư 2005 do giai đoạn 2011-2015, Việt Nam áp dụng các điều khoản trong Luật này; Luật Đầu tư 2014 chỉ được thi hành từ 01/07/2015 Luật Đầu tư năm 2005 không đưa ra định nghĩa về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” nhưng đưa ra định nghĩa
về “Đầu tư trực tiếp” và “Nhà đầu tư nước ngoài” Điều 3 Luật Đầu tư định nghĩa:
Trang 22“Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư
Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện
hoạt động đầu tư tại Việt Nam.”
Nghiên cứu tiếp cận theo cách định nghĩa của Luật Đầu tư 2005, do đây là cơ
sở để Bộ Kế hoạch và Đầu tư thống kê vốn FDI và khảo sát các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam Một cách khái quát, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức nhà đầu tư nước này đưa vốn sang nước khác để tiến hành các hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó
1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dựa vào những định nghĩa đã nêu, có thể thấy FDI có những đặc điểm riêng, khác với các loại hình đầu tư như: đầu tư trong nước, đầu tư gián tiếp nước ngoài,
hỗ trợ phát triển chính thức Nguyễn Thị Hường (2002) tổng kết lại những đặc điểm khác biệt đó, bao gồm:
- Có sự dịch chuyển tài sản trong phạm vi quốc tế, từ quốc gia này tới quốc gia khác Đó có thể là tài sản hữu hình (tiền, công nghệ, thiết bị ) hoặc tài sản vô hình (bí quyết kinh doanh, bằng sáng chế…) Việc đầu tư công nghệ, kỹ thuật sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm – một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu và vốn pháp định tùy theo quy định của từng nước, để họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn ra đầu tư
- Chủ đầu tư trực tiếp sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư
- Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước sở tại, trong khi đó, hoạt động hỗ trợ phát triển chính thức thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài
Về phân loại FDI, OECD (2008, tr.20) đưa ra hai hình thức FDI chủ yếu là đầu tư mới (Greenfield Investment – GI) và mua bán và sát nhập qua biên giới (Cross-border Merger and Acquisition – M&A.)
Trang 23Tại Việt Nam, theo điều 21 Luật Đầu tư 2005, FDI có các hình thức sau đây:
“- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, và hợp đồng BT
- Đầu tư phát triển kinh doanh
- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
- Đầu tư thực hiện việc sát nhập và mua lại doanh nghiệp
- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.”
FDI cũng có thể được phân chia thành các hình thức khác dựa vào những tiêu chí khác nhau:
- Theo tính chất dòng vốn, có các hình thức: Vốn chứng khoán, giao dịch tài chính, vốn tái đầu tư (OECD, 2008)
Theo cơ cấu kinh tế, có các hình thức: FDI vào nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Mặc dù trong Luật Đầu tư 2005, loại hình góp vốn, mua cổ phần được tính là loại hình đầu tư FDI, tuy nhiên trong các thống kê giai đoạn 2011-2014 của Cục Đầu tư nước ngoài và Tổng cục Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số liệu vĩ mô
về dòng vốn FDI chỉ được phân chia thành (i) đăng ký cấp mới và (ii) đăng ký tăng thêm; cùng với đó là thống kê bốn loại hình đầu của hoạt động doanh nghiệp FDI trong Điều 21, Luật Đầu tư 2005 Điều này khiến số liệu vĩ mô Việt Nam về FDI có thể thấp hơn so với thực tế Từ năm 2015, Tổng cục Thống kê đã bổ sung thêm loại hình góp vốn, mua cổ phần, chiếm hơn 20% tổng vốn FDI vào Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2018)
1.1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới nước tiếp nhận vốn
Tác động của FDI tới nước tiếp nhận vốn có cả mặt tích cực và tiêu cực Trong phần này, nghiên cứu tổng hợp lại các tác động của FDI tới nước tiếp nhận vốn trên phương diện: (i) nguồn lực phát triển kinh tế, (ii) cán cân thanh toán và
Trang 24thương mại quốc tế, và (iii) cạnh tranh Riêng tác động của FDI tới quy mô việc làm
sẽ được đi sâu phân tích về lý thuyết và thực nghiệm trong phần 1.3
1.1.3.1 Tác động tới nguồn lực phát triển kinh tế
Theo Kurtishi-Kastrati (2013), hiệu ứng nguồn lực của FDI có thể coi là hiệu ứng chuyển giao tới nền kinh tế, bao gồm các hiệu ứng về vốn, công nghệ và năng lực quản lý
Về vốn, các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) đầu tư các dự án dài hạn, chấp nhận
rủi ro và tạo ra lợi nhuận khi các dự án này có tỷ suất lợi tức hợp lý Nhiều nhà kinh
tế học ủng hộ chính sách tự do hóa các dòng vốn đầu tư quốc tế vì nó giúp dòng vốn tìm kiếm được các dự án có tỷ suất lợi nhuận cao nhất MNCs với tiềm lực tài chính
và lợi thế quy mô sẵn có có thể tiếp cận tới các nguồn tài chính khác nhau, chưa xuất hiện tại nước tiếp nhận vốn Những nguồn tài chính này, ví dụ quỹ đầu tư, được MNCs thu hút hoặc cộng tác đầu tư nhờ danh tiếng của MNCs, và MNCs có thể dễ dàng hơn trong việc đi vay từ thị trường tài chính so với các doanh nghiệp nội địa (Hill, 2000)
FDI đóng góp cho tăng trưởng không chỉ thông qua qua đầu tư vốn của mình
mà còn lan tỏa nguồn vốn đầu tư vào các thị trường mới, qua đó tăng hiệu ứng ròng của FDI
Về công nghệ, đổi mới công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế Công nghệ có thể thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, cùng với đó là quá trình công nghiệp hóa Đổi mới công nghệ được thể hiện dưới hai dạng, tuy khác nhau nhưng đều mang lại nhiều lợi ích cho tăng trưởng Công nghệ có thể được (i) tích hợp trong quá trình sản xuất (ví dụ: công nghệ tìm kiếm, khai thác và chế biến dầu mỏ) hoặc (ii) tách biệt thành một sản phẩm riêng biệt (ví dụ: máy tính
cá nhân) (Hill, 2000) Tuy nhiên, các quốc gia, đặc biệt các quốc gia kém phát triển, luôn thiếu hụt nguồn lực nghiên cứu và phát triển (R&D) cùng với các kỹ năng cần thiết để cải thiến sản phẩm trong nước và nâng cao trình độ công nghệ
FDI một mặt trực tiếp thúc đẩy năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế, mặt khác lan tỏa công nghệ bằng quá trình chuyển giao công nghệ Quá trình lan tỏa này cũng giúp FDI đóng góp tích cực tới năng suất và tăng trưởng ở nước tiếp nhận vốn
Trang 25(UNCTAD, 2010) Công nghệ được chuyển giao có xu hướng tiên tiến, hiện đại và thân thiện với môi trường hơn những gì hiện có trong nước Thêm vào đó, ngoại ứng tích cực cũng được tính đến với quá trình học hỏi công nghệ, hiệu ứng lan tỏa trong chuỗi cung ứng
Về năng lực quản lý, thông qua chuyển giao tri thức, FDI cải thiện tri thức
hiện có của nước tiếp nhận vốn thông qua đào tạo lao động, chuyển giao kỹ năng và chuyển giao quy trình tổ chức quản lý tiên tiến Kỹ năng quản lý nước ngoài thông qua FDI cũng có thể tạo ra những lợi ích quan trọng cho nước tiếp nhận vốn Hiệu ứng lan tỏa xuất hiện khi nhân sự trong nước được đào tạo về kỹ năng quản trị, tài chính và kỹ thuật của các doanh nghiệp FDI Sau đó, họ chuyển sang làm việc ở các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mở công ty riêng Những hiệu ứng tích cực tương
tự cũng có thể thấy được nếu kỹ năng quản lý từ MNCs giúp cải tiến khả năng quản trị của doanh nghiệp cung ứng nội địa, và doanh nghiệp phân phối; thậm chí cả các đối thủ cạnh tranh
Công nhân tiếp thu các kỹ năng mới thông qua quá trình đào tạo trực tiếp và gián tiếp Cụ thể, đào tạo tại các doanh nghiệp nước ngoài với trình độ cao giúp công nhân trực tiếp nâng cao năng suất lao động Sau đó, công nhân có thể làm việc tại các doanh nghiệp nội địa và truyền đạt lại những kỹ năng học được từ trước, đó
là quá trình đào tạo gián tiếp (Kurtishi-Kastrati, 2013)
Lall & Streeten (1978) đưa ra ba lợi ích về năng lực quản lý và FDI mang lại:
- Hiệu quả quản trị vận hành với tiêu chuẩn quản trị cao;
- Năng lực kinh doanh, tìm kiếm các cơ hội đầu tư;
- Ngoại ứng tích cực từ quá trình đạo tạo người lao động (kỹ năng quản trị, kế toán…)
Tổng kết lại về hiệu ứng nguồn lực của FDI, Feldstein (2000) cho rằng:
- Dòng vốn nước ngoài làm giảm rủi ro đối với chủ đầu tư do chúng cho phép chủ đầu tư đa dạng hóa khoản vốn đầu tư của mình;
- Quá trình hội nhập thị trường vốn quốc tế tạo ra sự lan tỏa các mô hình kinh doanh tiên tiến với trình độ quản trị cao cấp tập đoàn, nguyên tắc kế toán và thể chế hiện đại;
Trang 26- Dịch chuyển dòng vốn quốc tế thúc đẩy năng lực quản trị nhà nước và loại bỏ các chính sách thiếu tính khả thi
Tuy nhiên, để dòng vốn FDI thực sự phát huy tác dụng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nước tiếp nhận vốn cần có trình độ giáo dục, kỹ thuật công nghệ phù hợp với trình độ của MNCs; cùng với đó là khuôn khổ chính sách hợp lý Nếu không, dòng vốn FDI sẽ rất khó tạo ra những hiệu ứng chuyển giao sang khu vực tư nhân và toàn bộ nền kinh tế Hơn nữa, khuôn khổ pháp lý không hợp lý có thể khiến FDI tác động tiêu cực tới môi trường và phát triển công nghệ của nước tiếp nhận vốn
1.1.3.2 Tác động tới cán cân thanh toán và thương mại quốc tế
Hiệu ứng cán cân thanh toán tích cực của FDI có thể được chia thành ba hiệu ứng nhỏ Thứ nhất, khi MNCs đầu tư vào nước tiếp nhận vốn, tài khoản vốn của nước này sẽ được cải thiện Thứ hai, nếu FDI sản xuất và bán hàng hóa trong nước nhằm thay thế hàng nhập khẩu, cán cân thương mại của nước tiếp nhận vốn cũng được cải thiện Thứ ba, cán cân thương mại của nước tiếp nhận vốn sẽ giảm thâm hụt/hoặc tăng tính thặng dư nếu doanh nghiệp FDI xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ họ sản xuất
Tuy nhiên, tác động ròng của FDI tới thương mại quốc tế tại nước tiếp nhận vốn rất khó để kết luận là dương hay âm Điều này phụ thuộc vào động cơ của vốn FDI đầu tư vào các nước Nếu FDI được đầu tư với mục đích chính là xuất khẩu, và các doanh nghiệp địa phương có thể cung cấp đầu vào cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này, giá trị gia tăng từ xuất khẩu sẽ lớn, qua đó tác động tích cực tới cán cân thương mại Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp FDI chỉ tập trung nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất sau đó bán sản phẩm trong nước, hiệu ứng của FDI tới cán cân thương mại là rất thấp, có thể là tiêu cực
1.1.3.3 Tác động tới sự cạnh tranh
Đối với tính cạnh tranh của nền kinh tế, sự xuất hiện của doanh nghiệp nước ngoài tức là gia tăng thêm đối thủ cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa Điều này có lợi cho nền kinh tế theo nghĩa các doanh nghiệp phải tăng năng suất lao động, giảm giá thành và tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực, từ đó tạo ra tăng trưởng
Trang 27Tăng tính cạnh tranh cũng khiến các doanh nghiệp tăng hiệu quả đầu tư, thực hiện R&D để có thể chiếm lĩnh thị trường Tác động tích cực của FDI tới sự cạnh tranh thị trường nội địa được thể hiện rõ trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt các ngành truyền thông, bán lẻ, dịch vụ tài chính…, các ngành mà không thể xuất khẩu do dịch vụ trong các ngành này được sản xuất và tiêu thụ trong nước Tính cạnh tranh trong ngành sẽ cao hơn, qua đó giúp các ngành này tăng năng suất và giảm giá thành dịch
vụ
Tuy nhiên, MNCs khi đầu tư vào một nước có thể loại bỏ tính cạnh tranh đã tồn tại của các doanh nghiệp trong nước, do tiềm lực tài chính và trình độ công nghệ cao của họ MNCs có thể chiếm lĩnh toàn bộ thị trường, loại bỏ các doanh nghiệp nội địa thông qua chính sách trợ giá ban đầu Vấn đề này cần được quan tâm ở các nước kém phát triển khi chưa có các doanh nghiệp nội địa đủ mạnh
1.2 Việc làm
Niên giám thống kê 2015 của Tổng cục Thống kê (2016, tr.68) đưa ra một định nghĩa đầy đủ và chi tiết về số lượng lao động đang có việc làm ở Việt Nam Đây cũng là cơ sở để xây dựng nên Bộ số liệu LFS hàng năm
Tổng cục Thống kê (2016, tr.68) cho rằng “số lao động đang làm việc trong nền kinh tế bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời điểm quan sát).” Như vậy, đối tượng được coi là có việc làm phải từ đủ 15 tuổi trở lên
Cụ thể hơn, “Số lao động đang làm việc trong nền kinh tế là những người từ
15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời điểm quan sát) có làm bất cứ việc gì (không bị pháp luật cấm) từ 01 giờ trở lên để tạo ra các sản phẩm hàng hóa hoặc cung cấp các dịch vụ nhằm mục đích tạo thu nhập cho bản thân và gia đình
Người đang làm việc bao gồm cả những người không làm việc trong tuần nghiên cứu nhưng đang có một công việc và vẫn gắn bó chặt chẽ với công việc đó (vẫn được trả lương/công trong thời gian không làm việc hoặc chắc chắn sẽ quay trở lại làm sau thời gian không quá 01 tháng)
Trang 28Ngoài ra, những trường hợp cụ thể sau đây đều được coi là người đang làm việc (có việc làm):
(1) Những người đang tham gia các hoạt động tập huấn, đào tạo hoặc các hoạt động nâng cao kỹ năng do yêu cầu của công việc trong cơ sở tuyển dụng;
(2) Những người học việc, tập sự (kể cả bác sĩ thực tập) làm việc và có nhận được tiền lương, tiền công;
(3) Những người làm việc trong các hộ/cơ sở kinh tế của chính họ để sản xuất
ra các sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ;
(4) Những người làm việc vì mục đích tiền công, tiền lương hoặc lợi nhuận nhưng các khoản tiền lương, tiền công và lợi nhuận đó có thể không trả trực tiếp cho họ mà được tích lũy vào thu nhập chung của gia đình họ Những người này bao gồm:
(i) Người làm việc trong các đơn vị kinh doanh được tổ chức bởi 1 thành viên gia đình đang sống cùng hộ hoặc khác hộ;
(ii) Người thực hiện các phần việc, nhiệm vụ của 1 công việc làm công ăn lương được tổ chức bởi 1 thành viên gia đình đang sống cùng hộ hoặc khác hộ.”
Tổng cục Thống kê (2016, tr.68)
Có thể thấy, lao động đang làm việc là một khái niệm dễ hiểu và thường được dùng trong các nghiên cứu về kinh tế học lao động Tuy nhiên, để đưa ra cách xác định đầy đủ và toàn diện về quy mô việc làm trong một nền kinh tế là một quá trình
tỉ mỉ bởi cần phải tính toán hết các yếu tố cấu thành nên hoạt động làm việc của một
cá nhân trong nền kinh tế Nghiên cứu sử dụng phương pháp tính toán quy mô việc làm của Tổng cục Thống kê khi phân tích hiệu ứng việc làm của FDI tại Việt Nam Tổng cục Thống kê (2018) cũng xem xét tỷ lệ lao động đã qua đào tạo theo ngành kinh tế Theo Tổng cục Thống kê (2016, tr 69), lao động đã qua đào tạo ở Việt Nam là lao động thỏa mãn 2 điều kiện sau:
“(i) Đang làm việc trong nền kinh tế; và
Trang 29(ii) Đã được đào tạo ở một trường hay một sơ sở đào tạo chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc Hệ thống giáo dục quốc dân từ 3 tháng trở lên và đã tốt nghiệp, đã được cấp bằng/chứng chỉ chứng nhận đã đạt một trình độ chuyên môn,
kỹ thuật, nghiệp vụ nhất định, bao gồm: sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng chuyên nghiệp, đại học và trên đại học (thạc sỹ, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học).”
Như vậy, tất cả lao động đang có việc làm có chứng chỉ chuyên môn nhất định được coi là lao động đã qua đào tạo Tuy nhiên, trong ba cấp đào tạo lao động: (i) sơ cấp, (ii) trung cấp, và (iii) cao đẳng trở lên, lao động trình độ cao cần đạt tới trình
độ cao đẳng trở lên Chính vì vậy, nghiên cứu tính toán quy mô lao động trình độ cao bao gồm các lao động (i) đang làm việc và (ii) đạt trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên
1.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm
1.3.1 Kênh tác động của FDI tới vấn đề việc làm
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra FDI có cả tác động tích cực và tiêu cực tới việc làm theo các kênh trực tiếp và gián tiếp Ví dụ về mỗi tác động được mô tả tại Bảng 1.1, dựa theo UNCTAD (1994, Bảng IV.1) Nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của FDI đến vấn đề việc làm theo hai khía cạnh: quy mô việc làm và chất lượng việc làm tại điểm cân bằng của thị trường lao động
1.3.1.1 Tác động trực tiếp
Một cách trực tiếp, cách thức gia nhập thị trường của doanh nghiệp FDI như đầu tư mới hoặc mua lại là một nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thị trường lao động của nước tiếp nhận vốn trong ngắn hạn Đầu tư mới bao gồm xây dựng thêm nhà máy, mua máy móc, thiết bị mới Khi đó doanh nghiệp có nhu cầu thuê thêm lao động, tăng cầu về lao động trên thị trường lao động Điều này có thể giúp tăng quy
mô việc làm tại điểm cân bằng Trong khi đó, sự sáp nhập hay mua lại có thể khiến quy mô lao động không thay đổi, vì trên thực tế, đó chỉ là sự thay đổi về tính chất sở hữu Thậm chí, các doanh nghiệp FDI sau khi được sáp nhập hay mua lại có thể thực hiện tái cấu trúc và hợp lý hóa các hoạt động của mình, dẫn đến việc giảm cầu lao động do cắt giảm nhân sự, dẫn tới giảm số lượng việc làm
Trang 30Bên cạnh đó, tác động của FDI đến số lượng việc làm còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác FDI vào các ngành nghề thâm dụng lao động sẽ tăng cầu lao động, tác động tới quy mô lao động nhiều hơn so với các ngành thâm dụng vốn hoặc công nghệ Đặc biệt, nếu FDI dưới hình thức đầu tư mới vào các ngành công nghiệp thâm dụng lao động thì hiệu ứng tạo việc làm sẽ rất lớn (Jenkins, 2006)
Về chất lượng việc làm, UNCTAD (1994, Bảng IV.1) đưa ra những ảnh
hưởng khác nhau của FDI tới chất lượng việc làm của nước tiếp nhận vốn Các doanh nghiệp FDI có thể trực tiếp nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp mình nhờ những công nghệ sản xuất mới Tuy nhiên, các doanh nghiệp này có thể
áp dụng các nguyên tắc quản trị không phù hợp với văn hóa của nước tiếp nhận vốn
Từ đó, người lao động không có động lực để nâng cao trình độ lao động
1.3.1.2 Tác động gián tiếp
Một cách gián tiếp, hiệu ứng tạo việc làm của doanh nghiệp FDI còn phụ thuộc vào sản phẩm họ làm ra có phải là hàng hóa thay thế cho sản xuất nội địa hay không Sự cạnh tranh mà các doanh nghiệp FDI tạo ra có thể khiến nhiều nhà sản xuất nội địa phải thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa nếu không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó dẫn tới nhiều lao động bị mất việc làm (Karlsson và các cộng sự, 2009)
Một yếu tố khác cần xem xét là mối liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài với các doanh nghiệp nội địa Theo đó, các doanh nghiệp trong nước có thể trở thành nhà cung cấp các nguyên vật liệu đầu vào hoặc tận dụng các sản phẩm đầu
ra của các doanh nghiệp nước ngoài Mức độ liên kết cao tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nội địa mở rộng sản xuất nhằm duy trì sự phát triển của chuỗi giá trị
từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Tuy nhiên, nếu mức độ liên kết thấp, doanh nghiệp nước ngoài quá phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu từ chính các chi nhánh của doanh nghiệp này ở nước khác, nhà cung cấp trong nước sẽ ít thu được lợi ích Điều này tạo ra ít sự thay đổi về việc làm trên thị trường lao động nội địa
Hiệu ứng lao động của FDI cũng thay đổi theo thời gian Sự giảm xuống về quy mô lao động có thể tới ở giai đoạn đầu của quá trình đầu tư khi các doanh
Trang 31nghiệp trong nước điều chỉnh để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Tuy nhiên, về lâu dài, cạnh tranh cũng có thể giúp kích thích các doanh nghiệp nội địa phát triển, tạo ra các sản phẩm mới, thay đổi công nghệ từ đó tạo thêm việc làm cho người lao động
Về chất lượng việc làm, các doanh nghiệp FDI có thể gián tiếp lan tỏa trình độ lao động, trình độ quản trị tới các công ty nội địa thông qua các liên kết xuôi và ngược Tuy nhiên, bên cạnh đó, lương của người lao động cũng có thể giảm xuống thông qua quá trình cạnh tranh của khu vực nội địa và khu vực FDI
Bảng 1.1 Tóm tắt tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới số lượng và
có thể tạo ra
sự cơ cấu lại
tổ chức và mất việc làm
Tạo việc làm cho các công ty kết nối và các tác động tích lũy tới kinh tế nước tiếp nhận vốn
Sự phụ thuộc vào nhập khẩu hoặc thay thế các doanh nghiệp trong ngành, dẫn tới mất việc làm
và đề bạt nhân viên không hợp lý
Tác động lan tỏa về quản trị tới các doanh nghiệp trong nước
Giảm mức lương khi các doanh nghiệp trong nước phải cố gắng cạnh tranh
Nguồn: UNCTAD (1994, Bảng IV.1)
Tóm lại, theo UNCTAD (1994), hoạt động của MNCs có tác động trực tiếp lẫn gián tiếp tới quy mô và chất lượng lao động, cả theo hướng tích cực và tiêu cực Tác động ròng đối với thị trường lao động là chưa đoán biết trước được do còn phụ
Trang 32thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể ở các nước khác nhau và các ngành kinh tế khác nhau
Vì vậy, UNCTAD (1994) cho rằng phân tích quy mô vốn FDI vào một nước ảnh hưởng như thế nào tới quy mô việc làm không quan trọng bằng việc xem xét tới chất lượng của dòng vốn này và những vấn đề khác mà nó tạo ra với nước tiếp nhận vốn
Liên quan tới tác động của FDI đối với chất lượng việc làm, Sornarajah (2010,
tr 48-55) tổng kết hai lý thuyết về vấn đề này ở các nước đang phát triển Một mặt,
lý thuyết cổ điển cho rằng FDI hoàn toàn có lợi cho nền kinh tế tiếp nhận Các doanh nghiệp FDI ngoài việc cải thiện tình trạng thiếu hụt vốn trong nước còn giúp nâng cao chất lượng nguồn lực thông qua công nghệ mới và cách thức quản lý hiện đại Mặt khác, lý thuyết phụ thuộc hoàn toàn đối nghịch với lý thuyết cổ điển Hoạt động của MNCs tại các nước đang phát triển nhằm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó ở nước ngoài Vì vậy, các doanh nghiệp FDI tập trung khai khác nguồn nhân công giá rẻ hơn là đào tạo, nâng cao chất lượng lao động của nước tiếp nhận vốn Nghiên cứu cũng để xuất các nước đang phát triển cần đưa ra những chính sách phù hợp để dung hòa hai lý thuyết trên, đảm bảo lợi ích của người lao động trong nước và tận dụng các điểm tích cực của FDI
1.3.2 Tổng quan nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới
việc làm
1.3.2.1 FDI tác động tích cực tới việc làm
Một số nghiên cứu đưa ra kết luận FDI tác động tích cực tới việc làm thường gắn FDI với quá trình xuất khẩu của các doanh nghiệp hoặc ngành được phân tích
Waldkirch, Nunnenkamp, & Bremont (2009) sử dụng phương pháp GMM phân tích
mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong gần 200 ngành sản xuất phi lắp ráp miễn thuế (non-maquiladora) ở Mexico giai đoạn 1994-2006 Sử dụng dữ liệu FDI
và việc làm theo ngành, nghiên cứu ước lượng hàm cầu lao động đối với công nhân
và nhân viên hành chính, với các biến độc lập bao gồm FDI và các đặc điểm chính của ngành như lương, sản lượng đầu ra FDI nhìn chung có ảnh hưởng tích cực, dù mức độ không lớn đối với việc làm ngành sản xuất ở Mexico Nghiên cứu ước lượng ảnh hưởng của quy mô xuất khẩu tới hiệu ứng việc làm của FDI thông qua
Trang 33biến độc lập là tích của FDI và quy mô xuất khẩu Kết quả cho thấy hệ số này dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Như vậy, ảnh hưởng của FDI tới việc làm
sẽ lớn hơn ở các ngành có định hướng xuất khẩu Ngoài ra, ở những ngành thâm dụng vốn, hiệu ứng lao động của FDI có tính tích cực với công nhân nhưng không
có ý nghĩa thống kê với các nhân viên hành chính
Các doanh nghiệp có định hướng xuất khẩu cũng là đối tượng nghiên cứu của
Fu & Balasubramanyam (2005) Nghiên cứu tác động của FDI và xuất khẩu của các doanh nghiệp hương thôn (TVEs) tới việc làm tại Trung Quốc Sử dụng phương pháp ước lượng GMM, nghiên cứu kiểm định giả thuyết trong mô hình Smith-Myint đề cao vai trò của của thương mại quốc tế tới nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không ủng hộ giả thuyết của mô hình này Những phát hiện của Fu & Balasubramanyam (2005) cho thấy thương mại quốc tế chỉ làm tăng quy mô lao động chứ không tăng năng suất lao động tại Trung Quốc Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng FDI có ảnh hưởng tích cực tới việc làm của TVEs có định hướng xuất khẩu với mức ý nghĩa 10% Nếu nguồn vốn FDI tăng 1%, quy mô lao động tại các doanh nghiệp này tăng lên 0,031%
Đồng quan điểm với nghiên cứu trên đối với các doanh nghiệp sản xuất ở Trung Quốc, Karlsson, Lundin, Sjöholm, & He (2009) so sánh tác động lan tỏa và cạnh tranh của FDI tới việc làm sử dụng nhiều phương pháp ước lượng khác nhau, bao gồm: OLS, FE, IV và Heckman two-step Nghiên cứu cho thấy tác động lan tỏa của FDI mạnh hơn tác động cạnh tranh ở các doanh nghiệp tư nhân địa phương Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngoài tư nhân không cho thấy hiện tượng này Tựu trung lại, FDI có đóng góp tích cực tới việc làm ở khu vực sản xuất của Trung Quốc Dòng vốn FDI trực tiếp giúp ngành sản xuất của Trung Quốc tiếp cận được với thị trường thế giới, thúc đẩy tạo việc làm trong nước Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI còn gián tiếp giúp các doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng quy mô việc làm
FDI vào ngành sản xuất của Ghana cũng giúp cải thiện quy mô lao động (Abor
& Harvey 2008) Sử dụng phương pháp ước lượng 2SLS đối với dữ liệu mảng các doanh nghiệp sản xuất giai đoạn 1992-2002, Abor & Harvey (2008) kết luận quá
Trang 34trình sản xuất trên quy mô lớn mà FDI mang lại tạo ra nhu cầu về việc làm cho nước tiếp nhận vốn Các ngành dệt may, gỗ, đồ gia dụng, kim loại, và cách ngành hóa chất được hưởng lợi nhiều hơn so với các ngành khác do FDI trực tiếp tạo ra nhiều công ăn việc làm trong các ngành này Tuy nhiên, nghiên cứu không nhận thấy tác động của FDI tới trình độ lao động
Craigwell (2006) hồi quy dữ liệu mảng 20 quốc gia vùng Caribbe trong giai đoạn 1970-2003 với phương pháp FE và phân tích nhân quả Granger Kết quả cho thấy, FDI có ảnh hưởng lớn và tích cực tới việc làm ở vùng này Tác động mạnh nhất đến từ năm đầu tiên của quá trình đầu tư và có thể được cải thiện khi các chính sách thương mại, hấp thụ vốn và phát triển tài chính được thực hiện tốt Kết quả này đưa ra hàm ý chính sách quan trọng cho việc thu hút vốn FDI trong môi trường vĩ
mô ổn định ở các nước nghiên cứu
Bashier & Wahban (2013) cho thấy mối quan hệ dài hạn giữa FDI, việc làm, GDP và độ mở nền kinh tế Sử dụng phương pháp Fully Modified Ordinary Least Square (FMOLS) trên số liệu chuỗi thời gian 1980-2012 của Jordan, nghiên cứu nhận thấy tác động tích cực của FDI tới việc làm tại nước này, với độ co giãn của việc làm với FDI là 0,267
Wong & Tang (2011) áp dụng phương pháp tự hồi quy trễ (ARDL) để kiểm định quan hệ nhân quả của FDI và việc làm tại Singapore Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nhân quả dài hạn từ quy mô lao động của ngành sản xuất và dịch vụ tới dòng vốn FDI và từ FDI và việc làm ngành dịch vụ tới ngành sản xuất Thêm vào
đó, nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ nhân quả ngắn hạn giữa FDI-việc làm và việc làm giữa hai ngành, chủ yếu từ ngành sản xuất sang ngành dịch vụ
Cụ thể, lao động có trình độ trong hai ngành này thu hút vốn FDI tới Singapore trong dài hạn Ngược lại, FDI cũng như việc làm ngành dịch vụ giúp làm tăng việc làm tại ngành sản xuất Quy mô vốn đầu tư lớn của MNCs trong ngành sản xuất cùng với sự phát triển của ngành dịch vụ logistics ở Singapore giúp tăng quy mô việc làm ở ngành sản xuất trong dài hạn Trong ngắn hạn, FDI vào Singapore giúp tăng việc làm ngành sản xuất, theo đó kéo ngành dịch vụ logistics phát triển và tăng việc làm trong ngành dịch vụ (Biểu đồ 1.1)
Trang 35Biểu đồ 1.1 Tác động ngắn hạn của FDI tới việc làm ngành sản xuất và dịch vụ
tại Singapore
Nguồn: Wong & Tang (2011, Biểu đồ 3)
1.3.2.2 FDI tác động tiêu cực tới việc làm
Bailey & Driffield (2007) so sánh tác động của thương mại, FDI và phát triển công nghệ đến cầu lao động phổ thông và lao động có kỹ năng tại Vương quốc Anh Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng GMM với dữ liệu mảng theo ngành trong giai đoạn 1984-1992 Về mặt thực nghiệm, nghiên cứu chỉ ra tính không tương thích của các chính sách mà Anh đang triển khai FDI có xu hướng làm giảm quy mô lao động có kỹ năng và không có kỹ năng Thêm vào đó, nghiên cứu đề xuất hàng loạt chính sách để giải quyết hai vấn đề quan trọng của nước Anh đó là tình trạng thất nghiệp và “tính dung hợp xã hội” (social inclusion) (Bailey & Driffield, 2007, tr.189)
Jenkins (2006) là nghiên cứu hiếm hoi đánh giá đầy đủ và toàn diện tác động
của FDI tới việc làm ở Việt Nam giai đoạn 1995-1999 Ngoài việc đi sâu so sánh, phân tích số liệu thứ cấp, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp hồi quy OLS xem xét tác động FDI tới quy mô việc làm tại Việt Nam Mặc dù dòng vốn FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh trong thập niên 1990 và chiếm tỳ trọng lớn trong giá trị sản xuất đầu ra theo ngành và giá trị xuất khẩu trong cùng thời kỳ, tác động trực tiếp của chúng tới việc làm khá hạn chế Hầu hết lực lượng lao động của Việt Nam vẫn nằm
ở khu vực nông nghiệp, dịch vụ bao gồm bán buôn và bán lẻ, và ngành vận tải, những ngành mà FDI ít đầu tư Mặc dù đã có dấu hiệu mở rộng của FDI trong những ngành sản xuất thâm dụng vốn, tuy nhiên số việc làm trực tiếp mà các doanh
Dòng vốn FDI
Việc làm ngành sản xuất
Việc làm ngành dịch vụ
Trang 36nghiệp FDI tạo ra còn hạn chế do năng suất lao động cao và giá trị gia tăng của các doanh nghiệp này thấp
Không chỉ hiệu ứng trực tiếp về việc làm của FDI tại Việt Nam không cao, hiệu ứng gián tiếp khá nhỏ, thậm chí theo chiều hướng tiêu cực do những liên kết yếu mà doanh nghiệp nước ngoài tạo ra và nguy cơ của hiệu ứng lấn át đối với đầu
tư trong nước Tác động cuối cùng của hiệu ứng gián tiếp phụ thuộc vào hai hiệu ứng khác nhau Hiệu ứng đầu tiên là hiệu ứng lan tỏa của FDI khi giúp nhà đầu tư trong nước tạo ra việc làm mới từ các thị trường mới Hiệu ứng thứ hai là hiệu ứng lấn át khi các doanh nghiệp nước ngoài thay thế các đối thủ cạnh tranh trong nước Doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam tạo ra những liên kết ngành yếu do họ nhập khẩu chủ yếu nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài Nghiên cứu chỉ ra 69,3% các nguyên liệu và sản phẩm đầu vào cho sản xuất của các doanh nghiệp FDI được nhập khẩu, trong khi đó con số này ở doanh nghiệp nhà nước là 36,6%, doanh nghiệp ngoài nhà nước là 18,2% Con số này cũng có sự khác biệt lớn ở các ngành mà FDI tham gia, ví dụ, ngành chế biến thực phẩm sử dụng nhiều nguồn cung trong nước hơn là ngành may mặc và điện tử Tuy nhiên, bức tranh chung của các doanh nghiệp FDI vẫn là phụ thuộc và nguyên liệu nhập khẩu
Trong khi liên kết ngành còn khá yếu, bằng chứng thực nghiệm cho thấy dấu hiệu tiêu cực về hiệu ứng lấn át của FDI đối với các doanh nghiệp nội địa và quá trình tổ chức lại nhân sự của các doanh nghiệp nhà nước nhằm phản ứng với sự xuất hiện của các đối thủ đến từ nước ngoài, khiến giảm quy mô lao động
1.3.2.3 FDI tác động ròng bằng không tới việc làm hoặc tác động khác biệt
theo ngành
Ying Wei (2013) nghiên cứu tác động của FDI tới quy mô việc làm toàn bộ nền kinh tế và các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của Trung Quốc giai đoạn 1985-2011 Sử dụng quy trình tự hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS-AUTORE Procedure), nghiên cứu cho thấy tác động của FDI tới việc làm trên tổng thể nền kinh tế bằng không Tuy nhiên, FDI có tác động dương tới việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, không tác động tới lĩnh vực công nghiệp và tác động âm ở lĩnh vực dịch vụ
Trang 37Pin và cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa việc làm và FDI ở Malaysia Chính phủ Malaysia đã nỗ lực thu hút vốn FDI với mong muốn nguồn vốn này sẽ đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế Ngoài ra, nghiên cứu cho rằng các chính sách của Malaysia dựa theo lý thuyết cổ điển cho rằng dòng vốn này đóng góp tích cực trong việc tạo ra cơ hội việc làm cho nước tiếp nhận Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thời gian từ 1997-2007, áp dụng phương pháp kiểm định ARDL và mô hình ECM-ARDL Kết quả cho thấy không có mối quan hệ tương tác trong dài hạn giữa FDI và việc làm
Massoud (2008) đưa ra những bằng chứng thực nghiệm về tác động trực tiếp của FDI tới quy mô lao động của Ai Cập giai đoạn 1974-2005 thông qua ước lượng 2SLS Hiệu ứng việc làm của tổng nguồn vốn FDI không có ý nghĩa thống kê; tuy nhiên, nếu nguồn vốn này tương tác với mức độ chênh lệch trình độ công nghệ lớn, chúng sẽ tạo ra những hiệu ứng tiêu cực tới cầu lao động Ngược lại, vốn nhân lực trong nước và xuất khẩu giúp tăng hiệu ứng việc làm tích cực của hoạt động đầu tư mới và FDI sản xuất Hàng hóa xuất khẩu ở Ai Cập có tính bổ sung với hàng hóa sản xuất nội địa Do đó, hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI sẽ ít tạo ra
sự cạnh tranh với khu vực nội địa, đồng thời làm tăng quy mô lao động Ngoài ra, hoạt động M&A và FDI vào ngành nông nghiệp và dịch vụ gây ra những hiệu ứng trực tiếp tiêu cực, đồng thời các hiệu ứng gián tiếp không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu cho rằng các nghiên cứu thực nghiệm cần phân tách các dòng vốn FDI theo ngành và cách thức đầu tư khi xem xét hiệu ứng việc làm của chúng
Rizvi & Nishat (2009) sử dụng phương pháp SUR đánh giá hiệu ứng việc làm của FDI đối với ba nước Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc Mô hình sử dụng các biến trễ, lựa chọn độ trễ tối ưu thông quan tiêu chuẩn Schwarz Information Criteria (SIC) Nghiên cứu kết luận rằng FDI không có tác động tới quá trình tạo việc làm mới ở ba nước nghiên cứu Nghiên cứu cũng chỉ ra những tác động yếu của FDI tới tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu đề xuất các chính sách thu hút FDI ở ba nước này cần tích hợp thêm tiêu chí tăng trưởng quy mô lao động trong thước đo hiệu quả đầu
tư Theo đó, tác động của FDI tới việc làm cần được ưu tiên tại các quốc gia này
Trang 38Bảng 1.2 tổng hợp lại các nghiên cứu đánh giá hiệu ứng việc làm của FDI mà luận văn đã đề cập
Bảng 1.2 Tổng quan tài liệu thực nghiệm tác động của FDI tới việc làm
GMM FDI tác động tích cực tới lao động, đặc biệt
các doanh nghiệp có định hướng xuất khẩu
Balasubramanyam,
(2005)
Trung Quốc, 1987-1998
TVEs tại 29 tỉnh của Trung Quốc
GMM FDI giúp làm tăng quy mô lao động của
TVEs xuất khẩu
Karlsson, Lundin,
Sjöholm, & He
(2009)
Trung Quốc, 1998-2004
Các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất
OLS, FE, IV, Heckman two-step
FDI tác động tích cực tới việc làm thông qua thương mại quốc tế và tác động lan tỏa tới doanh nghiệp tư nhân nội địa
Abor & Harvey
(2008)
Ghana, 1992-2002 Các doanh nghiệp
ngành sản xuất
2SLS FDI tác động dương tới việc làm về số lượng,
nhưng chưa thể kết luận về mặt chất lượng Craigwell (2006) 20 nước nói tiếng
Anh và Đức vùng Caribbe, 1970-
Các biến vĩ mô Phân tích
nhân quả
FDI tạo hiệu ứng mạnh và tích cực tới việc làm
Trang 39Nghiên cứu Mảng dữ liệu Cấp độ phân tích Phương
FDI tác động tích cực tới việc làm
Wong & Tang,
ARDL FDI làm tăng việc làm ngành sản xuất trong
dài hạn, qua đó làm tăng việc làm ngành dịch
GMM FDI làm giảm việc làm có kỹ năng và không
có kỹ năng
Jenkins (2006) Việt Nam,
1995-1999
Cấp độ ngành OLS Hiệu ứng việc làm trực tiếp không đáng kể,
hiệu ứng gián tiếp có tính tiêu cực Ying Wei (2013) Trung Quốc,
1985-2011
Việc làm trong tổng thể nền kinh tế và các ngành nông
OLS- AUTOREG Procedure
Không có quan hệ vĩ mô giữa FDI và việc làm nói chung, tác động dương với nông nghiệp, không tác động tới ngành công
Trang 40Nghiên cứu Mảng dữ liệu Cấp độ phân tích Phương
2SLS Tác động tổng thể là tiêu cực khi kết hợp với
chênh lệch trình độ công nghệ Đầu tư mới
và FDI sản xuất tác động tích cực, FDI dịch
vụ và nông nghiệp, M&A tác động tiêu cực Rizvi & Nishat,
(2009)
Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, 1985-2008
Các biến vĩ mô SUR FDI tác động tới quá trình tạo ra việc làm
mới