Tuy vậy với học sinh lớp 8 chưa thể cân bằng được theo các phương pháp này, sách giáo khoa lớp 8 mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu ra ba Bước lập một phương trình hoá học là.. Để góp phần là
Trang 1Lời cảm ơn !.
Trong suốt quá trình giảng dạy, tìm hiểu phương pháp, đề tài, tôi luôn nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu các thầy, cô giáo giảng dạy bộ môn cũng như tập thể giáo viên trong nhà trường đã hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này Cho phép tôi được gửi tới các thầy cô lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Bước đầu làm công tác nghiên cứu khoa học, do thời gian, trình độ và năng lực có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Kính mong được sự chỉ bảo và góp ý của quý thầy cô.
Chân thành cảm ơn !
Trang 2MỤC LỤC Nội dung
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI : 3
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 5
3- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU : 5
4- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU : 5
5- KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU: 5
6- PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 5
7- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 5
8- GIẢ THIẾT KHOA HỌC : 6
9- CẤU TRÚC ĐỀ TÀI : 6
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
1- CƠ SỞ LÝ LUẬN : 7
2- CƠ SỞ THỰC TIỄN: 9
3- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 18
4- BÀI HỌC KINH NGHIỆM : 21
PHẦN KẾT LUẬN 22
PHẦN PHỤ LỤC 24
Tài liệu tham khảo 24
Mẫu phiếu điều tra 24
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Xã hội ngày nay đang trên đà phát triển, đòi hỏi người học sinh không chỉcó phẩm chất đạo đức, chính trị mà còn phải là người năng động sáng tạo thíchứng với mọi sự phát triển đa dạng với tốc độ cao của xã hội, người công dân cótrách nhiệm cao, con người được phát triển toàn diện cùng với chất lượng cuộcsống ngày càng được nâng lên
Những năm gần đây trong thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XX vấn đề pháthuy tính tích cực, chủ động, học đi đôi với hành của học sinh nhằm đào tạonhững người lao động sáng tạo biết áp dụng lí thuyết vào thực tiễn ngày càngđược nâng cao, đây là vấn đề đã được đặt ra từ những năm 60 và đã xác định làmột trong những phương hướng của cải cách giáo dục được triển khai ở cáctrường phổ thông từ những năm 1980 Các tài liệu giáo dục ở nước ngoài vàtrong nước kể cả một số văn bản của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã nói nhiều tớiviệc cần thiết của “học đi đôi với hành” Đất nước ta đang trong quá trình hộinhập với thế giới, đặc biệt ngày 7/11/2006 vừa qua chúng ra đã bước vào một sânchơi chung đầy cơ hội và thách thức - Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150của tổ chức thương mại Thế giới WTO Địi hỏi tất cả lĩnh vực, mọi ngành, mọi cấp,mọi người dân chúng ta đều phải cố gắng ‘‘làm mới” mình về cả sức và lực, để cĩthể phát triển ngang tầm ‘‘sánh vai” với các cường quốc năm châu trên thế giới.Đáp ứng nhu cầu đĩ, Bộ Giáo dục và Đào tạo dưới sự chỉ đạo của Bộ TrưởngNguyễn Thiện Nhân thực hiện nâng cao chất lượng của ngành giáo dục chúng ta vớichương trình hai khơng với bốn nội dung : ‘‘nĩi khơng với tiêu cực trong thi cử ” ,‘‘nĩi khơng với bệnh thành tích” và “nói không với việc ngồi nhầm lớp”, “ nóikhông với vi phạm đạo đức nhà giáo” Cùng với sự thay đổi đĩ của ngành GiáoDục Đây là một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học, có một nội dung đượcnhấn mạnh là hoạt động học, “ Học đi đôi với hành” đó là một trong những mục
Trang 4Môn Hóa học ở trường phổ thông là một trong những bộ môn góp phầnđắc lực vào thực hiện mục tiêu trên Với đặc trưng bộ môn là “ Khoa học thựcnghiệm” môn hóa học nghiên cứu các quá trình hình thành nên chất, bản năng lígiải các hiện tượng tự nhiên mà trước kia con người chưa lí giải được cứ cho cáchiện tượng tự nhiên đó là do “Thánh thần” gây nên, các quá trình biến đổi chất :từ chất này sang chất khác trong quá trình phản ứng hoá học xảy ra Để có đượchướng giải thích một cách khoa học các hiện tượng tự nhiên bộ môn hóa học đòihỏi người học sinh không những nắm vững lí thuyết mà phải luyện tập để ápdụng vào thực tiễn giải các bài tập có liên quan
Ngoài ra để làm tốt các bài tập hoá học, việc cần thiết trước hết là các em
phải cân bằng nhanh và đúng các phương trình hoá học rồi với làm các Bước tiếp
theo Có nhiều phương pháp để cân bằng một phương trình hoá học trong đó cócác phương pháp “ thăng bằng electron và ion- eclectron” thăng bằng nhanh vàchính xác Tuy vậy với học sinh lớp 8 chưa thể cân bằng được theo các phương
pháp này, sách giáo khoa lớp 8 mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu ra ba Bước lập
một phương trình hoá học là
Bước 1: Viết sơ đồ phản ứng.
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố: Tìm hệ số thích hợp
đặt trước các công thức
Bước 3: Viết phương trình hoá học.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh rất lúng túng ở Bước 2 khi đi tìm
hệ số thích hợp đặt trước các công thức do đó việc cân bằng hoá học là một nộidung khó đối với học sinh
Để góp phần làm đơn giản hoá các khó khăn đó, tôi đã tìm hiểu và lựa
chọn một số phương pháp giúp học sinh “Cân bằng nhanh và chính xác các
phương trình hoá học” phù hợp với trình độ nhận thức của các em mà tôi gọi là
các bí quyết Đó là lí do tôi chọn đề tài này
Trang 52- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu về cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá họcnhằm đưa ra phương pháp giảng dạy và học tập để nâng cao chất lượng và hiệuquả của quá trình giáo dục, quá trình dạy và học ở trường trung học cơ sở
3- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu thực tiễn cơ sở vật chất nhà trường, gia đình, xã hội
Nghiên cứu về phương pháp cân bằng nhanh và chính xác các phương trìnhhoá học của học sinh ở trường trung học cơ sở
Nghiên cứu các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh
Đúc rút kinh nghiệm của mình và đưa ra các biện pháp để giải quyết vấnđề cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học cho học sinh ở trườngtrung học cơ sở
4- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu về cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học chohọc sinh ở trường trung học cơ sở
5- KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
Giáo viên giảng dạy và học sinh học môn hoá học ở trường trung học cơ sở
6- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Vì điều kiện thời gian, kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên phạm
vi nghiên cứu chỉ giới hạn đối với học sinh khối 8 trường trung học cơ sở
7- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp quan sát : Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu, quan
sát các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh
- Phương pháp đối thoại : Trực tiếp trò chuyện với giáo viên và học sinh
để bổ sung kinh nghiệm cho phương pháp điều tra
Trang 6- Phương pháp nghiên cứu tài liệu : Để nghiên cứu tài liệu, sách báo có
liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ đạo nhằm thu thập những
số liệu, hiện tượng từ đó phát hiện ra vấn đề cần giải quyết, thực hiện phươngpháp này dưới dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở trong phiếu điều tra để lấy ýkiến của giáo viên và học sinh về cân bằng nhanh và chính xác các phương trìnhhoá học ở trường trung học cơ sở trong quá trình dạy học
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh: Thông qua
các bài kiểm tra để thấy được phương pháp cân bằng nhanh và chính xác cácphương trình hoá học của học sinh ở trường trung học cơ cở có hiệu quả haykhông
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lí các số
liệu đi đến kết luận phù hợp với giả thuyết khoa học
8- GIẢ THIẾT KHOA HỌC :
- Nếu những biện pháp trong đề tài này được áp dụng một cách đồng bộ,có sự tìm tòi của giáo viên bộ môn và sử dụng các biện pháp này một cách linhhoạt thì tôi tin chắc rằng chất lượng của bộ môn hoá học sẽ được những kết quảkhả quan
9- CẤU TRÚC ĐỀ TÀI :
Trang 7- Phần mở đầu
+ Lí do chọn đề tài
+ Mục đích nghiên cứu
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu
+ Khách thể nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu
+ Cấu trúc nghiên cứu
- Phần nội dung
+ Cơ sở lí luận+ Cơ sở thực tiễn + Kết quả đạt được+ Bài học kinh nghiệm
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 8PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1- CƠ SỞ LÝ LUẬN :
1.1 Phương pháp dạy học cần được hiểu như thế nào ?
Nói tóm tắt thì phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viêntrong việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động của học sinh nhằm đạt mục tiêu dạy học
Trong phương pháp dạy học cần nắm vững các mối quan hệ sau :
1.1.1 Quan hệ giữa dạy và học :
Thuật ngữ “dạy học” ( dạy việc học, dạy cách học) vốn được dùng đểphản ánh hoạt động của người dạy Nhưng đối tượng của hoạt động dạy là ngườihọc Người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạtđộng học , phương pháp dạy – học và quan niệm chức năng cơ bản của dạy làdạy cách học; tronghoạt động dạy – học thì giáo viên giữ vai trò chỉ đạo, họcsinh có vai trò chủ động
1.1.2 Quan hệ giữa mặt bên ngoài và mặt bên trong của phương pháp dạy học
Mặt bên ngoài là trình tự hợp lý các thao tác hành động của giáo viên vàhọc sinh như : giáo viên giảng giải, đặt câu hỏi, treo tranh, biểu diễn thínghiệm…; học sinh nghe, trả lời, quan sát, giải thích điều đã quan sát…
Mặt bên trong là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh, làcon đường giáo viên dẫn dắt học sinh lĩnh hội nội dung dạy học : giải thích minhhoạ, tìm tòi từng phần, đặt và giải quyết vấn đề
Mặt bên trong phụ thuộc một cách khách quan vào nội dung dạy học vàtrình độ phát triển tư duy của học sinh Mặt bên ngoài tuỳ thuộc ở kinh nghiệm
sư phạm của giáo viên và chịu ảnh hưởng của phương tiện, thiết bị dạy học Mặtbên trong quy định mặt bên ngoài Nếu chú trọng nhiệm vụ phát triển tư duy thìphải quan tâm đến mặt bên trong của phương pháp dạy học
1.1.3 Quan hệ giữa phương pháp dạy học và các thành tố khác của quá trình dạy học.
Quá trình dạy học – hiểu theo tiếp cận hệ thống – gồm 6 thành tố cơ bản( Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá )tương tác vớinhau tạo thành một chỉnh thể, vận hành trong môi trường giáo dục của nhàtrường và môi trương kinh tế – xã hội của cộng đồng
Trang 91.1.4 Phương pháp tích cực
Trong Xã hội hiện đại ngày nay đang biến đổi nhanh với sự phát triển củathông tin, khoa học kĩ thuật, công nghệ tuy vậy không thể nhồi nhét vào đầu trẻkhối lượng kiến thức nagy lập tức mà phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháphọc ngay từ bậc tiểu học, càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng vànâng cao dần khối lượng kiến thức
Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyệncho người học có được phương pháp, kĩ năng , thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạocho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người , kết quả học tậpsẽ được nhân lên gấp bội
Vì vậy ngày nay, người ta nhấn mạnh mọi hoạt động học trong quá trìnhdạy – học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủđộng, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học
ở nhà sau bài học trên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn trực tiếpcủa thầy
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớphọc mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thìkhi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ,tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thànhmột chuỗi công tác độc lập
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học việcđánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định hiện trạng học và điềuchỉnh hoạt động dạy của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạnghọc và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây thường quan niệm giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩnăng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan đến điều này, giáo viêncần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau – tựđánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sựthành đạt trong cuộc sống mà nhà trường cần phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những conngười năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giákhông thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã họcmà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết nhữngtình huống thực tế
Trang 10Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không cònđóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành ngườithiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để họcsinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêukiến thức, kĩ năng,thái độ theo yêu cầu của chương trình
2- CƠ SỞ THỰC TIỄN:
2.1- Tình hình thực tiễn về trình độ và điều kiện học tập của học sinh.
Khi chuẩn bị thực hiện đề tài qua quá trình nghiên cứu, cân bằng nhanh vàchính xác các phương trình hoá học của học sinh là rất yếu Đa số học sinh chorằng hoá học là môn khó học, các em rất sợ học tập môn hoá, hầu như rất ít họcsinh nắm vững kiến thức cũng như kĩ năng hoá học Vì thế các em rất thụ độngtrong các tiết học và không hứng thú bộ môn này, ngoài ra còn nhiều học sinhkhông đủ sách vở để học tập, nhà trường còn thiếu nhiều trang thiết bị, hoá chấtđể phục vụ cho việc học tập của học sinh Địa bàn nông thôn rộng lớn, nhà dânthưa thớt nên việc trao đổi lẫn nhau trong học tập là rất khó khăn
2.2- Chuẩn bị vận dụng đề tài
Để áp dụng các phương pháp trong giảng dạy tôi đã thực hiện một số khâuquan trọng sau :
Xác định mục tiêu, dự đoán những tình huống có thể xảy ra trong quá trìnhcân bằng từng phương trình hoá học
Tìm hiểu tình hình học sinh, tạo niềm tin cho học sinh về khả năng hoạtđộng tìm tòi của các em, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cho học sinh, để các em chủđộng sẵn sàng tham gia các hoạt động một cách tích cực, tự giác và sáng tạo Đặt
ra yêu cầu về đồ dùng học tập
Chuẩn bị đồ dùng dạy học: trong phương pháp cân bằng nhanh và chínhxác các phương trình hoá học chủ yếu dựa vào bảng phụ là chính
2.3- Việc áp dụng đề tài vào cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học :
Trang 11Bí quyết 1: Cân bằng theo phương pháp “Hệ số thập phân” Để cân bằng
phản ứng theo phương pháp này ta cần thực hiện các Bước sau :
Bước 1: Đưa các hệ số là số nguyên hay phân số vào trước các công thức
hoá học sao cho số nguyên tử hai vế bằng nhau
Bước 2: Quy đồng mẫu số rồi khử mẫu để được phương trình hoá học hoàn
Cách làm: Đưa hệ số 2 vào trước nguyên tử P, hệ số 25 vào trước phân tử
Trang 12C2H2 + 25O2 t0
2CO2 + H2OTương tự quy đồng rồi khử mẫu số ta được
* Nhận xét : phương pháp này áp dụng đặc biệt có hiệu quả với các
phương trình có một hoặc nhiều chất là đơn chất Tổng số chất trong phản ứng từ
3 đến 4 ( như các phản ứng giữa kim loại, phi kim với các chất khác hay cácphản ứng phân huỷ tạo ra đơn chất )
Bí quyết 2: Cân bằng các phương trình hoá học theo phương pháp
“chẵn-lẽ”.
Để cân bằng theo phương pháp này ta làm như sau:
Xét các chất trước và sau phản ứng Nếu số nguyên tử của cùng mộtnguyên tố trong một số công thức hoá học là số chẵn còn ở công thức khác lại làsố lẻ thì đặt hệ số 2 trước công thức có số nguyên tử là lẽ, sau đó tìm các hệ sốcòn lại
Ví dụ 1: Cân bằng phương trình hoá học sau.
Trang 13Ta thấy số nguyên tử oxi trong công thức hoá học O2 và công thức hoá học
Cuối cùng ta cân bằng nguyên tử oxi ta thấy ở vế phải có tổng cộng 22
phương trình hoá học
Cách làm: Thêm 2 trước công thức hoá học AlCl3
Tiếp theo ta cân bằng nguyên tử clo và nguyên tử nhôm
Cuối cùng ta cân bằng nguyên tử đồng ta được phương trình hoá học
Ví dụ 3: Lập phương trình hoá học của phản ứng.