ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ KIM ANH SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC LỚP 9 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LựC Tự HỌC CHO HỌC SINH LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC HÀ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ KIM ANH
SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC LỚP 9 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LựC Tự HỌC CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ KIM ANH
SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC LỚP 9 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LựC Tự HỌC CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC CHUYÊN NGÀNH: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Minh Trang
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Chân thành cám ơn quý thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền thụnhững kiến thức, kinh nghiệm quí báu, mở rộng và khắc sâu kiến thức chuyên mônHóa học, đã chuyển những hiểu biết hiện đại của nhân loại về giáo dục cho chúng tôi.
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn TS Vũ Minh Trang,cô đã chỉ ra những định
hướng sáng suốt, không quản ngại thời gian và công sức tận tình hướng dẫn giúp tácgiả hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn quý thầy cô giáo và các em học sinh trường THCS Ái Mộ
và trường THCS Ngô Gia Tự - Quận Long Biên - Thành phố Hà Nội đã có nhiềugiúp đỡ trong quá trình thực nghiệm đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡtôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.Kính mong sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, bạn
bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện!
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục đã và đang được toàn xã hội quantâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Định hướng của công cuộc đổi mới này đãđược chỉ rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW): “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”,
“cuộc cách mạng về phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triển khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập sáng tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông”.
Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phù hợp với những yêu cầu của xã hội hiệnđại, vấn đề hình thành và phát triển năng lực cho HS trở thành mối quan tâm hàngđầu của Đảng, Nhà nước và Ngành Giáo dục Yêu cầu phát triển năng lực cho HSđược quán triệt trong đổi mới mục tiêu, nội dung và PPDH ở các trường phổ thông
Đề án “Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015” của BộGiáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ các định hướng đổi mới chương trình, SGK là: Tiếpcận theo hướng phát triển NL, xuất phát từ các NL mà mỗi HS cần có trong cuộcsống như NL nhận thức, NL hành động, NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo, NL làmviệc nhóm, NL thích ứng với môi trường ; Đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hìnhthức tổ chức giáo dục theo hướng phát triển NL học sinh; Đổi mới đánh giá kết quảgiáo dục theo yêu cầu phát triển NL
Như vậy, trong quá trình dạy học ở trường THCS nhiệm vụ phát triển các NLtrong đó có NLTH cho HS trở thành nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hỏi tiến hành đồng
bộ ở tất cả các môn học và các cấp học Hóa học là môn học có nhiều điều kiện đểphát triển các NLchung cho HS đặc biệt là NLTH
Trong dạy học hoá học, BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung, PPDH vàcũng là phương tiện dạy học hiệu quả để phát triển các NL và rèn kĩ năng choHS.Giải bài BTHH là một trong những PPDH có tác dụng đến việc phát triển NLcho
HS Mặt khác, nó cũng là thước đo thực chất sự nắm vững kiến thức, kĩ năng hóahọc, NLchung và NLđặc thù của môn Hoá học
Như vậy BTHH có vai trò quan trọng và hiệu quả sâu sắc trong việc thực hiệnmục tiêu đào tạo, hình thành kĩ năng, phát triển các NL cốt lõi cho HS, đặc biệt lànăng lực tự học
8
Trang 9Một trong những phương pháp phát triển NLTH cho HS môn Hóa học ở trườngTHCS là sử dụng hệ thống bài tập BTHH đóng vai trò chuyền tải kiến thức, pháttriển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất BTHHkhôngchỉcủng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để
hình thành kiến thức mới
Vì thời gian dành cho các giờ ôn tập, luyện tập, hệ thống hoá kiến thức và giảibài tập ở trên lớpchưa được nhiều.Nhiều HS hiện nay chưa biết cách hoặc biết mơ hồ
về giải BTHH, lí do là chưa nắm chắc lý thuyết hay chưa biết vận dụng các kiến thức
mà GV truyền thụ trên lớp Cho nên việc HS tự học là rất cần thiết
Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Sử dụng hệ thống bài tập
hóa học lớp 9 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh".
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc sử dụng hệ thống BTHH nhằm phát triển NLTH cho HS trongdạy học từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hoá học trong nhàtrường phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NLTH
-Nghiên cứu khái niệm về NL, NLTH, các vấn đề khác liên quan đến NLTH
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH nhằm phát triển NLTH cho
HS trong quá trình dạy học
- Nghiên cứu nguyên tắc, quy trình lựa chọn và sử dụng hệ thống BTHH nhằmphát triển NLTH cho HS
- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp sử dụng hệ thống BTHH nhằm phát triểnNLTH cho HS
-Nghiên cứu các tiêu chí thành phần của NLTH từ đó đề xuất bộ công cụ đánhgiá NLTH khi sử dụng hệ thống BTHH
- TNSP để đánh giá chất lượng, hiệu quả của hệ thống BTHH đã sử dụng và cácbiện pháp đã đề xuất trong thực tế dạy học nhằm phát triển NLTH cho HS ởtrường
THCS Ái Mộ và trường THCS Ngô Gia Tự - Quận Long Biên - TP Hà Nội
4 Khách thể và đối tượngnghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn Hóa học ở trường THCS
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống BTHH nhằm phát triển NLTH cho HS lớp 9
- NLTH
9
Trang 105 Phạm vi nghiên cứu
Chương 1 và 2 thuộc chương trình hóa học lớp 9 - THCS
6 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
10
Trang 116.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu lý luận về việc phát triển NLTH cho HS
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu thực tiễn về việc dạy và học ở một số trường THCS trên địa bàn
TP Hà Nội
- Nghiên cứu các biện pháp sử dụng hệ thống BTHH trong dạy học hoá học
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương 1 và 2 môn Hoá học lớp 9
- Điều tra bằng các phiếu điều tra
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong xử lý kết quả TNSP
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
TNSP đánh giá hiệu quả và tính khả thi của hệ thống BTHHvà các biện phápphát triển NLTH cho HS đã đề xuất trong đề tài
7 Câu hỏi nghiên cứu
Vì HS thiếu NLTH, không chịu tự học vì vậy sử dụng hệ thống BTHH như thếnào để phát triển NLTH cho HS?
8 Giả thuyết khoa học
Nếu lựa chọn được hệ thống BTHH đa dạng, phong phú đảm bảo tính khoahọc, có chất lượng thì sẽ sử dụng chúng nhằm phát triển NLTH cho HS lớp 9 đồngthời tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng dạy học
9 Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về chất lượng dạy học và phát triển NLTH cho HS
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng hệ thống BTHH lớp 9 nhằm phát triểnNLTH cho HS
- Lựa chọn và sử dụng được hệ thống BTHH phù hợp cho việc giảng dạy mônHóa học - Lớp 9
- Soạn thảo một số kế hoạch dạy học có sử dụng hệ thống BTHH nhằm pháttriển NLTH cho HS
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng hệ thống bài tập hóa họcnhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Chương 2: Sử dụng hệ thống BTHH lớp 9 nhằm phát triển NLTH cho HS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
11
Trang 12Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN VỀ VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂNNĂNG LựC Tự HỌC
CHO HỌC SINH 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới
Những năm trước công nguyên, Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng dạy học phảiquan tâm đến việc kích thích, suy nghĩ của người học, người học phải suy nghĩ chứkhông nên nhắm mắt làm theo sách
Trên thế giới, nhiều nhà giáo dục cho rằng việc dạy học phải tạo được sự hứngthú, kích thích sự tìm tòi, phát huy tính tư duy sáng tạo cho HS, thầy giáo chỉ làngười lập kế hoạch, người hướng dẫn Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đếnvấn đề tự học như:
- “Tự học như thế nào" của N.A Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất
bản năm 1982 giúp bạn đọc biết cách tự học tập, tự nâng cao kiến thức toàn
mình [25]
- “Hiểu biết là sức mạnh của thành công” chủ biên là Klas Mellander, các
tác giả đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học,hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trìnhhọc
hỏi [14]
- “Phươngpháp dạy và học hiệu quả”” của Cark Rogers - một nhà giáo dục học,
nhà tâm lý học người Mỹ, dịch giả là Cao Đình Quát đã giải đáp cho HS câu
cái gì và học như thế nào?; Dạy cái gì và dạy như thế nào? [10]
- “Để luôn đạt điểm 10” của GordonW Green J, dịch giả là Trần Vũ Thạch đã
được tái bản lần thứ 25 Cuốn sách này, tác giả chỉ ra cách kết hợp các phươngpháp
như phương pháp đọc một quyển sách, phương pháp làm bài kiểm tra, phươngpháp
trở thành sinh viên giỏi hơn sẽ tạo thành một sinh viên đạt toàn điểm 10.[13]
- “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế!” của Adam Khoo, dịch giả là Trần Đăng Khoa và
Uông Xuân Vy, đã được NXB Phụ nữ xuất bản năm 2008 Tác giả đã chứng tỏkhả
năng trí tuệ tiềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của con người vượt xa hơn
12
Trang 13những gìchúng ta nghĩ và thường được nghe tới [1].
13
Trang 14Tự học là một trong những truyền thống quý báu của nhân dân ta.Chủ tịch HồChí Minh - lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam - cả cuộc đời Bác là tấm
gương lớn về tự học.Bác đã từng nói “còn sống thì còn học””, “phải lấy tự học làm cốt”.Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự họctự
phát vì khi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũngkhông có trách nhiệm khơi dậy và phát triển NLTH của HS.Nhưng thực tiễn chứngminh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học
là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của Chủtịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sự nghiệp giáo
dục của Người trong lý luận và thực tiễn Thủ tướng chỉ rõ: “phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học có thể tự học, tự nghêncứu chứ không phải
là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại ”[19].
Theo GS.TS.Trịnh Văn Biều, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thậpthông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽhiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người có thể học theo nhiềukiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá trình học
Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiệnnhân cách của con người
Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả trên khẳng định: cần phải đưa rabiện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó bài tập là phương tiện quan trọng
để người dạy tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho HS Đồng thời đã đưa ranguyên tắc, quy trình lựa chọn và biện pháp sử dụng bài tập nói chung và BTHH nóiriêng nhằm phát triển NLTH Các thành công này của các tác giả sẽ được chúng tôinghiên cứu, kế thừa trong luận văn này
Tuy nhiên, trong biện pháp hướng dẫn, cách thức lựa chọn và sử dụng các dạngBTHH lớp 9 - THCS để phát triển NLTH cho HS chưa có đề tài nào nghiên cứu Do
đó, để đi sâu vào nghiên cứu lí thuyết đưa ra các biện pháp sử dụng BTHH nhằmphát triển NLTH cho HS trong quá trình dạy học môn Hoá học là hết sức cần thiết
Trong thời gian gần đây, quan điểm chỉ đạo đổi mới PPDH của Bộ Giáo dục vàĐào tạo càng cho thấy tính cần thiết phải xây dựng một cách có hệ thống các dạngbài tập mang tính vận dụng thực tế cao Qua tìm hiểu, tôi thấy đã có một số tài liệunghiên cứu về vấn đề này như:
- Nhóm tác giả Đặng Thị Oanh, Trần Trung Ninh, Đỗ Công Mỹ (2006) Câu
14
Trang 15hỏi lý thuyết và BTHH THPT Tập 1 Hóa học đại cương và vô cơ, NXBGD,
Hà Nội
- Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Đĩnh, Lê Xuân Trọng (2001), Bài tập định tính và câu hỏi thực tế Hóa học 12 Tập 1 Hóa học hữu cơ, NXBGD, Hà Nội.
15
Trang 16- Nhóm tác giả Lương Thiện Tài, Hoàng Anh Tài, Nguyễn Thị Hiển
(2007\Xâydựng BTHH thực tiễn trong dạy học phổ thông, Tạp chí Hóa học và
ứng dụng, số 64
Và một số công trình khoa học Luận văn Thạc sĩ các tác giả:
- Vũ Văn Ban (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hoá học về sơ đồ, hình vẽ và đồ thị nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trung
thông, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Nguyễn Tuấn Anh (2013), Nâng cao năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh thông qua hệthống bài tập phần Este - lipit, Hóa học 12 cơ bản, Luận văn
Thạc
sĩ, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Mai Thị Hiền (2015), Sử dụng hệ thống BTHH chương Nitơ - photpho Hóa học 11 trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho
Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Các công trình khoa học này là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu, tìm hiểu,
áp dụng phát triển NLTH cho HS,tuy nhiên việc lựa chọn và sử dụng hệ thốngBTHH nhằm phát triển NLTH thì chưa được quan tâm đúng mức Như vậy, việc lựachọn đề tài của chúng tôi là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc đổimới PPDH để nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS
1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
Theo các tác giả [2, 3, 4]: Bên cạnh vai trò góp phần hình thành, phát triển cácphẩm chất chủ yếu và NL chung cho HS, giáo dục khoa học tự nhiên có sứ mệnhhình thành và phát triển thế giới quan khoa học của HS; đóng vai trò chủ đạo trongviệc giáo dục HS tinh thần khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng các quy luậtcủa tự nhiên để từ đó biết ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bềnvững xã hội và môi trường Thông qua các hoạt động học tập của lĩnh vực này, HSdần hình thành và phát triển NL tìm hiểu và khám phá thế giới tự nhiên qua quan sát
và thực nghiệm, NL vận dụng tổng hợp kiến thức khoa học để giải quyết các vấn đềtrong cuộc sống
Giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện trong nhiều môn học, cốt lõi là cácmôn Cuộc sống quanh ta (lớp 1, lớp 2 và lớp 3), Tìm hiểu tự nhiên (lớp 4 và lớp 5),Khoa học tự nhiên (THCS), Vật lý, Hóa học, Sinh học (trung học phổ thông)
Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục khoa học tự nhiênđược phân chia theo hai giai đoạn
16
Trang 17- Giai đoạn giáo dục cơ bản
17
Trang 18Nội dung chủ yếu của môn học Khoa học tự nhiên là tích hợp các lĩnh vực kiếnthức về Vật lý, Hóa học, Sinh học; được tổ chức theo các mạch nội dung (vật chất, sựsống, năng lượng, Trái Đất, bầu trời); các nguyên lý và quy luật chung của thế giớitựnhiên (tính cấu trúc, sự đa dạng, sự tương tác, tính hệ thống, quy luật vận động vàbiến đổi); vai trò của khoa học đối với sự phát triển xã hội; vận dụng kiến thức khoahọc trong sử dụng và khai thác thiên nhiên một cách bền vững.
Cấu trúc nội dung môn Khoa học tự nhiên ở THCS gồm các chủ đề phân môn(Vật lý, Hóa học, Sinh học), các chủ đề liên môn, nhằm hình thành các nguyên lý,quy luật chung của thế giới tự nhiên Các nội dung này được sắp xếp chủ yếu theologic tuyến tính, có kết hợp một số kiến thức đồng tâm
- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
Giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện chủ yếu qua các môn học Vật lý,Hóa học và Sinh học
Ở lớp 10, Vật lý, Hóa học và Sinh học là những môn học bắt buộc Nội dungcác môn học này được phát triển trên cơ sở nội dung nền tảng ở giai đoạn giáo dục
cơ bản, đồng thời gắn kết với đời sống và góp phần định hướng nghề nghiệp
Ở lớp 11 và lớp 12, Vật lý, Hóa học và Sinh học là những môn học tự chọn bắtbuộc dành cho HS có thiên hướng khoa học tự nhiên, công nghệ Nội dung các mônhọc này được thiết kế vừa đảm bảo phát triển năng lực chung và năng lực tìm hiểu tựnhiên, vừa giúp HS định hướng ngành nghề tương lai
Theo các tác giả [2, 3, 4]: Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường
áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó GV đóngvai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện vànhững tình huống có vấn đề để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các hoạt độnghọc tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khảnăng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được đểphát triển
Các hoạt động học tập của HS bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt độngluyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giảiquyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của đồdùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự độnghóa của kỹ thuật số
Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhàtrường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lý thuyết; thực hiện bài tập, thínghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại,đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng
18
Trang 19Tùy theo mục tiêu cụ thể và mức độ phức tạp của hoạt động, học sinh được tổchức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp Tuy nhiên,dùlàm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi HS đều phải được tạo điềukiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế.
Theo các tác giả [2, 3, 4]: Mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục là cung cấp thôngtin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đạt chuẩn (yêu cầu cần đạt) của chươngtrình và sự tiến bộ của HS để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt độngdạy học, quản lý và phát triển chương trình, bảo đảm sự tiến bộ của từng HS và nângcao chất lượng giáo dục
Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy địnhtrong chương trình tổng thể và chương trình môn học Phạm vi đánh giá bao gồmtoàn bộ các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn vàmôn học tự chọn bắt buộc Đối tượng đánh giá là sản phẩm và quá trình học tập, rènluyện của HS
Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượngthông qua đánh giá thường xuyên, định kỳ ở cơ sở giáo dục, các kỳ đánh giá trêndiện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương và các kỳ đánh giá quốc tế Kết quả cácmôn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của HS trongtừng năm học và trong cả quá trình học tập
Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trênkết quả đánh giá của GV, của phụ huynh HS, của bản thân HS được đánh giá và củacác HS khác trong tổ, trong lớp
Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức HS hoàn thành các môn học,tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được cấpbằng tốt nghiệp trung học phổ thông HS hoàn thành chương trình Tiếng dân tộcthiểu số được cấp Chứng chỉ Tiếng dân tộc thiểu số theo quy định
Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức kiểmđịnh chất lượng cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức
để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, phát triển chương trình và nângcao chất lượng giáo dục
Phương thức đánh giá bảo đảm độ tin cậy, khách quan, phù hợp với từng lứatuổi, từng cấp học, không gây áp lực lên HS, hạn chế tốn kém cho ngân sách nhànước, gia đình HS và xã hội
19
Trang 20Theo PGS.TS Đặng Thị Oanh - Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,trong chương trình giáo dục phổ thông, mỗi môn học đều có đặc thù riêng và có thếmạnh để hình thành và phát triển đặc thù của môn học Và trongmôn Hóa họcbaogồm6NL đặc thù.
- NL sử dụng ngôn ngữ hóa học
- NL nghiên cứu và thực hành hóa học
- NL tính toán
- NL giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học
- NL vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
- NL sáng tạo
1.3 Cơ sở lý luận về phát triển năng lực tự học
ì.3.1.1 Khái niệm về tự học
Trong thời đại phát triển nhanh chóng như hiện nay, giáo dục phổ thông nước
ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếpcận năng lực của người học Đảng và Nhà nước tarất quan tâm đếnvấn đề tự học củangười học và được quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Theo nghị quyết Trung ương
V khóa VIII nêu rõ: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực
tự học, tự sáng tạo của học sinh, Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”.
Trên tinh thần ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự học là vấn đề mấu chốt có vị trí cực
kì quan trọng trong chiến lược giáo dục - đào tạo của đất nước Từ đó phát triển quátrình rèn luyện NLTH cho HS, nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần vào công cuộcđổi mới PPDH của nhà trường
Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên đã viết: ‘‘Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch
sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người
h ọ c ”[31, 32].
Tác giả Nguyễn Kỳ cũng viết về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giảipháp.Tự học thuộc quá trình
cá nhân hóa việc học”.[24]
20
Trang 21GS Trần Phương đã có bài phát biểu tại hội thảo “Nâng cao chất lượng dạy học ”được tổ chức vào tháng 11/2005 ở Đại học Huế: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhânloại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.
Như vậy, tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong giáo dục ở nhà trường vàtrong cả cuộc sống của người học Tự học sẽ tạo điều kiện hình thành và phát triển tưduy sáng tạo, khả năng hoạt động độc lập, từ đó tạo cơ hội học tập cho mỗi người
ì.3.1.2 Vai trò của tự học
Hoạt động tự học có vai trò rất lớn và luôn giữ một vị trí quan trọng trong quátrình học tập của người học Một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng vàhiệu quả của quá trình học tập chính làhoạt động tự học
Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười bàn về vai trò của tự học đã phát biểu: “Tự học,
tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điều kiện kinh
tế - xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau đây cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục cần phải phát triển các năng lực của người học đặc biệt là năng lực tự học, khi đó sẽ chuyển quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Muốn mở rộng quy mô giáo dục thì cần phải phát triển phong trào toàn dân tự học” (Trích thư gửi Hội thảo khoa
học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày 6/1/1998)
Thứ nhất, tự học giúp HS nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp
trong tương lai Chính trong quá trình tự học HS đã biết biến vốn kiến thức, kinhnghiệm của loài người thành vốn kiến thức, kinh nghiệm riêng của bản thân Hoạtđộng tự học đã tạo điều kiện cho HS hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cốghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ họctập mới
Thứ hai, tự học không những giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng và
hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp HS có được hứng thúthói quen và phương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêmvốn hiểu biết của mình Giúp HSbị lạc hậu trước sự phát triển không ngừng của khoahọc công nghệ trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp HS mở
rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp HS hình thành được những phẩm chất trí tuệ vàrèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rènluyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mênghiên cứu khoa học
21
Trang 22Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường THCS, nếu bồi dưỡng được ý chí và
NLTH cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở HS tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nênđộng lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngạibênngoài Khả năng tự học của HS chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chấtlượng đào tạo
Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lựcthúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năngđộng, sáng tạo, có đủ tri thức, NL và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làmphát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có khả năng đặc biệt đó là tự học, tự nângcao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấp tiểu học Cónhư vậy mới rèn luyện và phát triển cho họ được NLTH, tự nghiên cứu, khôngngừng bồi dưỡng và nâng cao trình độ hiểu biết về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹthuật để trở thành một con người toàn diện bước vào cuộc sống
ì.3.1.3 Các hình thức tư học
Theo [20, 21]:Các hình thức tự học được diễn ra với các mức độ như:
* Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có
sách và sự hướng dẫn của GV Hình thức này được gọi là hình thức tự nghiêncứu
của các nhà khoa học Kết quả của hình thức này là sự sáng tạo và phát minh racác
tri thức khoa học mới, là đỉnh cao của hoạt động tự học Hình thức tự học nàyđược
dựa trên niềm khao khát, niềm say mê khám phá các tri thức mới và ngườihọcphải
có một hệ thống kiến thứcsâu và rộng.Đạt đến trình độ tự học này, người học
tự tổ chức có hiệu quả hoạt động học của mình với thực tiễn mà không cầnthầy,
không cần có sách
* Hình thức 2:Không có GV bên cạnh, HS tự học dựa vào sách, tài liệu Ở hình
thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
- Thứ nhất, không có sự hướng dẫn của GV, HS tự học thông qua sách, tài liệu.Trường hợp này HS tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua đó sẽphát
triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt
xây dựng một xã hội học tập suốt đời
22
Trang 23- Thứ hai, tự học có GV ở xa hướng dẫn HS trao đổi thông tin với GV ở xahướng dẫn bằng các phương tiện trao đổi thông tin dưới dạng phản ánh các
và giải đáp bài tập
* Hình thức 3: HS tự học thông qua sách, tài liệu, có GV trực tiếp hướng dẫn
một số tiết trong ngày, sau đó dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV, HS tự học ởnhà
Trong quá trình dạy học ở trên lớp, GV đóng vai trò là hỗ trợ, hướng dẫn, thúcđẩy và tạo điều kiện cho HS tự chiếm lĩnh tri thức.HS đóng vai trò là chủ thể của quátrình nhận thức, tham gia vào quá trình học tập.Mối quan hệ giữa GV và HS chính làmối quan hệ giữa Nội lực và Ngoại lực, Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ làchất xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển [20]
23
Trang 24Trong quá trình tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV, HS phảiphát huy tính tự giác, tích cực, chủ động tự sắp xếp, lập kế hoạch học tập, huy độngtoàn bộ kiến thức và kỹ năng của bản thân để thực hiện những yêu cầu của GV đặt
ra Tự học của HS theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của GV, được
GV định hướng về nội dung, phương pháp tự học để HS thực hiện Đối với hình thức
tự học này quá trình HS tự học có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.Quátrình này chịu sự tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố quản lý và tổ chức cáchoạt động trong quá trình dạy học của GV và quá trình tự học của HS [21]
Theo Luật Giáo dục, học từ xa, vừa học vừa làm, tự học có hướng dẫn thuộcphương thức giáo dục không chính quy (mục d - điều 41 Luật Giáo dục).Trong cáchình thức giáo dục này, người học chủ yếu phải tự học bằng SGK, bằng các loại họcliệu, bằng kế hoạch và các điều kiện, phương tiện của mình để đạt được một mục tiêu
hay một chương trình đào tạo Ví dụ: "Giáo dục từ xa là một tổng thể các hoạt động
do một cơ sở giáo dục đảm nhiệm nhằm khuyến khích sự học cho những người không tới trường học hoặc không có điều kiện tới trường học’” Như vậy bản chất của việc
học từ xa là tự học, HS phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo với sự
ì.3.1.4 Chu trình tự học của học sinh
Theo [6]: Chu trình tự học của HS là một chu trình gồm ba giai đoạn:
(2) Tự thể hiện
I (1) Tự nghiên cứu <^ □ (3) Tự kiểm tra, tự điểu chỉnh
Hình 1.1 Chu trình tự học Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu:Trong quá trình học tập, HS tự tìm tòi, quan sát,
và phát hiện vấn đề, từ đó đưa ra định hướng, tự giải quyết vấn đề, tự tìm ra tri thứcmới và tạo ra sản phẩm mang tính chất cá nhân hay sản phẩm thô
Giai đoạn 2: Tự thể hiện: HS tự thể hiện mình bằng lời nói,bằng văn bản,
bằng sản phẩm, tự đóng vai trong các trường hợp, tự thuyết trình, báo cáo, bảo vệkiến thức hay sản phẩm cá nhân của mình, tự thể hiện bản thân qua sự hợp tác, traođổi, đối thoại với các bạn và GV, tạo ra sản phẩm có tính xã hội của tập thể lớp học
Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: GV đưa ra kết luận sau khi HS tự
thể hiện mình với sự hợp tác, trao đổi với các bạn và GV.HS tự kiểm tra, tự đánh giásản phẩm của mình, tự điều chỉnh,tự sửa sai thành sản phẩm khoa học (tri thức)
Chu trình tự nghiên cứu - tự thể hiện - tự kiểm tra, tự điều chỉnh của HS chính
là con đường phát hiện, định hướng và giải quyết vấn đề khoa học của HS giúp HS
24
Trang 25chiếm lĩnh được tri thức mới dưới sự hướng dẫn của GV [6]
ì.3.2.1 Khái niệm năng lực
NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của kiến thức, kỹ năng,kinh nghiệm và thái độ, trách nhiệm.Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhauvềNL nhưng NL đều được hiểu là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đốivới công việc
Theo từ điển Tâm lí học (Vũ Dũng - 2000): “NL là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”.
Theo GS Nguyễn Quang Uẩn và các cộng sự: “NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả”.
Theo Bernd Meiner - Nguyễn Văn Cường, NL được định nghĩa như sau: “NL
là khả năng thực hiện các hành độngcó trách nhiệm và hiệu quả, giải quyết các vấn đề,nhiệm vụ trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực chuyên môn hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết sẵn có và những kinh nghiệm để hành động” [6].
ì.3.2.2 Cấu trúc của năng lực
Muốn hình thành và phát triển NL cho HS, chúng ta cần xác định được cácthành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại NL khác nhau nên việc mô tả cấutrúc các thành phần NL cũng khác nhau Cấu trúc chung của NL hành động được mô
tả là sự kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội,
và NL cá thể
Hình 1.2 Mô hình cấu trúc năng lực hành động
NLcó thể được chia thành nhiều loại, trong đó có NL hành động(professtional action compentency) NL hành động được tạo nên bởi các NL nhất địnhcủa mỗi cá
nhân Việc phát triển NL hành động hiện nay được chúng ta quan tâm đến các NL sau:
25
Trang 26NL chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm
vụchuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, cóphương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được lĩnh hội qua việc học nộidung,
kiến thức chuyên môn và được gắn liền với khả năng nhận thức và tâm lý vận động
NL phương pháp (Methodical competency): Là khả năng thực hiện những hành
động đã được lập kế hoạch, có định hướng trong việc giải quyết, xử lý các nhiệm vụ,tình huống NL phương pháp bao gồm NL phương pháp chung và phương phápchuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng chiếm lĩnh,giải quyết, kiểm tra, đánh giá và trình bày kiến thức Nó được tiếp nhận qua việc họcphương pháp luận - giải quyết vấn đề
NL xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong các tình
huống giao tiếp, đưa ra biện pháp để thực hiệncác nhiệm vụ khác nhau dưới sự phốihợp chặt chẽ, thống nhấtcủa từng thành viên trong xã hội Nó được tiếp nhận quaviệc học giao tiếp
NL cá thể (Induvidual competency): Là khả năng định hướng, đánh giá được
những giới hạn cũng như những cơ hội phát triển về năng khiếu, thiết kế và thực hiệncác kế hoạch phát triển bản thân, những quan điểm về chuẩn đạo đức, kĩ năng vànhững
thái độ Nó liên quan đến khả năng tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm cũng nhưđược tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức
Mô hình cấu trúc NL hành độngđược cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyênmôn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người tacũng mô tả các loại NL khác nhau
Từ cấu trúc của NL hành động ở trên cho thấy, giáo dục định hướng phát triểnNL
không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng màcòn
phát triển NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể Những NL này có mối liên hệmật
thiết với nhau và không tách rời nhau [6]
ì.3.3.1 Khái niệm năng lực tự học
Theo Nguyễn Kì, tất cả con người Việt Nam trừ những người bị tàn tật, tâmthần - đều mang trong mình một tiềm lực, một khả năng vô cùng quý báu đó là NL
tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết tình huống, vấn đề trong thực tiễn, tự kiểm tra,
tự đánh giá, tự định hướng trong cuộc sốngđược gọi chung là NLTH[22]
26
Trang 27“NLTH là tổng thể các NL cá thể, NL chuyên môn, NL phương pháp và NL xã hội
của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục
tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v.v của người học) chiếm lĩnh tri thức kĩ năng”.
27
Trang 28Kết quả tự học là cao hay là thấp là phụ thuộc vào NLTH của mỗi cá nhân.Mỗingười đều có một cách học khác nhau Cách học khác nhau sẽ tác động đếnngười học, đến đối tượng học khác nhau.
1.3.3.2 Vai trò của năng lực tự học
Theo [22]: NLTH có bốn vai trò chính sau:
- Tự tìm ra kết quả, làm chủ kiến thức, tự hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, tự tạo
ra mối liên hệ nhận thức trong các vấn đề học tập
-Tự chiếm lĩnh và làm chủ các tri thức có trong chương trình học và trong cácvấn đề học tập
- Tự thay đổibản thân, tự làm phong phú, đa dạng bản thân bằng cách thu thập
và xử lí các thông tin từ cuộc sống xung quanh
- Tự học, tự nghiên cứu, tự bản thân tìm ra tri thức bằng hành động củachính mình, đồng thời cần hợp tác với những người xung quanh trong tập thểlớp
học dưới sự hướng dẫn, điều hành của GV
1.3.3.3 Một số biểu hiện của NLTH cần phát triển cho HS
Theo [3]: NLTH nằm trong nhóm các NL chung cần hình thành và phát triểncho HS theo định hướng chuẩn đầu ra cho HS những năm sau 2015, được các chuyêngia giáo dục của Việt Nam đề xuất Theo đó, NLTH có các biểu hiện sau:
- Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và địnhhướng phấn đấu tiếp Mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tậptrung
nâng cao hơn những khía cạnh còn yếu kém
- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập.Hình thành cách học tập riêngcủa bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ họctập
khác nhau.Thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phùhợp
với từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau.Ghi chép thông tin đọc đượcbằng
các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần
đặt được vấn đề học tập
- Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trìnhhọc tập.Suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ,vận
dụng vào các tình huống khác.Trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch kế
28
Trang 29điều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng học tập
- Tự đánh giá: HS phải tự chủ trong các tình huống học tập, phải tạo ra nhữngđiều kiện, động cơ và khuyến khích, bắt buộc HS tự đánh giá Có như vậy mớikích
thích được suy nghĩ của HS giúp HS luôn luôn tìm tòi, phát minh và muốnchiếm
lĩnh cái mới, cái hợp lý, cái có hiệu quả cao hơn
1.3.3.4 Những biện pháp phát triển NLTH cho HS
Theo [3]: Phát triển NLTH là hình thành và phát triển NL nhận biết, tìm tòi,
29
Trang 30NL nêu và giải quyết vấn đề, NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn, NL đánh giá và
tự đánh giá Để có thể phát triển NLTH thì HS phải có ý chí quyết tâm cao độ, luôntìm tòi để chọn ra phương pháp học tập tốt cho mình, phải học bằng chính sức lựccủa mình, không dập khuôn, máy móc theo câu chữ của GV, phải rèn luyện khả năng
tư duy độc lập, suy luận đúng đắn, sáng tạo và linh hoạt thông qua các câu hỏi và dữkiện của bài toán
Để phát triển NLTH cho HS là phải rèn luyện cho HS NL tư duy, hành độngđộc lập, khả năng nhận biết, tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề bằng vốn kiếnthức, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân thông qua quá trình tự học Các biểu hiện củaNLTH:
- Tự mình phát hiện ra vấn đề, tự đặt vấn đề để giải quyết
- Tự mình tìm ra cách giải, tự kiểm tra và đánh giá cách giải của chính mình
- Tự mình trình bày những suy nghĩ, lập luận cách giải bài toán một cách logic,chặt chẽ dựa vào sự hiểu biết của mình
- Tự phê phán được cách giải của người khác bằng chính kiến thức, kĩ năng củabản thân
Ngoài ra, để phát triển NLTH cho HS một cách toàn diện, có hiệu quả, chúng tacần phối hợp một số biện pháp sau:
* Với GV
- Tự trau dồi, bồi dưỡng NL chuyên môn, NL nhận thức của bản thân để
có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn HS cách tự học
- Hạn chế sử dụng phương pháp thuyết trình trên lớp, GV nên dành nhiều thờigian cho HS tự học, tự nghiên cứu, tự làm thí nghiệm và tự giải đáp các thắcmắc
- Giáo án nên tăng cường soạn theo hướng phát triển NL cho HS, tăng cườngtìm kiếm và sử dụng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và tự ôn tập kiến
nhiều kênh thông tin
- Phối hợp các PPDH tích cực nhằm phát huy tính tích cực chủ động chiếm lĩnhtri thức cho HS
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thôngtin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học
* Với HS
- Cần xác định thái độ học tập đúng đắn
- Bồi dưỡng cho HS phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu
- Lập kế hoạch, thời gian biểu tự học và thực hiện nghiêm túc kế hoạch, thờigian biểu tự học đó
30
Trang 31- Lựa chọn phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp nghe và ghi chép bài.
31
Trang 32- Rèn luyện cho HS khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong học tập.
- Hướng dẫn HS tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, tìm kiếm các trang webphục vụ cho quá trình học tập
ì.3.4.1 Khái niệm về bài tập hoá học
- Một số nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), cho rằng bài tập bao gồm các câuhỏi lý thuyết và bài toán mà sau khi hoàn thành chúng HS có thểhình thành trithức
hay kĩ năng, kĩ xảo nào đó bằng cách HS sẽ trả lời miệng các câu hỏi lý thuyết,giải
quyết các vấn đề trong bài toán bằng lời viết hay hình ảnh Ở nước ta trongSGK,
sách bài tập sử dụng thuật ngữ "bài tập" theo quan điểm này [26, 29].
- Theo Từ điển tiếng Việt: Bài tập là một dạng yêu cầu HS làm để vận dụngnhững tri thức đã lĩnh hội và cần giải quyết các tình huống bằng phương phápkhoa
học Theo một số tài liệu học tập thường dùng thuật ngữ “bài toán hoá học’”
chúng đúng thời gian, đúng địa điểm Một HS lớp 1 không thể xem bài toánthuộc
chương trình lớp 9 là "bài tập" và ngược lại, đối với HS lớp 9, bài tập thuộc
chương
trình lớp 1 không còn là "bài tập" nữa! Bài tập chỉ có thể là "bài tập" khi nó trở
thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu
Trang 33cầu, chúng có liên hệ chặt chẽ và tác động đến nhau.
Người giải (hệ giải) bao gồm phép giải và phương tiện giải
Những điều kiện
-► Phép giải
ư V
Những yêu cầu
- Phương tiện giải
Hình 1.3 Cấu trúc của hệ bài tập
33
Trang 34Thông thường trong SGK hay sách bài tập, người ta hiểu bài tập là những bàiluyện tập, ôn tập được lựa chọn có mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượnghoáhọc, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học, kĩ năng tính toán và rènluyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn [29, 33].
Theo chúng tôi, thuật ngữ “BTHH” khái quát hơn khái niệm “Bài toán hoá học”
và bao hàm cả khái niệm bài toán hoá học và có thể coi BTHH là những vấn đề họctập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hoáhọc trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hoá học
I.3.4.2 Tác dụng của bài tập hoá học
Bài tập và sử dụng bài tập trong dạy học là một trong những biện pháp hết sứcquan
trọng để nâng cao chất lượng dạy và học BTHH có ý nghĩa, tác dụng to lớn như:+ Làm chính xác hoá những khái niệm hoá học; củng cố, đào sâu và mở rộngkiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn; chỉ khi vận dụng kiến thức vàogiải bài tập, HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc
+ Giúp HS luyện tập, hệ thống được các kiến thức một cách logic
+ Rèn luyện các kĩ năng hóa học như nêu và giải thích các hiện tượng, cân bằngPTHH, tính theo CTHH và PTHH
+ Rèn cáckĩ năng vận dụng hệ thống kiến thức vào cuộc sống
+ Rèn các kĩ năng tư duy logic và sử dụng thành thạo ngôn ngữ hóa học
+ Rèn luyện khả năng tính toán hóa học
+ Là công cụ dùng để kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS
+ Giáo dục đạo đức, tính cẩn thận và có niềm tin vào khoa học
1.3.5 Phân loại bài tập hóa học
ì.3.5.1 Phân loại bài tập hóa học dựa vào nội dung
Bài tập định tính: là dạng bài tập sử dụng suy luận logic dựa trên các kiến thức
có liên hệ với sự quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng hóa học Các dạng bàitập định tính:
- Chứng minh, giải thích, vận dụng kiến thức lý thuyết
- Viết PTHH của các phản ứng
- Phân biêt, nhận biết các chất
Bài tập định lượng (Bài toán hóa học): là dạng bài tập cần sử dụng các kỹ năng
hóa học và kỹ năng toán học để giải
Bài tập thực nghiệm: là dạng bài tập vận dụng các kỹ năng thực hành như:
- Làm thí nghiệm
- Điều chế các chất
34
Trang 35- Tách các chất ra khỏi hỗn hợp
Bài tập tổng hợp: là dạng bài tập kết hợp các dạng trên.
35
Trang 36ì.3.5.2 Phân loại BTHH dựa vào hình thức
Bài tập trắc nghiệm khách quan: là dạng bài tập hay câu hỏi có các phương án
để HS lựa chọn gồm các dạng bài như dạng đúng sai, dạng điền vào chỗ trống, dạngghép, dạng có nhiều phương án lựa chọn
Bài tập trắc nghiệm tự luận: là dạng bài tập yêu cầu HS phải kết hợp các kiến
thức hóa học, ngôn ngữ hóa học, phải tự viết câu trả lời bằng ngôn ngữ của mình
ì.3.5.3 Phân loại bài tập hóa học theo mức độ nhận thức
Có bốn mức độ nhận thức: Hiểu - Biết - Vận dụng - Vận dụng nâng cao
Bao gồm có 5 bước sau:
Bước ì: Nghiên cứu đề bài
- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu điều kiện và yêu cầu của bài ra
- Tóm tắt đầu bài (chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản)
- Quy đổi đơn vị theo cùng hệ thống
Bước 2: Phân tích, định hướng phương pháp giải
- Phân tích hiện tượng, quá trình hoá học có thể xảy ra trong bài toán
- Xây dựng mối liên hệ giữa các dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm
- Lựa chọn phương pháp giải thích hợp cho bài toán
Bước 3: Thực hiện tiến trình giải
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra kết luận cụ thể
- Từ các mối liên hệ trên tiếp tục suy luận, tính toán, biểu diễn các dữ kiện cầntìm thông qua các dữ kiện bài toán đã cho
- Xác định kết quả với độ chính xác cho phép
Bước 4: Đánh giá kết quả
Để đánh giá kết quả tìm được cần kiểm tra và trả lời các câu hỏi sau:
- Kiểm tra lại đã xét hết các trường hợp, trả lời hết câu hỏi chưa?
- Kiểm tra lại các phép tính đã chính xác chưa?
- Kiểm tra lại kết quả vừa giải có phù hợp với thực nghiệm không?
- Thử giải bằng phương pháp khác có cho kết quả như vậy không?
hóa học trong cuộc sống vào các kiến thức hóa học và kiến thức liên môn khác
36
Trang 37Trong quá trình giảng dạy GV cần tạo cho HS thói quen giải các bài tập theo 5bước trên sẽ giúp HS có phương hướng chung để giải bài tập, nó giúp HS định hướng
giải bài tập tốt hơn
Trong việc phát triển NLTH cho HS, BTHH là phương tiện không thể thiếu đểrèn luyện, phát triển cho HS các NLTH cơ bản như: NL thu thập và xử lí thông tin;
NL vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn và đặc biệt là NL tự kiểm tra, tự đánh giá
và tự điều chỉnh quá trình tự học
Thông qua việc giải BTHH, HS phải thực hiện những hoạt động nhất định,những hoạt động hóa học phức hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong bộ mônHóa học Hoạt động của HS được thể hiện ở mục tiêu, nội dung và PPDH:
Thứ nhất, đối với mục tiêu dạy học, BTHH nhằm:
- Hình thành, củng cố tri thức kĩ năng ở những khâu khác nhau của quá trìnhdạy học, kể cả những ứng dụng của hóa học vào thực tiễn đời sống
- Phát triển NL trí tuệ: rèn luyện các hoạt động tư duy sáng tạo, hình thành cácphẩm chất trí tuệ
- Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, hình thành những phẩm chất đạođức của người lao động mới
Thứ hai, đối với nội dung dạy học, BTHH là một công cụ để khắc sâu nội dung
để hoàn thiện, bổ sung cho những kiến thức đã được đề cập trong phần lý thuyết
Thứ ba, đối với PPDH, BTHH là hoạt động để HS kiến tạo những tri thức nhất
định và trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu dạy học khác nhau Nếu lựa chọn và sửdụng tốt những BTHH như vậy sẽ giúp GV tổ chức tốt các hoạt động học tập cho HSbằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện độc lập hoặctrong cộng đồng lớp
Như vậy thông qua việc giải các BTHH, HS được rèn luyện và phát triển cácthao tác tư duy; nâng cao khả năng tự phân tích, tự tổng hợp và tự đánh giá một vấn
đề Thông qua việc giải hệ thống BTHH về một chủ đề nào đó sẽ giúp HS hiểu sâusắc trước hết về chủ đề đó, tiếp đến là hiểu rõ phần nào bản chất của nội dung đangđược nghiên cứu, tìm hiểu Từ đó giúp cho HS có hứng thú trong học tập và gópphần phát triển NLTH cho bản thân
1.4 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống BTHH nhằm phát triển NLTH cho HS
ở một số trường THCS trên địa bàn TP Hà Nội
* Về phía HS:
- Tìm hiểu kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS về BTHH
37
Trang 38- Tìm hiểu những khó khăn, thắc mắc củaHS khi giải BTHHvà các yếu tố giúp
38
Trang 39HS giải thành thạo một dạng BTHH.
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
- Tìm hiểu việc sử dụng thời gian và cách thức tự học của HS
- Tìm hiểu những khó khăn, thắc mắc củaHS khi tự học và các yếu tố tác độngđến hiệu quả của việc tự học
- Tìm hiểu biện pháp sử dụng hệ thống BTHH nhằm phát triển NLTH cho HS
1.4.2 Đối tượng điều tra và phương pháp điều tra
ì.4.2.1 Đối tượng điều tra
- Chúng tôi tiến hành điều tra hai đối tượng là HS và GV hoá học
- Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 8 lớp 9 (230 HS) trường THCS Ái
Mộ và trường THCS Ngô Gia Tự - Quận Long Biên - TP Hà Nội
- Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 20 GV hoá họctrường THCS Ái Mộ và trường THCS Ngô Gia Tự - Quận Long Biên - TP HàNội
ì.4.2.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra bằng bảng kiểm quan sát
- Điều tra bằng bảng hỏi
- Đánh giá kết quả qua bài kiểm tra
1.4.3 Đánh giá kết quả điều tra
ì.4.3.1 Đánh giá kết quả điều tra giáo viên
Từ kết quả điều tra chúng tôi có nhận xét:
- Đa số GV (11 GV - 55%) đều nhận thức được tầm quan trọng của BTHH trongquá trình dạy học môn Hóa học nhưng chưa quan tâm đến việc sử dụng BTHH
chất lượng chưa cao
- Thời gian học tập trên lớp chưa nhiều mà kiến thức lí thuyết lại nặng nên việc
39
Trang 40hướng dẫn hoạt động tự học ở nhà không đủ thời gian Các giáo án giờ luyệntập
chưađược đầu tư thiết kế theo một tiến trình cụ thể bằng hệ thống các BTHH
cố và đánh giá được NLTH của HS
40