1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua dạy học các chủ đề tích hợp phần clo và hợp chất – hóa học 10

164 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 609,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ THÚY QUỲNH PHÁT TRIỂN NĂNG Lực VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THựC TIỄN THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP PHẦN CLO VÀ HỢP CHẤT - HÓA HỌC

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ THÚY QUỲNH

PHÁT TRIỂN NĂNG Lực VẬN DỤNG KIẾN THỨC

VÀO THựC TIỄN THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP

PHẦN CLO VÀ HỢP CHẤT - HÓA HỌC 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo, cán bộ viên chức của trườngĐại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Giám Hiệu trường Đại học Giáodục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo và các em HStrường THPT Trực Ninh - Nam Định, cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tìnhgiúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè, ngườithân - đó là nguồn động viên tinh thần lớn nhất để tôi theo đuổi và hoàn thành luậnvăn này

Mặc dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.Kính mong sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, bạn

bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện

Hà Nội, tháng 10 năm 2017 Tác giả

Vũ Thị Thúy Quỳnh

3

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP PHẦN CLO VÀ HỢP CHẤT NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG Lực VẬN DỤNG KIẾN

Trang 7

DANH MỤC BANG

Bảng 3.14 So sánh kết quả đánh giá năng lực VDKTVTT trước và sau thực nghiệm 107Bảng 3.17 Ý kiến của HS về việc năng lực VDKTVTT có cần thiết với HS THPT 108Bảng 3.15 Ý kiến HS về tác dụng của năng lực VDKTVTT trong học tập môn Hóahọc và trong cuộc sống 109Bảng 3.16 Ý kiến HS về việc tại sao sử dụng các chủ đề tích hợp lại phát triển đượcnăng lực VDKTVTT 109

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo

dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo

hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,

kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”; “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố

cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, VDKTVTT Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [3]

Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tập trung chỉ đạo đổi mớicác hoạt động giáo dục nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản về tổ chức hoạt động dạyhọc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường trung học Do đó, giáodục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếpcận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đếnviệc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học,chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học,cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất;đồng thời đang dần chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trínhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, GQVĐ,

9

Trang 10

Một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nộidung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học

ở nhiều nước trên thế giới là DHTH Quan điểm DHTH là một định hướng trongđổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nộidung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới,năngđộng, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Quan điểmtích

hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quátrình dạy học nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người cóđầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại

Qua quá trình giảng dạy bộ môn Hoá học ở trường phổ thông chúng tôi thấyrằng: DHTH là một quan điểm mới, GV còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trongviệc vận dụng và triển khai Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quantrọng là GV chưa có sự hiểu biết thấu đáo về lý luận DHTH từ đó chưa biết lựachọn phương pháp dạy học và nội dung tích hợp Vì vậy cần có thêm các nghiêncứu để làm rõ hơn lý luận về DHTH cũng như đề xuất các biện pháp sư phạm đểgiúp đỡ GV trong quá trình dạy học

Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua dạy học các chủ đề tích hợp phần Clo và hợp chất - Hóa học 10”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghị quyết 29 của BCH TW 8 khóa XI năm 2013 về đổi mới căn bản và toàndiện nền giáo dục Việt Nam Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội về việc đổimới chương trình và sách giáo khoa Công văn 3718/BGDĐT - GDTrH của BộGiáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung họcnăm học 2017 - 2018 đều hướng tới mục tiêu phát triển năng lực HS Trước hết cầnnhận thức sâu sắc tính cách mạng và khoa học của quá trình đổi mới căn bản vàtoàn diện nền giáo dục Đây không phải là những sửa đổi, điều chỉnh nhỏ, đơn lẻ,cục bộ, mang tính bề mặt Đây là quá trình đổi mới “đụng” tới tầng sâu bản chất của

hệ thống giáo dục, làm thay đổi căn bản về chất của hệ thống giáo dục, để đưa hệthống giáo dục lên một trình độ mới, hiệu quả hơn, chất lượng hơn DHTH là mộttrong những quan điểm chủ đạo để phát triển chương trình giáo dục nói chung vàmôn Khoa học tự nhiên nói riêng của nước ta trong thời kỳ mới

10

Trang 11

Tuy nhiên về cơ bản, phương pháp dạy học của các môn Khoa học tự nhiênđều có điểm thống nhất chung đó là tìm tòi, khám phá một cách tích cực Quanđiểm tích hợp đã thể hiện rõ ràng từ khái niệm, cách phát triển chương trình, viếtsách giáo khoa, phương pháp dạy học

11

Trang 12

Hiện nay, đã có một số đề tài nghiên cứu về DHTH và phát triển năng lựcVDKTVTT Trong đó theo tác giả Tô Thị Diễm Quyên [27] đã vận dụng dạy họcchủ

đề tích hợp với chủ đề Phân bón - Hóa học 9 đã cho HS thấy được sự gần gũicủa Hóa học với đời sống sản xuất, mối quan hệ mật thiết giữa môn Sinh học vớimôn Hóa học Với bộ sách [28] do Đỗ Hương Trà (chủ biên) đã nghiên cứu và thiết

kế được một số chủ đề tích hợp ở các mức độ lồng ghép, liên môn, xuyên môn Bộsách là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp cho GV chủ động, tự tin và sáng tạo trongviệc DH, góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy và học ở các trườngphổ thông hiện nay Theo [8] năng lực VDKTVTT được mô tả qua 5 năng lực thànhphần và có các mức độ thể hiện cụ thể của mỗi năng lực Từ cấu trúc này của nănglực mà GV có thể nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển năng lực cho HS vàxây dựng các tiêu chí, bộ công cụ để GV đánh giá năng lực của HS và HS tự đánhgiá mức độ phát triển năng lực của mình

Các tài liệu trên đều có những đóng góp nhất định về mặt lí luận và thực tiễn vềDHTH và phát triển năng lực VDKTVTT cho HS Các tác giả nghiên cứu đều chothấy việc DHTH và phát triển năng lực cho HS đã góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục trong công cuộc đổi mới này Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu vềviệc phát triển năng lực VDKTVTT thông qua dạy học các chủ đề tích hợp phầnClo và hợp chất - Hóa học 10 THPT Vì vậy, đề tài nghiên cứu này là cần thiết gópphần nâng cao chất lượng dạy - học ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay

“Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” xác định DHTH thực hiện năm

2018 sẽ được áp dụng cho cả cấp THCS và THPT Vì vậy, với đề tài của mình, tôi

sẽ tập trung vào nghiên cứu thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học theo quan điểmtích hợp ở mức độ lồng ghép, liên hệ

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, lựa chọn, xây dựng một số chủ đề tích hợp trong phần Clo và hợpchất - Hóa học 10 nhằm phát triển năng lực VDKTVTT cho HS

4 Câu hỏi nghiên cứu

Làm thế nào để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho họcsinh thông qua dạy học các chủ đề tích hợp?

Cần chú ý và làm như thế nào để xây dựng những chủ đề tích hợp phần Clo vàhợp chất nhằm phát triển năng lực VDKTVTT?

5 Giả thuyết khoa học

12

Trang 13

Trong quá trình dạy học, nếu GV vận dụng DHTH vào việc dạy một số chủ đềtrong phần Clo và hợp chất thì sẽ làm tăng ý nghĩa thực tiễn của môn học, làm chocác bài học trở nên hấp dẫn và lôi cuốn học sinh hơn Từ đó phát triển năng lựcVDKTVTT cho HS.

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài: DHTH, năng lực và phát triểnnăng lực cho HS, năng lực VDKTVTT (khái niệm, những biểu hiện, đánhgiá )

trong dạy học hoá học

- Điều tra thực trạng việc DHTH nhằm phát triển năng lực VDKTVTT cho HSTHPT

- Nghiên cứu mục tiêu, cấu trúc nội dung chương trình hóa học phổ thông, đi sâuvào phần Clo và hợp chất

- Tìm hiểu nguyên tắc lựa chọn, quy trình thiết kế chủ đề DHTH trong phần Clo

và hợp chất

- Thiết kế một số chủ đề tích hợp phần Clo và hợp chất, đề xuất một số biện pháp

sư phạm giúp GV vận dụng vào giảng dạy để phát triển năng lực VDKTVTT

- Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực VDKTVTT cho HS THPT

- Thực nghiệm sư phạm để thu thập, xử lí, đánh giá tính phù hợp, tính hiệu quả

và khả thi của các đề xuất

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy - học môn Hóa học ở trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn vàdạy học tích hợp

8 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Phần Clo và hợp chất của clo trong chương trình Hóa học 10

- Về thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 11/2016 đến tháng 12/2017

- Về không gian: Đề tài thực hiện ở trường THPT Trực Ninh, THPT Lê QuýĐôn đều thuộc tỉnh Nam Định

13

Trang 14

9 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

9.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

14

Trang 15

- Phân tích nguồn tài liệu (tạp chí và báo cáo khoa học, ) về DHTH và phát

triển năng lực VDKTVTT

- Phân tích các văn bản, nghị quyết của Đảng và nhà nước về DH định hướngphát triển NL HS

- Nghiên cứu chương trình, tài liệu dạy học môn Hoá học ở trường THPT

9.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương phap khao sat, điêu tra

- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát và trò chuyện với HS và GV THPT

Từ đó có thể đưa ra những đánh giá khách quan, đúng đắn và chính xác hơn

9.3 Phương pháp toán học thống kê

Sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý kết quả điều tra về định lượng,chủ yếu là tính điểm trung bình, tính phần trăm

9.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Đánh giá hiệu quả sử dụng phương phap day học theo hương tích cực va vân

dụng quan điêm DHTH

15

Trang 16

10 Đóng góp mới của đề tài

- Điều tra thực trạng về phát triển năng lực VDKTVTT ở trường THPT TrựcNinh và THPT Lê Quý Đôn đều thuộc tỉnh Nam Định làm cơ sở lí luận thựctiễn

- Xây dựng 2 đề kiểm tra để đánh giá năng lực VDKTVTT cho HS

- Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá năng lực VDKTVTT cho HS

- Tiến hành TNSP để kiểm chứng những đề xuất đã đưa ra từ đó khẳng địnhtính khoa học và tính khả thi của đề tài

11 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực vận dụng

kiến thức vào thực tiễn thông qua dạy học các chủ đề tích hợp

Chương 2: Xây dựng một số chủ đề DHTH phần Clo và hợp chất nhằm phát

triển năng lực VDKTVTT cho HS

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

PHÁT TRIỂN NĂNG LựC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN

THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP 1.1 Quan điểm DHTH

Theo UNESCO, DHTH được định nghĩa như sau: “Dạy học tích hợp là một

cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất

cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác của các khoa học khác nhau” [17]

DHTH là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy

động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thuộc nhiều lĩnh vực (môn học/hoạt động giáodục) khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thànhnhững kiến thức và kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết

1.1.2 Những nguyên tắc lựa chọn nội dung tích hợp ở nhà trường phổ thông

“(1) Đảm bảo mục tiêu giáo dục, hình thành và phát triển các năng lực cần thiết cho người học

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức,trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tínhnăng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa,xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đivào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo Tệ tổ quốc [30, điều 27]

Trang 18

Trong Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông cho sau năm

2015 ở Việt Nam, phát triển năng lực người học là một định hướng quan trọng,được khẳng định Theo định hướng này, giáo dục không đơn thuần chỉ trang bị kiếnthức,

kĩ năng cho HS mà còn chú ý hơn vào việc phát triển năng lực người học (baogồm những năng lực chung và năng lực đặc thù)

Như vậy, việc lựa chọn các nội dung các bài học/chủ đề tích hợp phải hướngtới việc phát triển những năng lực cần thiết của người lao động để đáp ứng yêu cầuphát triển của đất nước trong giai đoạn mới Đó là các năng lực GQVĐ, đặc biệt lànăng lực vận dụng những hiểu biết vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn củacuộc sống; năng lực sáng tạo; năng lực quản lí bản thân; năng lực hợp tác; năng lựcgiao tiếp; năng lực tự học; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông;

(2) Đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính thiết thực, có ý nghĩa với người học

Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hộinhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, cóthể thực hiện nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng côngviệc với hiệu quả cao

Việc lựa chọn nội dung bài học/chủ đề tích hợp cần tinh giản kiến thức hànlâm lựa chọn những tri thức thiết thực, có ý nghĩa gắn bó với cuộc sống người học,đáp ứng được những thay đổi của xã hội trong giai đoạn toàn cầu hóa, tạo điều kiệncho người học vừa thích ứng được với cuộc sống đầy biến động vừa có khả năngnhạy bén thu thập kiến thức và học tập suốt đời trên cơ sở nền tảng của giáo dụcphổ thông

(3) Đảm bảo tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học kĩ thuật, đồng thời vừa sức với HS

Xã hội hiện đại là một xã hội đầy biến động, phát triển rất nhanh chóng, luônluôn thay đổi Việc xây dựng các bài học/chủ đề tích hợp vừa đòi hỏi phải đảm bảotính khoa học và vừa tiếp cận được những thành tựu mới của khoa học kĩ thuậtnhưng phải phù hợp với khả năng nhận thức của HS cũng như kế hoạch dạy học Đểlàm được điều này, các bài học/chủ đề tích hợp cần phải tinh giản những kiến thứchàn lâm, tăng cường những kiến thức thực tiễn, tạo điều kiện để HS trải nghiệm,

Trang 19

khám phá tri thức.

(4) Đảm bảo tính giáo dục và giáo dục vì sự phát triển bền vững

Trang 20

Nội dung các bài/chủ đề tích hợp được lựa chọn cần góp phần hình thành,bồi dưỡng cho hoc sinh không chỉ nhận thức về thế giới mà còn thể hiện thái độ vớithế giới; bồi dưỡng những phẩm chất của người công dân trong thời đại mới: lòngyêu quê hương, đất nước; trách nhiệm đối với gia đình, xã hội; hợp tác, đoàn kết vàbình đẳng; tôn trọng và tuân thủ pháp luật; học tập và tôn trọng các nền ăn hóa vàtôn trọng các dân tộc trên thế giới

(5) Tăng tính hành dụng, tính thực tiễn; quan tâm tới những vấn đề mang tính xã hội của địa phương

Mọi khoa học đều là kết quả nhận thức của con người trong quá trình hoạtđộng thực tiễn Vì thế, những nội dung các bài học/chủ đề tích hợp lựa chọn cầntăng cường tính hàn dụng, tính thực tiễn nhằm rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụngtri thức vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thựctiễn, góp phần đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống

Cần quan tâm tới các vấn đề mang tính xã hội của địa phương nhằm giúp HS

có những hiểu biết nhất định về nơi các em đang sinh sống, từ đó chuẩn bị cho HStâm thế sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương

(6) Việc xây dựng các bài học/chủ đề tích hợp dựa trên chương trình hiện hành

Các bài học/chủ đề tích hợp được xác định dựa vào những nội dung giaonhau của các môn học hiện hành và những vấn đề cần giáo dục mang tính quốc tế,quốc gia và có ý nghĩa đối với cuộc sống của HS

Các bài học/chủ đề tích hợp không chỉ được thực hiện giữa các môn học,giữa các nội dung có những điểm tương đồng mà còn được thực hiện giữa các môn ,giữa các nội dung khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.” [3, tr 19-22]

“Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trongviệc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựngchương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xâydựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học

Trang 21

- Thực hiện môn học tích hợp, các quá trình học tập không bị cô lập với cuộcsống hàng ngày, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của HS và được liênhệ vớicác tình huống cụ thể, có ý nghĩa đối với HS Khi đó HS được dạy sử dụngkiến thức trong những tình huống cụ thể và việc giảng dạy các kiến thức không chỉ

là lí thuyết mà còn phục vụ thiết thực cho cuộc sống con người để làm người laođộng, công dân tốt, Mặt khác, các kiến thức sẽ không lạc hậu do thường xuyêncập nhật với cuộc sống

Theo đó khi đánh giá HS, thì ngoài kiến thức còn đánh giá HS về khả năng

sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trong cuộc sống Đây cũng chính làmục tiêu của DHTH

- DHTH giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong cùng mộtmôn học và giữa các môn học khác nhau Đồng thời DHTH giúp tránh những kiếnthức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu riêng rẽ từng môn học, nhưng lại

có những nội dung, kĩ năng mà nếu theo môn học riêng rẽ sẽ không có được Dođó

vừa tiết kiệm thời gian, vừa có thể phát triển kĩ năng/năng lực xuyên môn cho HSthông qua giải quyết các vấn đề phức hợp

- Thực hiện DHTH giúp xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cái ítquan trọng hơn khi lựa chon nội dung Cần tránh đặt các nội dung học tập ngangbằng nhau, bởi có một số nội dung học tập quan trọng hơn vì chúng thiết thực chocuộc sống hàng ngày và vì chúng là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo Từ đócó

thể dành thời gian cho việc nâng cao kiến thức cho HS khi cần thiết

- Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tíchhợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết cácvấn

đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việccác

môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ

Như vậy, DHTH là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao nănglực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải

Trang 22

quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạy học theo hướng tích hợp phát huy đượctính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học.” [3, tr 10]

1.1.4 Các hình thức DHTH

Trang 23

“DHTH được bắt đầu với việc xác định một chủ đề cần huy động kiến thức,

kĩ năng, phương pháp của nhiều môn học để GQVĐ Lựa chọn được một chủ đềmangtính thách thức và kích thích được người học dấn thân vào các hoạt động làđiều cần thiết trong DHTH Có thể đưa ra 3 hình thức của DHTH như sau:

- Lồng ghép/Liên hệ: Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã

hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học củamột

môn học Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên, GV cóthể

tìm thấy mối quan hệ mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận vớinội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ởnhững thời điểm thích hợp

DHTH ở mức độ lồng ghép có thể thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểmtrong tiến trình dạy học Các chủ đề gắn với thực tiễn, gắn với nhu cầu người học sẽ

có nhiều cơ hội để dạy học lồng ghép

- Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh

các chủ đề, ở đó người học cần vận dụng các kiến thức của nhiều môn học đểGQVĐ đặt ra Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ Như vậy, nội dungcác môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống; mặt khác vẫnthực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác nhau qua việc vận dụng các kiếnthức liên môn trong các chủ đề hội tụ Có hai cách thực hiện mức độ tích hợp này:Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kì, cuối nămhoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đề chung và các thànhtựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp HS xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đãđược lĩnh hội

Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ởnhững thời điểm đều đặn trong năm học Nói cách khác, sẽ bố trí xen một số nộidung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho HS quen dần vớiviệc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau Đây là trường hợpphổ biến ở trường phổ thông hiện nay khi chương trình, sách giáo khoa, GV dạy có

sự phân hóa khá rõ rệt giữa các môn học

Trang 24

- Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của DHTH Ở mức độ này, tiến trình dạy học

là tiến trình “không môn học”, nghĩa là nội dung kiến thức trong bài học khôngthuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau, do đó, cácnộidung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ Mức độtích

hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học

Ở mức độ hòa trộn, GV phối hợp qua trình học tập những môn khác nhaubằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn,tạo thành các chủ đề thích hợp

Trong quá trình thiết kế, sẽ có những chủ đề, trong đó, các năng lực cần hìnhthành được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ các nội dung của chủ đề mà không phảichỉ là một nội dung nào đó của chủ đề Các năng lực này chính là các năng lực đượchình thành xuyên môn học

Để thực hiện tích hợp ở mức độ hòa trộn, cần sự hợp tác của các GV đến từcác môn học khác nhau Để lựa chọn và xây dựng nội dung học, GV phải có hiểubiết sâu sắc về chương trình và đặt chương trình các môn học cạnh nhau để so sánh,

để tôn trọng những đặc trưng nhằm dẫn HS đạt tới mục tiêu dạy học xác định,hướng tới việc phát triển năng lực Việc phân tích mối quan hệ giữa cá môn họckhác nhau trong chủ đề cũng như sự phát triển các kiến thức trong cùng môn học

phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp và hợp tác.” [28, tr 16]

1.1.5 Quy trình xây dựng các chủ đề trong DHTH

“Bước 1: Phân tích chương trình, sách giáo khoa để tìm ra các nội dung dạy

học gần giống nhau có gắn kết chặt chẽ tự nhiên với nhau trong các môn học củachương trình, hiện hành; những nội dung liên quan đến vấn đề thời sự của địaphương, đất nước và có thể là những vấn đề nóng đang được quan tâm của toàn cầu

để xây dựng chủ đề/bài học tích hợp

Bước 2: Xác định chủ đề tích hợp, bao gồm tên bài học và lĩnh vực thuộc môn

học nào, đóng góp của các môn đó vào nội dung chủ đề tích hợp sẽ xây dựng và dựkiến thời gian thực hiện chủ đề tích hợp trong dạy học

Bước 3: Xác định mục tiêu của chủ đề tích hợp, bao gồm: kiến thức, kĩ năng,

thái độ, định hướng hình thành và phát triển những năng lực gì cho HS

Trang 25

Bước 4: Xây dựng các nội dung chính trong chủ đề tích hợp liên môn, chú ý đến đặc

điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội dung cho phù hợp

Trang 26

Bước 5: Xây dựng các tiêu chí đánh giá nội dung các chủ đề tích hợp đã xây

dựng và tính hiệu quả của chúng trong việc hình thành và phát triển năng lực cho

HS trong dạy học Đề xuất các cải tiến cho phù hợp với thực tế

Bước 6: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng và các hướng dẫn về nguồn tài liệu

bổ trợ, các phương tiện kĩ thuật cho HS thực hiện nội dung các chủ đề tích hợp Lựachọn các phương pháp dạy học để thực hiện kế hoạch dạy học các chủ đề tích hợp.Thử nghiệm trong dạy học và điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu và các tiêu chíđánh giá chủ đề tích hợp liên môn.” [3, tr 27]

1.1.6 Ưu điểm, nhược điểm của DHTH

ì.1.6.1 Ưu điểm

Các chủ đề tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với HS, có

ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS Học các chủ đề tích hợp,liên môn, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tìnhhuống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Điều quan trọng hơn

là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho HS không phải học lại nhiều lần cùng mộtnội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừakhông có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thứctổng hợp vào thực tiễn

trí thời khóa biểu dạy các chủ đề tích hợp rất khó khăn

- Hệ thống SGK được biên soạn chưa thực sự có tính logic giữa các môn học liênquan nên HS có nhiều khó khăn khi vận dụng kiến thức liên môn trong nhận thức

- Cơ sở vật chất của các trường học còn hạn chế

1.2 Năng lực và năng lực VDKTVTT

1.2.1 Năng lực

ì.2.1.1 Khái niệm năng lực

Trang 27

“Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định.” [28, tr 7]

ì.2.1.2 Các phương pháp đánh giá năng lực

Đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ trong bốicảnh có ý nghĩa Như vậy, đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn sovới đánh giá kiến thức, kĩ năng Muốn đánh giá HS có năng lực ở một mức độ nào

đó, phải tạo cơ hội để các em được GQVĐ trong tình huống, bối cảnh mang tínhthực tiễn Khi đó HS vừa phải vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã được học ởnhà trường trong nhiều bài, nhiều môn, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bảnthân để giải quyết các vấn đề được đặt ra

Qua tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra một số phương pháp đánh giánăng lực:

- Đánh giá trong quá trình học tập: khả năng tiếp cận tình huống gắn liền vớithực tiễn, có bối cảnh; khả năng huy động kiến thức, giải pháp đề xuất GQVĐ

- Đánh giá bằng bài kiểm tra vận dụng kiến thức

- Đánh giá bằng những băn khoăn, thắc mắc, giả thiết của HS trong quá trìnhhọc tập

- Đánh giá bằng sản phẩm khoa học công nghệ mà HS làm ra

ì.2.2.1 Khái niệm năng lực VDKTVTT

Từ khái niệm về năng lực, chúng tôi cho rằng “Năng lực vận dụng kiến thứchóa học vào thực tiễn là khả năng chủ thể vận dụng tổng hợp những kiến thức, kinhnghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú, để giải quyết có hiệu quả các vấn đề củathực tiễn có liên quan đến hóa học.”

ì.2.2.2 Các thành tố và biểu hiện năng lực VDKTVTT

Theo [8, tr 45] chỉ ra cấu trúc và biểu hiện của năng lực VDKTVTT được trình bày như sau:

Bảng 1.1 Cấu trúc và biểu hiện của năng lực VDKTVTT trong môn Hóa học

Trang 28

I.2.2.3 Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển năng lực VDKTVTT cho người học.

- HS tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức được lâu hơn,

hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tiễn, từ đó tăng hứng thú học tập

và tìm hiểu kiến thức

Trang 29

- Kích thích HS tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tiễn đời sống, đặt cácgiả thuyết và nghiên cứu.

- Có kiến thức thực tiễn sẽ thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hànhtrong nhà trường với thực tiễn đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phươngchâm “học đi đôi với hành”

- Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn là cơ sở để HS giải quyết các tìnhhuống trong thực tiễn

I.2.2.4 Tiêu chí đánh giá năng lực VDKTVTT

Để các công cụ đánh giá năng lực có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy choviệc đưa ra các nhận định về năng lực của HS cần phải xây dựng các tiêu chí đánhgiá chất lượng các công cụ này Các tiêu chí được tổng hợp từ các nghiên cứu đãxuất bản như sau:

1 Bài kiểm tra đánh giá phải phù hợp với các mục tiêu học tập và bảng trọng

số chấm điểm phải đo được các mục tiêu này

2 Bài kiểm tra đánh giá phải yêu cầu HS sử dụng quá trình tư duy dựa trênchương trình đào tạo cụ thể

3 Nên sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau Các bài kiểm tra đánh giá nênbao gồm cả câu hỏi dạng trắc nghiệm cho sẵn phương án lựa chọn và các câu hỏitự

luận - trả lời ngắn và tự luận theo dạng bài viết cho phép có nhiều lựa chọn trả lờihoặc HS tự thể hiện năng lực học tập của mình thông qua việc tìm ra kết quả hoặcxây dựng bài viết Nếu đánh giá của GV chỉ dựa trên một loại hình đánh giá thìkhả

năng học tập của HS chưa được đánh giá đầy đủ

4 Đối với môn Hóa học bài kiểm tra thực hành được coi là công cụ tin cậyđánh giá năng lực VDKTVTT

5 HS có thể trình bày vấn đề qua bài tập nhóm, bài tập cá nhân và bài tập kếthợp cả nhóm và cá nhân

1.3 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học theo quan điểm DHTH

1.3.1 Phương pháp dạy học dự án

ì.3.1.1 Khái niệm

Trang 30

Khái niệm DHTDA có thể có nhiều tên gọi (như Dạy học DA, DHTDA, phương pháp DA, PPDHTDA) và định nghĩa khác nhau Trong luận văn, chúng tôisử

dụng tên gọi Dạy học theo dự án

“DHTDA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm

vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện DA, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của DHTDA ” [11, tr 20]

Học theo DA là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức

từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống DA

là một bài tập tình huống mà người học phải giải quyết bằng các kiến thức theo nộidung bài học

- Phát huy tính tự lực, trách nhiệm, sáng tạo của HS

- Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp, mang tính tích hợp

- Phát huy năng lực cộng tác làm việc và kĩ năng giao tiếp ở HS

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn của HS trong hoạt động thực hiện DA

- Phát triển năng lực đánh giá của HS

- Phát triển kĩ năng sử dụng CNTT trong hoạt động bên cạnh việc phát triểncác kĩ năng mềm khác

- Thông qua quá trình thực hiện DHTDA, HS củng cố mối quan hệ (tình bạn)

với nhau trong nhóm, lớp và với GV bộ môn

* Với GV:

- Phát triển được các kĩ năng đánh giá (quan sát, vấn đáp) của GV cả về kiếnthức và năng lực của HS (theo chiều rộng và chiều sâu) Việc đánh giá HS sẽ toàn

Trang 31

diện hơn so với các PPDH khác: đánh giá vì việc học (đánh giá quá trình), trongviệc học (đánh giá đồng đẳng) và về việc học của HS (đánh giá kết quả).

Trang 32

- Quan tâm tới tiềm năng của HS và gắn kết hơn với HS trong dạy học, từ đó

GV thấy yêu nghề hơn

- Tự bồi dưỡng kĩ năng sử dụng CNTT và các phương tiện kĩ thuật hiện đạitrong dạy học

- Luôn có ý thức tìm hiểu và gắn kết kiến thức lí thuyết với thực tiễn, từ đó sẽtạo được bộ tư liệu dạy học ngày càng phong phú, đa dạng, sâu sắc hơn

Hạn chế

Tuy nhiên, DHTDA cũng có những hạn chế và thách thức nhất định:

- Không phải bất kì bài học nào cũng áp dụng được DHTDA DHTDA không

phù hợp trong việc truyền thụ tri thức mang tính hệ thống cũng như rèn luyện hệthống kĩ năng cơ bản

- DHTDA là hình thức bổ sung cho các PPDH truyền thống, không thay thế

cho phương pháp thuyết trình và luyện tập

- DHTDA đòi hỏi phải có thời gian để HS nghiên cứu, tìm hiểu và còn mất

thời gian của cả GV Đây là hạn chế lớn nhất của DHTDA Do vậy đòi hỏi GV

nguyên nhân lí giải vì sao GV ít sử dụng PPDH này ở trường THPT Việt Nam

- Để HS làm việc hiệu quả, GV phải cân đối giữa việc HS họp nhóm gây ồn

ào với việc phải duy trì trật tự

- GV gặp khó khăn trong thiết kế bộ công cụ đánh giá khách quan và chínhxác nhất những mục tiêu học tập và giáo dục

- DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp, đặc biệt cần sựtrợ giúp của CNTT, các phần mềm ứng dụng và mạng Internet, các phương tiện kĩthuật hiện đại (đa phương tiện)

- DHTDA yêu cầu GV phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vàlòng tâm huyết với nghề

1.3.1.3 Quy trình

Trang 33

Quy trình DHTDA theo [11, tr 29-31] bao gồm 6 bước như sau: + Bước 1 Lựa chọn chủ đề DA học tập

+Bước 2 Lập kế hoạch

Trang 34

+ Bước 3 Thu thập thông tin

+ Bước 4 Xử lí thông tin

+ Bước 5 Trình bày kết quả

+ Bước 6 Đánh giá kết quả

Tác giả Đỗ Hương Trà phân chia cấu trúc tiến trình của DHTDA theo 5

bước, thể hiện bằng sơ đồ sau:

Như vậy, cách chia thành 5 bước này cơ bản không khác nhiều so với cách thứnhất, tác giả Đỗ Hương Trà đã gộp phần thu thập và xử lí thông tin của cách phânloại trên vào bước 3 là bước thực hiện DA của HS

Chúng tôi lựa chọn quy trình DHTDA này cho sự vận dụng DHTDA trong dạy

học các chủ đề tích hợp phần Clo và hợp chất chương trình Hóa học 10 - THPT

1.3.2 Phương pháp dạy học hợp tác nhóm

1.3.2.1 Khái niệm

“Trong dạy học nhóm, HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.” [11, tr 39]

Trang 35

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp

tác, dạy học theo nhóm nhỏ Dạy học nhóm không phải một PPDH cụ thể mà là mộthình

thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học Cũng có tài liệu gọi đây làmột hình thức tổ chức dạy học

1.3.2.2 Ưu điểm, nhược điểm

Theo [11, tr 41] đã chỉ ra ưu điểm và nhược điểm của phương pháp DH hợp tác nhóm như sau:

*Ưu điểm: Ưu điểm chính của dạy học nhóm là thông qua cộng tác làm việc

trong một nhiệm vụ học tập có thể phát triển tính tự lực, sáng tạo cũng như năng lực

xã hội, đặc biệt khả năng cộng tác làm việc, thái độ đoàn kết của HS Cụ thể là:

- Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của HS, đồng thời tăng cường sự

tự tin, khắc phục sự thô bạo, cục cằn cho HS, phát triển năng lực cộng tác làmviệc,

năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác,biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm

- HS có thể giúp đỡ lẫn nhau, tạo lập, củng cố các quan hệ xã hội và không cảmthấy phải chịu áp lực từ GV

- Phát triển năng lực phương pháp: giúp HS rèn luyện, phát triển phương pháp làmviệc, phương pháp GQVĐ học tập và thực tiễn

- Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hoá: Thông qua việc lựa chọn nhóm đặt

ra các nhiệm vụ có mức độ khó khăn khác nhau cho từng cá nhân, nhóm hoặc sựphân công công việc trong nhóm

- Dạy học nhóm đòi hỏi thời gian nhiều

- Việc học theo nhóm chưa được luyện tập và HS phụ trách nhóm chưa có kinhnghiệm dễ xảy ra hỗn loạn Kèm theo đó là các hiện tượng “ăn theo”, táchnhóm,

1.3.2.3 Quy trình

Quy trình dạy học nhóm theo [11, tr 39-40] chia thành 3 giai đoạn cơ bản:

1) Nhập đề và giao nhiệm vụ

GV tiến hành những hoạt động chính sau:

- Giới thiệu chủ đề chung của giờ học và những chỉ dẫn cần thiết

- Giao nhiệm vụ và đưa ra mục tiêu cụ thể cần đạt được của các nhóm

Trang 36

- Chia nhóm làm việc: Tuỳ theo mục tiêu dạy học để quyết định cách phân chianhóm.

2) Làm việc nhóm

Trang 37

Các nhóm tự lực thực hiện nhiệm vụ được giao; những hoạt động chính là:

- Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm: cần sắp xếp bàn ghế phù hợp với công việc nhóm,sao cho các thành viên có thể đối diện nhau để thảo luận

- Các nhóm tự lập kế hoạch làm việc: Thảo luận trong nhóm các nhiệm vụ, yêu cầu

và chuẩn bị tài liệu để phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm, lên kếhoạch nhóm rõ ràng, cụ thể, có thời gian cho từng nhiệm vụ, yêu cầu về sản phẩmhọc tập

- Thống nhất quy tắc làm việc chung trong nhóm: Các thành viên đều có sổ nhật kílàm việc, cần tôn trọng ý kiến, biết lắng nghe, chia sẻ và giúp đỡ nhau để hoànthành công việc chung

- Thực hiện giải quyết nhiệm vụ: Đọc kĩ tài liệu => Cá nhân thực hiện công việc đãphân công => Thảo luận trong nhóm về việc trình tự giải quyết nhiệm vụ => Sắpxếp kết quả công việc

- Các nhóm tiến hành báo cáo kết quả trước lớp: Trình bày kết quả của nhóm, phâncông các thành viên trình bày từng vấn đề cụ thể

3) Trình bày và đánh giá kết quả

- Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp

- Kết quả trình bày của các nhóm được đánh giá chéo và rút ra những kết luận choviệc học tập tiếp theo

1.3.3 Phương pháp dạy học theo góc

ì.3.3.1 Khái niệm

“Dạy học theo góc là kiểu tổ chức dạy học trong đó học sinh có thể chiếm lĩnh nội dung kiến thức theo những phong cách khác nhau Mỗi góc sẽ đại diện cho một phong cách học của học sinh.” [28, tr.23]

Mục đích của việc DH theo góc giúp HS được thực hành, tự mình khám phá

và trải nghiệm qua mỗi hoạt động Dạy học theo góc đa dạng về nội dung và hìnhthức hoạt động Dạy học theo góc kích thích HS tích cực học thông qua các hoạtđộng Là một môi trường học tập với cấu trúc được xác định cụ thể

Ví dụ: 4 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo cácphong cách học khác nhau và sử dụng các phương tiện/đồ dùng học tập khác nhau

- Góc quan sát: quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp một hiện tượng tự nhiên,một thí nghiệm, một mô hình để tìm hiểu bản chất đối tượng

Trang 38

- Góc trải nghiệm: thường là các nhiệm vụ thiết kế, chế tạo và tiến hành mộtthí nghiệm để khảo sát quy luật của sự vật, hiện tượng.

- Góc phân tích: thường là đọc tài liệu để phân tích, tổng hợp thông tin vàsuy luận lí thuyết

- Góc áp dụng: xuất phát từ việc vận dụng để giải quyết một nhu cầu thựctiễn dẫn đến việc hình thành kiến thức

I.3.3.2 Ưu điểm và nhược điểm

*Ưu điểm

- HS nghiên cứu sâu và hiệu quả bền vững: HS được tìm hiểu học tập theo cácphong cách khác nhau, theo các dạng hoạt động khác nhau, do đó HS hiểu sâu,nhớ

lâu kiến thức

- Phát triển năng lực giao tiếp, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái củaHS: HS được chọn góc theo sở thích và tương đối chủ động, độc lập trong việcthực

hiện các nhiệm vụ Do đó các em cảm thấy thấy thoải mái và hứng thú hơn

- Tạo được nhiều không gian cho thời điểm học tập mang tính tích cực: cácnhiệm vụ và các hình thức học tập thay đổi tại các góc tạo cho HS nhiều cơ hộikhác nhau( khám phá, thực hành, áp dụng, sáng tạo, chơi ) diều này giúp gâyhứng

thú tích cực cho HS

- Tăng cường sự tương tác cá nhân giữa GV và HS, HS và HS, GV luôn theodõi và trợ giúp, hướng dẫn khi HS yêu cầu Điều đó tạo ra sự tương tác cao giữaGV

và HS, đặc biệt là HS trung bình, yếu Ngoài ra HS còn được tạo điều kiện để hỗtrợ, hợp tác với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập

- Đáp ứng được sự khác biệt của HS về sở thích, phong cách, trình độ và nhịp độ

* Nhược điểm

- Học theo góc đòi hỏi không gian lớp học rộng với số lượng HS vừa phải Nếu

số lượng HS quá đông GV sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức và quản lýcác

hoạt động của HS ở mỗi góc

- Cần nhiều thời gian cho hoạt động học tập

Trang 39

- Không phải bài học/nội dung nào cũng áp dụng được phương pháp học tậptheo góc.

- GV phải có kinh nghiệm tổ chức, quản lí, giám sát hoạt động học tập cũngnhư đánh giá được kết quả học tập của HS

Trang 40

I.3.3.3 Quy trình

* Giai đoạn chuẩn bị

Bước 1: Xem xét các yếu tố cần thiết để học theo góc đạt hiệu quả.

- Lựa chọn nội dung bài học phù hợp (không phải bài nào cũng có thể tổ

chức cho HS học theo góc có hiệu quả)

- Tính toán thời gian học tập phù hợp Việc học tập theo góc không chỉ tínhđến thời gian HS thực hiện nhiệm vụ học tập mà còn cả thời gian GV hướng dẫngiới thiệu, thời gian HS lựa chọn góc xuất phát, thời gian HS luân chuyển góc

Bước 2 : Xác định nhiệm vụ và hoạt động cụ thể cho từng góc.

- Đặt tên các góc sao cho thể hiện rõ đặc thù của hoạt động học tập ở mỗi góc

* Giai đoạn tổ chức cho HS theo nhóm

Bước 1: Sắp xếp không gian lớp học

- Bố trí góc/ khu vực học tập phù hợp với nhiệm vụ, hoạt động học tập và phùhợp với không gian lớp học Việc này cần phải tiến hành trước khi có tiết học

- Đảm bảo có đủ tài liệu phương tiện, đồ dùng học tập cần thiết mỗi góc

- Chú ý đến lối di chuyển giữa các góc

Bước 2: Giới thiệu bài học/ nội dung học tập và các góc học tập

- Giới thiệu tên bài học và nội dung học tập; tên vị trí các góc

- Nêu sơ lược nhiệm vụ mỗi góc, thời gian tối đa thực hiện nhiệm vụ tại các góc

- Dành thời gian cho HS chọn góc xuất phát, GV có thể điều chỉnh nếu có quánhiều HS cùng chọn một góc

GV có thể giới thiệu sơ đồ luân chuyển các góc để tránh lộn xộn Khi HS đãquen với phương pháp học tập này, GV có thể cho HS lựa chọn thứ tự các góc

Ngày đăng: 13/01/2021, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w