Nó có nhiệm vụ trang bị cho sinh viênnhững cơ sở lí luận về quá trình dạy học Tin học, về phương pháp dạyhọc Tin học và về tổ chức quá trình dạy học Tin học.Giáo trình gồm 5 chương: Chươ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦUGiáo trình “Lí luận dạy học Tin học ở trường phổ thông” được biênsoạn nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết đào tạo Cử nhân sư phạm ngành Tinhọc của Trường ĐHSP Vinh Học phần “Lí luận dạy học Tin học ởtrường phổ thông” là học phần đầu tiên trong mảng các môn học vềnghiệp vụ dạy học môn Tin học Nó có nhiệm vụ trang bị cho sinh viênnhững cơ sở lí luận về quá trình dạy học Tin học, về phương pháp dạyhọc Tin học và về tổ chức quá trình dạy học Tin học.
Giáo trình gồm 5 chương:
Chương 1: Đại cương về lý luận dạy học Tin học
Chương 2: Mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Tin học ở trường phổthông
Chương 3: Phương pháp dạy học Tin học ở trường phổ thông
Chương 4: Tổ chức dạy học Tin học
Chương 5: Một số xu hướng cải tiến dạy học vận dụng vào môn TinGiáo trình có thể làm tài liệu học tập cho sinh viên sư phạm chuyênngành Tin học và tài liệu tham khaỏ cho giáo viên Tin học ở trường phổthông
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã nhận được sự cổ vũ và sựđóng góp về nội dung, cách trình bày của các đồng nghiệp trong khoa,đồng thời đã tham khảo, rút trích nhiều tư liệu của các nhà giáo lão thành.Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo về những đóng góp quýbáu để giáo trình được hoàn thành
Mặc dầu đã thể hiện được phần nào sự cân nhắc trong quá trình biênsoạn, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Tác giả mong muốn nhậnđược các ý kiến đóng góp thêm để chỉnh lí, bổ sung, hoàn thiện giáo trìnhnày
Vinh, tháng 8 năm 2000
Trang 2Tác giả
Chương 1
ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ LUẬN DẠY HỌC TIN HỌC
1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA LÍ LUẬN DẠY HỌC TINHỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Cho đến nay người ta cho rằng khoa học giáo dục bao gồm các lĩnh vực chính sau đây: Tâm lí học (chủ yếu là tâm lí học nhận thức, tâm lí học sư phạm), lí luận giáo dục, lí luận dạy học đại cương và lí luận dạy học các bộ môn Do đó lí luận dạy học Tin học được coi như là một bộ phận của khoa học giáo dục Và theo quan điểm đó thì lí luận dạy học Tin học cũng như lí luận dạy học các môn học khác lấy tri thức về tâm lí học, về lí luận giáo dục và về lí luận dạy học đại cương làm nền tảng.
Tuy nhiên, lí luận dạy học Tin học còn phải dựa vào nội dung và phươngpháp nghiên cứu của bộ môn Tin học Từ cơ sở này làm nảy sinh tính đặcthù của lí luận dạy học Tin học so với lí luận dạy học các môn khác
1.1.1 Đối tượng
Lí luận dạy học bộ môn nào đó là sự vận dụng lí luận dạy học đại
cương vào bộ môn ấy Do đó đối tượng của lí luận dạy học bộ môn là nghiên cứu những điều kiện mà trong đó những kiến thức của môn học
đó được xây dựng và nghiên cứu đặc trưng cho những hoạt động giảng dạy các kiến thức đó Tức là nghiên cứu những điều kiện trong đó xuất
hiện những biểu hiện đặc thù của một tri thức cụ thể nào đó, nhằm kiểmsoát nó, mô tả nó, tái tạo nó trong mối quan hệ giữa các hoạt động củathầy và trò, giúp trò nắm được tri thức, chuyển tri thức đó thành tri thứccủa mình
Trang 3Với tư cách là một bộ phận của khoa học giáo dục, lí luận dạy học Tin học có đối tượng nghiên cứu của mình Đó là những đặc trưng, những quy luật của quá trình dạy và học Tin học ở nhà trường phổ thông Một cách bao quát, đối tượng của lí luận dạy học Tin học là lí thuyết biên soạn nội dung chương trình, sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn, tài liệu tham khảo cho việc dạy và học bộ môn Tin học; là nhiệm vụ mà nền giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng giao phó cho môn Tin học và phương pháp để thực hiện chúng thông qua hoạt động dạy học cũng như những hình thức tổ chức quá trình dạy học Tin học ở trường phổ thông Cũng như quá trình dạy học các môn học khác, quá trình dạy học môn Tin học có hai loại nhân vật: thầy và trò, trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo, còn trò giữ vai trò chủ động Từ hai loại nhân vật này nảy sinh
nhiều mối quan hệ: quan hệ giữa thầy với cá nhân trò, giữa thầy với tậpthể trò, giữa cá nhân trò với cá nhân trò
Quá trình dạy học bao gồm việc dạy và việc học mà đối tượng của việc học là nội dung bộ môn Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu
tố của quá trình dạy học như sau:
nội dungmôn học
Trang 4Các thành tố : Thầy giáo, học trò, nội dung môn học và những mốiliên hệ giữa chúng đều được đặt trong điều kiện của môi trường tổ chứcdạy học, môi trường nhà trường Thầy giáo có phương tiện dạy học vàphương pháp dạy học của mình, Từ đó thầy giáo tìm kiếm mô hình phùhợp nhất để chuyển nội dung môn học cho học sinh Học sinh, với nhữngquan niệm, với những tri thức kinh nghiệm của mình về lĩnh vực mà mônhọc đề cập tới và với những điều kiện học tập cụ thể mà chiếm lĩnh cácvấn đề được truyền thụ, biến chúng thành tri thức của mình Nội dung
môn học được quy định trong chương trình bộ môn Có thể coi đây là một mô hình tĩnh về quá trình dạy học, song chưa diễn tả được chi tiết sự hoạt động của các thành tố trong quá trình đó.
Để diễn tả một cách đầy đủ các mặt hoạt động diễn ra trong quá
trình dạy học cần phải tính đến cả sự tương tác giữa các mặt : Mục đích, nội dung và phương pháp dạy học, đây chính là mô hình động của quá trình dạy học Mục đích dạy học là kiểu nhân cách mà xã hội đòi hỏi Nội dung môn học trong trường hợp này là môn Tin học Phương pháp giảng dạy là cách thức hoạt động và ứng xử của thầy để gây nên những hoạt động của trò nhằm đạt được mục đích dạy học Các thành phần cơ bản này tác động lẫn nhau, trong đó mục đích giữ vai trò chủ đạo Nói
mục đích giữ vai trò chủ đạo không có nghĩa là các thành phần khác hoàntoàn thụ động, thật ra mối liên hệ giữa chúng rất biện chứng Trong điềukiện nào đó phương pháp dạy học có thể có tác động tích cực trở lại mụcđích và nội dung dạy học Các mặt này không những tương tác lẫn nhau
mà còn quy định sự vận động của quá trình dạy học
Ngoài ba thành phần cơ bản là mục đích, nội dung và phương pháp,càng ngày, người ta càng chú ý tới một thành phần khác nữa là điều kiệndạy và học Đó là điều kiện về phương tiện dạy học, các điều kiện về tựnhiên, xã hội, chính trị, kinh tế, Đặc biệt với môn Tin học, môn học gắnliền với máy tính điện tử và các điều kiện liên quan tới máy tính điện tử,
Trang 5việc dạy học không thể có hiệu quả cao khi điều kiện này không đạt yêucầu.
+ Xác định mục đích môn Tin học: Để xác định rõ mục đích môn
Tin học, lí luận dạy học Tin học cần phải chỉ rõ:
Cần trang bị cho học sinh những tri thức Tin học nào làm cơ sở để các em sẵn sàng tiếp nhận những tri thức mới về công nghệ thông tin của thời đại và đáp ứng được yều cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Yêu cầu, nhiệm vụ của môn Tin học cho từng cấp học, từng loại trường.
+ Xác định nội dung môn Tin học: Cần phải giải đáp câu hỏi: “Dạy
học những gì trong khoa học Tin học ở nhà trường phổ thông”.
Từ mục đích của môn học các nhà sư phạm Tin học cần căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nước nhà để soạn thảo chương trình bộ môn Tin học Đó là một cấu trúc của hệ thống các tri thức Tin học mà ta phải truyền thụ cho học sinh ở nhà trường phổ thông Những tri thức nào cần được đưa vào cấp học nào, loại trường nào? Việc chọn lọc trong kho
tàng khoa học Tin học những tri thức cần dạy cho học sinh được quy địnhbởi yêu cầu của xã hội Yêu cầu này ngày càng cao nên thường nội dungchương trình Tin học phổ thông phải càng ngày càng cao Mặt khác trong
Trang 6điều kiện công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, Tin học trong nhàtrường phổ thông cần được cập nhật như thế nào để vừa không quá tảicho học sinh mà vẫn giúp các em bắt kịp với thời đại Hoạt động xaydựng chương trình và soạn thảo sách giáo khoa để dạy trong nhà trườngthường do những cơ quan nghiên cứu và chỉ đạo quốc gia và các chuyêngia sư phạm Tin học đảm nhận.
+ Nghiên cứu phương pháp dạy học trong môn Tin học:
Khi đã xác định được “dạy và học” cái gì thì hoạt động “dạy và họcnhư thế nào” là rất quan trọng Bởi vì với giả định rằng, học sinh có vốnkiến thức như chương trình bắt buộc mà không có phương pháp xây dựngkiến thức thì họ vẫn chưa đủ để tự lực và sáng tạo trong hoạt động thựctiễn Do đó việc tìm kiếm phương tiện dạy học và cách thức tổ chức quátrình dạy và học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của lí luận dạyhọc Tin học
Nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học Tin học cũng là nhiệm vụquan trọng Có thể coi hình thức tổ chức dạy học Tin học theo lớp-bài
đang là hình thức được các nhà sư phạm Tin học sử dụng, tuy nhiên trong quá trình dạy học Tin học cần phải sau nghĩ đến
- Dạy học cho từng nội dung trong chương trình như thế nào?
- Làm thế nào để dạy cho học sinh tự học?
- Xây dựng và sử dụng phòng học môn Tin học như thế nào?
- Hình thức sử dụng máy tính điện tử trong dạy học Tin học như thế nào?
- Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tin như thế nào
- Giúp đỡ học sinh kém môn Tin như thế nào
- Có thể sử dụng các hình thức ngoại khoá, dạy học phân hoá không?
Trang 7Ngoài ra do nhu cầu thực tiễn và do điều kiện kinh tế, kỹ thuật pháttriển, đã và đang xuất hiện những hình thức khác của dạy học Tin họcnhư dạy học từ xa, dạy học qua phát thanh truyền hình, dạy học quaInternet, Những hình thức dạy học Tin học này cũng sẽ là đối tượngnghiên cứu của lí luận dạy học Tin học.
Lí luận dạy học Tin học đang còn là ngành khoa học non trẻ, đangdần được đổi mới hoàn thiện Vận dụng sáng tạo những thành tựu củakhoa học giáo dục nói chung vào tực tiễn dạy học Tin học là nhiệm vụcủa mỗi một giáo viên Và qua thực tiễn phong phú không ngừng bổsung, đổi mới để hoàn thiện lí luận, phát triển lí luận là hoạt động mang ýnghĩa khoa học và ý nghĩa cách mạng của các nhá sư phạm Tin học
1.2 NHỮNG CƠ SỞ CỦA LÍ LUẬN DẠY HỌC TIN HỌC
1.2.1 Cở sở Triết học
Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức có sự điều khiển Do
đó việc tổ chức hoạt độngnhận thức trong quá trình dạy học học phải dựatrên cơ sở của lí luận nhận thức mà Triết học đã xây dựng nên Một trongnhững thành tựu quan trọng của triết học về nhận thức đã được nêu lênthành quy luật: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tưduy trừu tượng trở về với thực tiễn” mà Lê nin đã tổng kết Từ đó, vậndụng vào quá trình dạy học để xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản màchúng ta phải tôn trọng
Trong dạy học Tin học ta còn dựa vào thế giới quan và những quyluật biện chứng, vì vậy những luận đề Triết học duy vật biện chứng là cơ
sở của khoa học Tin học cũng như của lí luận dạy học Tin học Nó cungcấp cho ta phương pháp nghiên cứu đúng dắn :xem xét những hiện tượnggiáo dục trong quá trình phát triển và trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn
Trang 8nhau, trong sự mâu thuẫn thống nhất, phát hiện những sự biến đổi sốlơựng dẫn tới những biến đổi chất lơựng v.v
1.2.2 Cơ sở Tâm lí
Sản phẩm chính của Tâm lí học là những quy luật cơ bản của hoạtđộng thần kinh cao cấp, là những quy luật của khoa học tư duy, của líthuyết nhận thức thế giới của con người, nhất là thế hệ trẻ Những quyluật này cũng là cơ sở để xây dựng những nguyên tắc của quá trình dạyhọc Phương pháp dạy học Tin học phải dựa vào những thành tựu củaTâm lí học, đặc biệt là tâm lí học trẻ em, Tâm lí học phát triển và Tâm líhọc học tập để xác định mục đích yêu cầu, nội dung và phương pháp dạyhọc Tin học ở từng lớp, từng cấp
1.2.3 Cơ sở lí luận giáo dục và lí luận dạy học đại cương
Dạy học Tin học vừa có nhiệm vụ truyền thụ tri thức Tin học, vừa cónhiệm vụ giáo dục đạo đức tư tưởng cho học sinh Quá trình dạy học mônTin học là một bộ phận của quá trình giáo dục nói chung, chịu sự chi phốicủa các quy luật giáo dục nói chung Lí luận dạy học Tin học cần phảivận dụng những thành tựu, những kết quả nghiên cứu của Giáo dục học
và lí luận dạy học đại cương ở nước ta và trên thế giới, lấy đó làm cơ sở
để vạch ra những hình thức tổ chức nhận thức, những cách thức lựa chọnphương tiện và phương pháp cho dạy học Tin học
1.2.4 Cơ sở Tin học
Lí luận dạy học Tin học trở thành một lĩnh vực của khoa học giáodục, mang những đặc trưng riêng biệt so với lí luận dạy học các môn họckhác, khi nó dựa vào đặc trưng của khoa học Tin học Trước hết lí luậndạy học Tin học phải bám sát nội dung của Tin học, phải phản ánh vào
Trang 9nhà trường những tri thức và phương pháp phổ thông, cơ sở trong nhữngthành tựu Tin học của nhân loại, sắp xếp chúng thành một hệ thống đảmbảo tính khoa học, tính tư tưởng, tính thực tiễn và tính sư phạm phù hợpvới điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, đáp ứng yêu cầu của cách mạngkhoa học công nghệ ngày nay.
1.2.5 Logic học
Tính logic là phải bắt buộc đối với mọi khoa học Dựa vào Logichọc người ta trình bày những khái niệm một cách chính xác, những lậpluận một cách có căn cứ Trong phương pháp dạy học Tin học, điều đó lạicàng cần thiết vì ngành này liên hệ với nhiều khoa học được xây dựngchặt chẽ như Toán học, Vật lí học, Tin học,v.v
1.2.6 Cơ sở thực tiễn
Lí luận dạy học Tin học đang mới mẽ nhưng đứng trước một thựctiễn phát triển nhanh chóng của khoa học Tin học trên thế giới, một điềukiện kinh tế còn mới bắt đầu phát triển của đất nước Việc giảng dạy mônTin học trong trường phổ thông còn gặp nhiều khó khăn về chương trình,
về trang thiết bị cho phòng học bộ môn, về đội ngũ giáo viên Tin học Đóchính là những cơ sở để các nhà quản lí giáo dục, các chuyên gia sư phạmTin học hoạch định những hình thức tổ chức, lựa chọn phương pháp chodạy học Tin học
1.3 NHIỆM VỤ CỦA BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠYTIN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG SƯ PHẠM
Trang 10Cũng như mọi lĩnh vực khoa học khác, lí luận dạy học Tin học cầnphải luôn luôn phát triển và ngày càng phát triển nhanh chóng để đáp ứngđược yêu cầu của xã hội, trang bị không những cho giáo viên Tin học ởcác trường phổ thông mà còn truyền thụ tri thức và rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm cho sinh viên chuyên ngành Tin học ở các trường CĐSP hoặcĐHSP Vì vậy Bộ môn Phương pháp dạy học Tin học trong trường sưphạm có các nhiệm vụ sau:
1.3.1 Trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản về dạy học môn Tin học
Cần truyền thụ cho giáo sinh trước hết là các tri thức sau:
- Những hiểu biết đại cơưng về lí luận dạy học Tin học với tư cách
là một ngành khoa học và là một môn học trong nhà trường sư phạm.
- Những tri thức cơ bản về mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phương pháp dạy học Tin học, nhất là giúp các em nắm vững chương trình và sách giáo khoa Tin học ở nhà trường phổ thông.
- Những tri thức cụ thể về việc lập kế hoạch dạy học, thiết kế và thi công từng bài học.
1.3.2 Rèn luyện những kĩ năng cơ bản về dạy học môn Tin học cho sinh viên
Rèn luyện cho sinh viên những kĩ năng:
- Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa, sách hướng dẫn giáo viên
và các sách tham khảo.
- Lập kế hoạch dạy học, soạn giáo án cho từng tiết dạy
- Tiến hành một tiết dạy, khả năng bao quát, điều khiển của giáo viên trong từng tiết dạy
- Kĩ năng dạy học thực hành Tin học
Trang 11- Tiến hành các hoạt động ngoại khoá Tin học, bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém.
- Tìm hiểu đối tượng học sinh, những lớp, cấp mà mình sẽ giảng dạy
- Thực hành công tác chủ nhiệm, công tác đoàn thể, hỗ trợ cho công tác giảng dạy.
1.3.3 Bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức cho người giáo viên Tin học.
Thông qua dạy học phương pháp dạy học Tin học, cần làm cho sinhviên thấy rõ vai trò, vị trí của các tri thức và kĩ năng Tin học, cái mới, cáihay, cái khó và tính chất sáng tạo của việc dạy học môn Tin học, từ đónâng cao ý thức trách nhiệm và tình cảm nghề nghiệp Đồng thời rènluyện cho sinh viên những phẩm chất đạo đức cần thiết của ngơừi giáoviên Tin học như: kiên trì, vượt khó, cẩn thận, chính xác, độc lập khaithác cái mớivv.v
1.3.4 Phát triển năng lực tự đào tạo, tự nghiên cứu về lí luận dạy học Tin học cho sinh viên
Kết hợp quá trình đào tạo và tự đào tạo, tăng cường yếu tố tự học,làm nghiên cứu khoa học về lí luận dạy học Tin học
Hướng dẫn sinh viên làm bài tập lớn, tiểu luận, luận văn về đề tài líluận dạy học Tin học
1.3.5 Phối hợp, liên hệ với nhà trường phổ thông
Lí luận dạy học Tin học muốn phát triển được cần luôn bám sát thực tiễn dạy và học Tin học ở trường phổ thông: đúc rút những kinh nghiệm thành công và thất bại của thực tiễn dạy học Tin học Từ đó phát triển và
hoàn thiện lí luận dạy học Tin học
Trang 12Mặt khác bộ môn Phương pháp dạy học Tin học cần phải tổ chứcnhững đợt bồi dưỡng lí luận, hội thảo về phương pháp dạy học Tin họccho giáo viên phổ thông, giúp đội ngũ này cập nhật được những tri thứcmới về khoa học giáo dục nói chung và lí luận dạy học Tin học nói riêng.
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LÍ LUẬN DẠY HỌCTIN HỌC
1.4.1 Cơ sở phương pháp luận
Phép biện chứng duy vật là cơ sở phương pháp luận cho mọi ngànhkhoa học, trong đó có lí luận dạy học Tin học bởi nó khái quát hoánhững sự kiện từ tất cả các khoa học và trên cơ sở đó phát hiện ra nhữngquy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng quyếtđịnh những quan điểm xuất phát, chiến lược nghiên cứu, quyết định việclựa chọn phương pháp nghiên cứu và giải thích kết quả Trong nghiên cứu
lí luận dạy học Tin học cần vận dụng được những tư tưởng cơ bản củaphương pháp duy vật biện chứng là:
- Xem xét những quá trình và hiện tượng trong mối quan hệ nhiềumặt và tác động qua lại giữa chúng
- Xem xét những quá trình và hiện tượng trong sự vận động và pháttriển, vạch ra những bước chuyển hoá từ sự biến đổi về chất sang biến đổi
Trang 13năng lực trí tuệ khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự hoá, trừutượng hoá, với những đặc điểm nhân cách khác nữa như kiến thức, phẩmchấtv.v đồng thời cần nghiên cứu năng lực này trong quá trình vận động,phát triển từ thấp đến cao.
1.4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp thường dùng trong nghiên cứu koa học giáo dụcnói chung và trong lí luận dạy học Tin học nói riêng là : nghiên cứu líluận, quan sát-điều tra, tổng kết kinh nghiệm và thực nghiệm giáo dục
+ Nghiên cứu lí luận: Trong nghiên cứu lí luận người ta dựa vào
những kết quả nghiên cứu có sẵn, những thành tựu của nhân loại trênnhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng trọng tâm là những kết quả nghiên cứu
đã được trải nghiệm của các ngành Giáo dục học, Tâm lí học, Tinhọc, Ngoài ra khi nghiên cứu lí luận dạy học Tin học cũng cần phải vậndụng các văn kiện của đảng và Nhà nước ta
Người ta cũng nghiên cứu cả những kết quả của bản thân lí luận dạyhọc Tin học để kế thừa những cái hay, phê phán và gạt bỏ những cái dởnhằm bổ sung, phát triển và hoàn thiện những nhận thức đã đạt được
Là ngành khoa còn mới mẻ nên việc tìm hiểu tình tình và so sánhquốc tế trên lĩnh vực dạy học môn Tin học giúp ta lựa chọn, xây dựngphương án tác động giáo dục trên cơ sở đánh giá, so sánh tài liệu, cáchlàm của các nước khác nhau
+ Quan sát-điều tra: Quan sát điều tra được sử dụng rộng rãi trong
nghiên cứu giáo dục Điều tra giống quan sát ở chỗ cùng dựa vào kháithác những hiện tượng có sẵn, không chủ đông gây nên những tác động
sư phạm, nhưng qua sát thiên về xuất phát từ những dấu hiệu bên ngoài,còn điều tra có thể khai thác những thông tin bản chất từ bên trong
Quan sát-điều tra giúp ta theo dõi hiện tượng giáo dục theo trình tựthời gian, phát hiện những biến đổi số lượng, chất lượng gây ra do tác
Trang 14động gióa dục Nó giúp ta thấy được những vấn đề thời sự cấp bách đòihỏi phải nghiên cứu hoặc góp phần giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu.
Quan sát-điều tra thực tiến sư phạm như dự giờ, thăm lớp sẽ giúp tanhận thức được thực trạng dạy học môn Tin học, phát hiện được nhữngvấn đề cần nghiên cứu, thu lượm được những dữ liệu phục vụ nhiệm vụnghiên cứu
Quan sát-điều tra cần có mục đích cụ thể, có nội dung cụ thể và cótiêu chuẩn đánh giá cụ thể mới có hiệu quả cao
+ Tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm thực chất là đánh
giá và khái quát kinh nghiệm, từ đó phát hiện ra những vấn đề cần nghiêncứu hoặc khám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật của những hiêntượng giáo dục
Những kinh nghiệm cần được đặc biệt chú ý là kinh nghiệm tiêntiến, kinh nghiệm thành công và kinh nghiệm lặp lại nhiều lần
Tổng kết kinh nghiệm không phải chỉ đơn thuần là trình bày lạinhững công việc đã làm và những kết quả đã đạt được Là một phươngpháp nghiên cứu khoa học, nó phải được tiến hành theo một quy trìnhnghiêm túc
Tổng kết kinh nghiệm phải có lí luận sói sáng thì mới có thể thoátkhỏi những sự kiện lôn xộn, những kinh nghiệm vụn vặt không có tínhphổ biến, mới loại bỏ được ngẫu nhiên, đi sâu vào bản chất của sự vật,hiện tượng, đạt tới những kinh nghiệm có giá trị khoa học Chỉ khi đótổng kết kinh nghiệm mới thực sự là một phương pháp nghiên cứu khoahọc
+ Thực nghiệm giáo dục: Thực nghiệm sư phạm cho phép ta tạo nênnhững tác động sư phạm, từ đó xác định và đánh giá kết quả của nhữngtác động đó Đặc trưng của thực nghiệm giáo dục là nó không diễn ra mộtcách tự phát mà là dưới sự đều khiển của nhà nghiên cứu Nhà giáo dục
tổ chức quá trình giáo dục một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch,
Trang 15tự giác thiết lập và thay đổi những điều kiện thực nghiệm cho phù hợpvới ý đồ và nghiên cứu cuả mình.
Trong những điều kiện cho phép, thực nghiệm giáo dục, cho phép takhẳng định hoặc bác bỏ một giả thuyết khoa học đã nêu
Thực nghiệm giáo dục là một phương pháp nghiên cứu rất hiệu quảsong cũng rất công phu, vì thế ta không nên lạm dụng nó Khi nghiên cứumột hiện tượng giáo dục, trước hết có thể dùng những phương phápkhông đòi hỏi nhiều công sức, ví dụ như nghiên cứu lí luận, quan sát,tổng kết kinh nghiệm Chỉ ở những chỗ những phương pháp này chưa đủsức thuyết phục, chỉ ở một số khâu mấu chốt, ta mới dùng đến thựcnghiệm giáo dục
Thông thường những phương pháp nghiên cứu được sử dụng kết hợpvới nhau Chẳng hạn qua nghiên cứu lí luận, quan sát, tổng kết kinhnghiệm, người ta đề xuất một giả thuyết khoa học, rồi đem thực nghiệmgiáo dục để kiểm nghiệm Sau đó lại dùng lí luận để phân tích kết quả,xác định nguyên nhân và khái quát hoá những điều đã đạt được
Chương 2
MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA BỘ MÔN TIN HỌC
2.1 MỤC TIÊU DẠY HỌC MÔN TIN HỌC
Bộ môn Tin học phải cùng với các bộ môn khác tham gia thực hiệnmục tiêu của nhà trường phổ thông là đào tạo thế hệ trẻ thành nhữngngười lao động có học vấn vững chắc, có nhân cách hoàn thiện và cónăng lực bảo vệ, xây dựng đất nước phồn vinh Là một trong những mônthuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, bộ môn Tin học phải cung cấp nhữngtri thức cơ bản, làm nền tảng để học sinh có thể tiếp tục đi sau vào tìm
Trang 16hiểu và xây dựng khoa học Tin học hoặc tiếp thu những tri thức của cáclĩnh vực kĩ thuật công nghệ tiên tiến, nhất là các lĩnh vực của công nghệthông tin Vì vậy việc xác định mục tiêu dạy học môn Tin học phải xuấtphát từ mục tiêu giáo dục Việt nam, từ đặc điểm và vị trí môn Tin họctrong nhà trường.
2.1.1 Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục Việt nam được Nghị quyết của Hội nghị lần thứhai của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII khẳng định: “ Mụctiêu và nhiệm vụ của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế
hệ gắn bó với tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đứctrong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá củadân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa và văn hoá nhân loại; phát huy tiềmnăng của dân tộc và con người Việt nam có ý thức công đồng và phát huytính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiệnđại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong côngnghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, là những người thừa kế xâydựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng, vừa chuyên như lời căn dặn của BácHồ”
Luật giáo dục nước ta cũng đã cụ thể hoá tại chương II, mục 2 điều
23 là: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàndiện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằmhình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tưcách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lênhoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Môn Tin học, cũng như mọi môn học khác, căn cứ vào mục tiêu trên
để xác định ra những nhiệm vụ cụ thể của môn học, tổ chức hoạt động đào tạo góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và nhà nước đẫ
đề ra.
Trang 172.1.2 Đặc điểm môn Tin học
Việc xác định mục tiêu dạy học môn Tin phải căn cứ đặc điểm mônTin học, bao gồm:
Đặc điểm thứ nhất là tính trừu tượng cao độ và tính thực tiễn phổ dụng:
Tính trừu tượng của Tin học là ở chỗ nó nghiên cứu các phươngpháp công nghệ và kĩ thuật xử lí thông tin một cách tự động Bản thânkhái niệm thông tin đã là trừu tượng, quá trình xử lí thông tin (thu nhập,lưu trữ, biến đổi và truyền nhận) dựa trên những thành tựu của nhữngngành khoa học mang tính trừu tượng cao như Vật lí, Toán học, Lí thuyếtthông tin, vì thế Tin học mang đặc điểm trừu tượng hoá cao độ
Sự trừu tượng hoá trong Tin học diễn ra trên những bình diện khác nhau Có những khái niệm Tin học là kết quả của sự trừu tượng hoá
những đối tượng vật chất cụ thể, chẳng hạn khái niệm biến, khái niệm vềmảng, bản ghi Nhưng cũng có nhiều khái niệm là kết quả của sự trừutượng hoá những cái trừu tượng đã đạt được trước đó, chẳng hạn nhữngkhái niệm tham biến hình thức, mảng có phần tử là mảng, bản ghi
Tính trừu tượng cao độ chỉ che lấp chứ không hề làm mất tính thực tiễn của Tin học Tin học có nguồn gốc thực tiễn Mảng ra đời trước hết
do nhu cầu xử lí thông tin trên những danh sách Bnả ghi ra đời do nhucầu quản lí ghồ sơ nhân sự, vật tư
Tin học học có tính thực tiễn phổ dụng: Là một tiến bộ khoa học mũi nhọn của thời đại, Tin học học nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội Nó cung cấp những phương pháp và cộng cụ hiệu quả giúp con người khai thác và xử lí thông tin, là công cụ phục vụ tất cả các ngành khoa học kỹ thuật, các lĩnh vực kinh tế, quân
sự, chính trị, văn hoá, dich vụ và đặc biệt quan trọng trong công tác quản lí.
Trang 18Ngày nay Tin học, nói rộng hơn là công nghệ thông tin được coi làmột trong những ngành mũi nhọn chiếm vị trí hàng đầu trong chính sáchkinh tế, khoa học và công nghệ ở những nước phát triển Sự phát triểnnhanh chóng của kĩ thuật truyền thông đã đưa đến những chuyển biến tolớn và cơ bản trong công nghệ thiết lập các mạng Tin học về việc hìnhthành trong thực tế các siêu xa lộ cao tốc thông tin như Intranet, Internet.
Đặc điểm thứ hai là tính logic và tính thực nghiệm của Tin học: Khi
xây dựng những phần mềm, hay ngôn ngữ lập trình, người ta dùng suydiễn logic, xuất phát từ những dữ liệu chuẩn người ta xây dựng lên cáccác dữ liệu có cấu trúc
Khi trình bày môn Tin học trong nhà trường phổ thông, do đặc điểmlứa tuổi và yêu cầu của từng cấp học, bậc học, nói chung là vì lí do sưphạm, người ta có thể châm chước, nhân nhượng về tính logic: mô tả(không định nghĩa) một số khái niệm không phải là nguyên thuỷ, thừanhận (không chứng minh) sự đúng đắn của chương trình sau một số phépthử với một số tập dữ liệu Tuy nhiên giáo trình Tin học phổ thông cũngvẫn mang tính logic, hệ thống: trí thức trước chuẩn bị cho tri thức sau, trithức sau dựa vào tri thức trước
vì vậy là một thành phần không thể thiếu của trình độ văn hoá phổ thông của con người mới Về mặt tri thức và kĩ năng, môn Tin học trong nhà trường cần làm cho tất cả mọi học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đều nắm được những yếu tố cơ bản của Tin học, có khả năng ứng dụng
công nghệ thông tin như công cụ học tập và hoạt động, có thể nhanhchóng bước vào những ngành nghề đòi hỏi sử dụng công nghệ này Cụ
Trang 19thể là học sinh có những hiểu biết về Tin học và máy tính điện tử, có kháiniệm về thuật giải và làm quen với tư duy thuật giải Học sinh biết lậptrình để giải những bài toán đơn giản, trước hết là những bài toán trongsách giáo khoa Toán, Lí, Hoá, từ đó chuẩn bị những tri thức kỉ năng vàphong cách làm việc cần thiết để sau này có thể đi sâu hơn về lĩnh vựclập trình Học sinh biết làm việc với một số hệ điều hành, một số phầnmềm như soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, hệ quản trị cơ sở dữ liệu.Ngoài việc tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và
kỉ năng Tin học cần thiết, môn Tin học còn có tác dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, rèn luyện những đức tính, phẩm chất của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, tính kỉ luật, tính phê phán, tính sáng tạo Học sinh thấy rõ hiệu lực mạnh mẽ của công nghệ thông tin và
nhận thức được cần có những phẩm chất nào của người lao động trongthời đại mới
Với những lí do trên, trong trường phổ thông môn Tin học giữ một
vị trí hết sức quan trọng Việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ của môn Tin học không thể không tính tới vị trí của môn học này trong nhà trường phổ thông.
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục chung, căn cứ vào đặc điểm và
vị trí môn Tin học, bộ môn Tin học ở trường phổ thông cần đạt được những mục tiêu cụ thể (hay những nhiệm vụ cụ thể) sau đây:
+ Vũ trang cho học sinh những tri thức, kỉ năng cơ bản, cơ sở của Tin học, từ đại cương về Tin học đến phương pháp lập trình giải các bài
toán trên một ngôn ngữ lập trình nào đó Từ đó làm cho họ có khả năng,
có kỉ năng khai thác những thành tựu mới của khoa học Tin học và vậndụng Tin học vào thực tiễn Tiến thêm một bước nữa, bộ môn Tin họcphải cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về những ứng dụngcủa Tin học vào trong các quá trình công nghệ, trong thông tin liên lạc,
Trang 20trong các quá trình sản xuất, trong quản lí kinh tế, xã hội, Đó chính lànhiệm vụ giáo dưỡng của bộ môn Tin học.
+ Trên cơ sở cung cấp những tri thức cơ bản, có hệ thống, bộ môn Tin học còn phải rèn luyện cho học sinh những năng lực trí tuệ chung
như kỉ năng tư duy trừu tượng, kỉ năng thực hành cần thiết Về tư duy,cần hình thành và phát triển các thao tác chủ yếu: tư duy logic, phân tích,
so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá Về thực hành cần chútrọng đến kỉ năng sử dụng máy tính, kỉ năng vận dụng Tin học vào thựctiễn Cũng cần chú ý luyện tập cho học sinh thói quen gắn liền các thaotác tư duy với các kỉ năng thực hành như là một thể thống nhất trong hoạtđộng nhận thức Nếu làm tốt nhiệm vụ này học sinh có thể tiếp tục tự lựchọc tập một cách thường xuyên, học tập suốt đời một cách có hiệu quả.+ Tin học là khoa học nghiên cứu về thông tin và những quá trình xử
lí thông tin một cách tự động, các quy luật biến đổi thông tin tuân theo
những quy luật tự nhiên Vì vậy thông qua việc dạy Tin học mà hình thành cho học sinh những quan niệm, những phương thức tư duy và hoạt động đúng đắn, phù hợp với những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đồng thời phải làm cho học sinh biết sử dụng các tri thức Tin học
để làm bằng chứng kiểm nghiệm những quan điểm đó Từ đó có đượcnhân sinh quan khoa học trong lối sống, trong sự xây dựng nhân cách củangười lao động, đạo đức phẩm chất của người chiến sĩ đấu tranh cho sựnghiệp giải phóng con người khỏi sự mù quáng, lạc hậu Đây chính lànhiệm vụ giáo dục của bộ môn Tin học
+ Cuối cùng bộ môn Tin học phải đảm bảo chất lượng phổ cập, đồng thời phải có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tin học, cung cấp cho đất nước những nhân tài trong lĩnh vực công nghệ
thông tin
Sau đây sẽ đi sâu phân tích những nhiệm vụ cụ thể đã nêu trên:
2.2 PHÂN TÍCH CÁC NHIỆM VỤ
Trang 212.2.1 Truyền thụ hệ thống tri thức, kỉ năng Tin học-nhiệm
vụ giáo dưỡng của bộ môn Tin học
Hệ thống tri thức Tin học của nhân loại rất phong phú, đa dạng vàngày càng được phát triển Các nhà khoa học và sư phạm Tin học đã căn
cứ vào yêu cầu của xã hội và năng lực nhận thức của học sinh theo từnglứa tuổi và vào chính cấu trúc của Tin học để xây dựng nên chương trình
bộ môn Tin học ở trường phổ thông
Từ chương trình này, với các sách tham khảo, sách hướng dẫn giảngdạy, giáo viên căn cứ vào điều kiện cụ thể của trường lớp mà mình công
tác để truyền thụ cho học sinh một hệ thống vững chắc những tri thức Tin học cơ bản, cơ sở, hiện đại theo tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp, trau dồi cho họ những kỉ năng sử dụng những phần mềm, khả năng vận dụng những hiểu biết Tin học vào việc học tập các môn học khác, vào thực tiễn đời sống; đồng thời cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về những ứng dụng của Tin học vào trong các quá trình công nghệ, trong thông tin liên lạc, trong các quá trình sản xuất, trong quản lí kinh
tế, xã hội,
Học sinh chiếm lĩnh được hệ thống tri thức, rèn luyện được kỉ năng,
đó là cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ khác
Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này ta cần lưu ý những điểm sau:
+ Truyền thụ những dạng khác nhau của tri thức: Người ta thường
phân biệt 4 dạng tri thức
- Tri thức sự vật
- Tri thức phương pháp
- Tri thức chuẩn
- Tri thức giá trị
Trang 22Tri thức sự vật trong môn Tin học thường là một khái niệm (ví dụ như khái niệm biến), một câu lệnh (chẳng hạn câu lệnh lặp với điều kiện
cho trước)
Tri thức phương pháp liên hệ với hai loại phương pháp khác nhau
về bản chất: những phương pháp có tính chất tìm đoán( chẳng hạn phương pháp phân tích, tương tự, quy lạ về quen, ) Những phương pháp có tính chất thuật toán như phương pháp sắp xếp, phương pháp
đệ quy,
Tri thức chuẩn thường liên quan với những chuẩn mực nhất định,
chẳng hạn viết một chương trình theo cấu trúc mà ngôn ngữ lập trình quyđịnh, truyền tham số thực sự tương ứng với các tham sứ hình thức v.v
Tri thức giá trị thường có nội dung là những mệnh đề, chẳng hạn
“Tin học có vai trò quan trọng trong khoa học và công nghệ cũng nhưtrong đời sống”
Trong dạy học Tin học, người giáo viên cần coi trọng đúng mức cácdạng tri trức khác nhau, tạo cơ sở cho việc thực hiện giáo dục toàn diện
Đặc biệt ta có thể nói tri thức phương pháp ảnh hưởng trực tiếp tới việc rèn luyện kỉ năng, tri thức giá trị làm nền tảng cho việc giáo dục chính trị.
+ Hình thành kỉ năng trên những bình diện khác nhau: Do tính trìu
tượng nhiều bình diện của Tin học trong dạy học Tin học cần rèn luyệncho học sinh những kỉ năng trên những bình diện khác nhau:
- Kỉ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Tin học;
- Kỉ năng vận dụng tri thức Tin học vào những môn học khác;
- Kỉ năng vận dụng Tin học vào đời sống
Kỉ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Tin học là một sự thểhiện mức độ thông hiểu tri thức Tin học Chỉ khi thông hiểu những trithức Tin học mới có thể vận dụng chúng để làm Tin học
Trang 23Kỉ năng vận dụng tri thức Tin học vào những môn học khác thể hiệnvai trò công cụ của Tin học đối với những môn học khác, thường lànhững môn khoa học tự nhiên.
Kỉ năng vận dụng Tin học vào đời sống là mục tiêu quan trọng củamôn Tin, nó cũng giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa Tin học vớithức tiễn đời sống
+ Làm nổi bật những mạch tri thức, kỉ năng xuyên suốt chương trình: Dạy học môn Tin học không chỉ dừng lại việc truyền thụ những tri
thức lẻ tẻ, rèn luyện những kỉ năng riêng biệt cho học sinh như dạy một
vài phần mềm ứng dụng mà phải thường xuyên chú ý những hệ thống tri thức, kỉ năng tạo thành những mạch xuyên suốt chương trình chẳng hạn:
- Các cấu trúc điều khiển chương trình;
- Các thuật giải sắp xếp, tìm kiếm,
- Khai thác các tiến bộ trong Tin học
Cách làm này giúp học sinh ý thức được toàn bộ hệ thống tri thức,tránh tình trạng học lệch, chỉ nhìn thấy những tri thức cần thiết trước mắt
2.2.2 Hình thành và phát triển năng lực trí tuệ chung
Tri thức Tin học ngày càng nhiều, thời gian dạy học Tin học không
được tăng lên Để giải quyết mâu thuẫn này, cần phải thông qua dạy tri thức Tin học mà dạy học sinh cách tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách tự lực Ngoài ra, yêu cầu vận dụng tri thức vào việc sáng tạo của
học sinh phải được phát triển
Nhiệm vụ hình thành và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinhđược thực hiện bằng con đường trực tiếp truyền thụ tri thức và kĩ năngTin học và bằng con đường gián tiếp thông qua cách dạy các tri thức Tinhọc Con đường thư hai này đòi hỏi giáo viên không chỉ phải nắm vữngnội dung Tin học mà còn phải rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Có như vậy
Trang 24giáo viên mới có khả năng đề xuất những mẫu của tư duy logic, tư duybiện chứng và sáng tạo để cho học sinh noi theo.
Nội dung chủ yếu của nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực trí tuệ chung bao gồm các mặt sau đây:
+ Hình thành và phát triển tư duy logic, năng lực sử dụng ngôn ngữchính xác Do đặc điểm của khoa học Tin học, môn Tin học có tiềm năngquan trọng có thể khai thác để hình thành và rèn luyện cho học sinh tưduy logic Nhưng tư duy không thể tách rời ngôn ngữ, nó phải diễn ra vớihình thức ngôn ngữ, được hoàn thiện trong sự trao đổi bằn ngôn ngữ củacon người, và ngược lại ngôn ngữ được hình thành nhờ có tư duy
Việc phát triển tư duy logic và ngôn ngữ chính xác ở học sinh thôngqua môn Tin học có thể thực hiện theo ba hướng liên quan chặt chẽ vớinhau:
- Làm cho học sinh nắm vững, hiểu đúng và sử dụng những liên kết
logic và, hoặc, nếu thì, phủ định, những lượng từ tồn tại và khái quát,
- Phát triển khả năng hiểu chương trình, trình bày lại và độc lập tiếnhành xây dựng chương trình
- Làm cho học sinh hiểu và vận dụng các thuật giải
+ Phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng Tác dụng phát triển
tư duy của môn Tin học không phải chỉ hạn chế ở sự rèn luyện tư duylogic mà còn ỏ sự phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng Muốnkhai thác khả năng này, người giáo viên cần lưu ý:
- Làm cho học sinh quen và có ý thức sử dụng những quy tắc suyđoán như xét tương tự, khái quát hoá, quy lạ về quen, Tuy nhiên suyđoán phải có căn cứ, dựa trên những quy tắc, kinh nghiệm nhất định
- Tập luyện cho học sinh khả năng hình dung được những đối tượng
và quan hệ giữa chúng và làm việc với chúng dựa trên những dữ liệu vàcách tổ chức chương trình
Trang 25+ Hình thành và phát triển những thao tác tư duy quan trọngnhư :phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá,
Phân tích là tách (trong tư tưởng) một hệ thống thành những vật, tách một vật thành những bộ phận riêng lẽ Tổng hợp là liên kết (trong tư
tưởng) những bộ phận thành một vật, liên kết nhiều vật thành một hệthống Phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy trái ngược nhau nhưng
là hai mặt của một quá trình thống nhất Chúng là hai thao tác cơ bản củaqua trình tư duy Những thao tác tư duy khác có thể coi là những dạngxuất hiện của phân tích và tổng hợp
Trừu tượng hoá là tách những đặc điểm bản chất khỏi những đặcđiểm không bản chất Đương nhiên sự phân biệt bản chất và không bảnchất ở đây mang ý nghĩa tương đối, nó phụ thuộc vào mục đích hànhđộng Khái quát hoá là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập hợplớn hơn chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số trong các đặcđiểm chung của các phần tử của tập hợp xuất phát Như vậy ta thấy ngayrằng trừ tượng hoá là điều kiện cần của khái quát hoá
Cùng với phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, trongmôn Tin học học sinh còn phải thường xuyên thực hiện các phép tượng tựhoá, so sánh, do đó có điều kiện rèn luyện cho họ những thao tác trí tuệnày
Việc thực hiện một số trong các thao tác trí tuệ trên có thể đượcminh hoa qua ví dụ xây dựng thuật giải chọn trực tiếp để sắp xếp mảngmột chiều A có n phần tử là những số thực theo thứ tự tăng dần
Thao tác phân tích: chia công việc ra n bước:
Bước 1: Tìm chỉ số phần tử có giá trị nhỏ nhất trong các phần tử từ 1đến n Sau đó ta đổi chỗ phần tử này cho phần tử thứ 1 Việc này đượcthực hiện như sau:
Cho k=1;
Cho j chạy từ 1 đến n nếu A[k]>A[j] thì gán k=j;
Trang 26Đổi chỗ A[k] cho A[1]
Bước 2: Tìm chỉ số phần tử có giá trị nhỏ nhất trong các phần tử từ 2đến n Sau đó ta đổi chỗ phần tử này cho phần tử thứ 2 Việc này đượcthực hiện như sau:
Cho k=2;
Cho j chạy từ 2 đến n nếu A[k]>A[j] thì gán k=j;
Đổi chỗ A[k] cho A[2]
Bước 3: Tìm chỉ số phần tử có giá trị nhỏ nhất trong các phần tử từ 3đến n Sau đó ta đổi chỗ phần tử này cho phần tử thứ 3 Việc này đượcthực hiện như sau:
Cho k=3;
Cho j chạy từ 3 đến n nếu A[k]>A[j] thì gán k=j;
Đổi chỗ A[k] cho A[3]
Thao tác tương tự: Các bước còn lại từ bước 4 đến bước n tương tựnhư ba bước trên
Thao tác khái quát: Khái quát cho bước thứ i
Bước i: Tìm chỉ số phần tử có giá trị nhỏ nhất trong các phần tử từ iđến n Sau đó ta đổi chỗ phần tử này cho phần tử thứ i Việc này đượcthực hiện như sau:
Cho k=i;
Cho j chạy từ i đến n nếu A[k]>A[j] thì gán k=j;
Đổi chỗ A[k] cho A[i]
Thao tác tổng hợp: Thao tác tổng hợp cho cả n bước và dựa vào kếtquả khái quát tại bước thứ i nào đó, ta cho i chạy từ 1 đến n và ứng vớimỗi i ta làm như trên, ta sẽ có được thuật giải chọn tực tiếp để sắp xếpmảng A
Trang 27Thao tác tưởng tượng: hình dung quá trình làm việc của chươngtrình tại một bước thứ i, ta nhận thấy rằng ta đã gán k=i, mà ta lại cho jchạy từ i đến n thì ngay lần so sánh đầu tiên A[k]>A[j] lại chính là sosánh A[i]>A[i] thì bao giờ kết quả cũng sai, tức là ta để tồn tại một thaotác thừa Vậy ta phải cho j chạy từ i+1 đến n
Thao tác tưởng tượng quá trình làm việc của chương trình từ bướcthứ 1 đến bước thứ n , ta nhận thấy răng ở bước thứ i ta đã đưa đượcphần tử nhỏ nhất trong các phần tử từ i đến n về vị trí thứ i, tức là phần
tử nhỏ thứ i về vị trí thứ i Như vây khi i chạy đến n-1 thì ta đã đưa đượcphần tử nhỏ thứ n-1 về vị trí n-1 Phần tử cuối cùng (vị trí n) là phần tửlớn nhất không cần phải đổi chỗ cho chính nó Vậy ta chỉ cần cho i chạy
từ 1 đến n-1 là đủ
2.2.3 Giáo dục tư tưởng và hình thành nhân cách cho học sinh
Giáo dục tư tưởng và hình thành nhân cách cho học sinh là nhiệm
vụ giáo dục trong nhà trường Mọi hoạt động trong nhà trường, kể cả hoạtđộng dạy học ở mọi bộ môn đều phải góp phần thực hiện nhiệm vụ này.Bởi vì nhiệm vụ này đồng thời là một trong những mục tiêu của nhàtrường, còn mọi hoạt động, kể cả hoạt động dạy học là phương thức, làphương tiện để đạt được mục tiêu đó Tin học là một trong những mônkhoa học tự nhiên , có khả năng ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vựckhoa học, kỉ thuật, đời sống Do đó bộ môn Tin học phải đóng vai trò tolớn trong việc giáo dục những quan điểm triết học về khoa học tự nhiên,giáo dục những nét nhân cách cơ bản như thái độ với những thành tựukhoa học, tình yêu đối với lao động
Cũng như các bộ môn khác, quá trình dạy học môn Tin học phải làmột quá trình thống nhất giữa dạy chữ và dạy người Để làm được việcnày, người giáo viên Tin học một mặt phải thực hiện phần nhiệm vụchung giống như giáo viên các bộ môn khác, nhưng mặt khác còn cần
Trang 28phải khai thác khả năng của nội dung môn để góp phần vào việc thựcnhiện mục tiêu của nhà trường.
+ Giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh
Đây là nội dung thứ nhất của nhiệm vụ giáo dục Nội dung này baogồm việc giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, hình thành vàcủng cố ở học sinh những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
từ đó học sinh có được những cơ sở khoa học cho việc xác định lí tưởng
và niềm tin vào chính bản thân mình, vào cộng đồng xã hội và xa hơn họ
có được những cơ sỏ vững chắc cho việc hình thành và khẳng định nhâncách của mình
- Giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩ xã hội Trong phạm vi mônTin học có thể thực hiện nhiệm vụ này theo các cách:
· Đưa những số liệu về công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc vàonhững đề Tin trong những trường hợp có thể được, chẳng hạn những bàitoán có nội dung thực tế
· Giáo dục lòng tự hào về tiềm năng Tin học của đất nước Tiềmnăng này bộc lộ rõ ràng đến mức thế giới phải thừa nhận rằng các bạn treViệt nam rất thông minh và đạt được thành tích cao trong các kì thi Tinhọc quốc tế Việc dùng tiếng mẹ đẻ trong dạy học và nghiên cứu cũng làmột niềm tự hào dân tộc
- Hình thành và củng cố cho học sinh những quan điểm của chủnghĩa duy vật biện chứng: Đây là những quan điểm ngày càng tỏ rõ sựđúng đắn của triết học Mác-Lê nin trong việc nhận thức thế giới tự nhiên
Có thể thực hiện nhiệm vụ trên trong quá trình dạy học môn Tin như:
· Làm cho học sinh thấy rõ mối liên hệ giữa Tin học và thực tiễn, cụthể là thấy rõ Tin học là một dạng phản ánh thực tế khách quan, thấy rõnguồn gốc, đối tượng và công cụ của Tin học, qua đó hiểu được bản chấtcủa những sự trừu tượng
Trang 29· Làm cho học sinh ý thức được những yếu tố của phép biện chứng,chẳng hạn tính vật chất của thế giới; tính vận động có quy luật của thếgiới vật chất; mối liên hệ tương hỗ giữa các các sự kiện trong thế giới tựnhiên.
+ Giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học Tin học
Nhiệm vụ giáo dục phải đạt tới sự hình thành và phát triển nhâncách cho học sinh, tức là đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động
có tri thức và có đạo đức Một số nét cơ bản của đạo đức của thế hệ họcsinh cần được hình thành trong dạy học môn Tin học như sau:
· Niềm tin vào năng lực nhận thức thế giới ngày càng sâu sắc củacôn người Sự phát triển như vũ bão của khoa học Tin học đã chứng minhđiều đó Con người đã làm nên những điều thần kì mà không lâu trước đónhư là điều thần bí: chế tạo những máy tính điện tử giải những bài toánvượt quá khả năng của con người, xây dựng các siêu xa lộ cao tốc thôngtin như Intranet, Internet v v
· Sự yêu thích môn Tin học nói riêng và tình yêu khoa học nóichung Từ chỗ có được niềm tin vào năng lực nhận thức của con người vàsức mạnh của tri thức khoa học, của tri thức Tin học, cần phải làm xuấthiện và phát triển những cảm xúc tốt đẹp lành mạnh đối với các thành tựukhoa học Đó là sự say mê, trân trọng đối với các thành quả nghiên cứu,đối với những tấm gương sáng tạo và sự yêu thích, say mê vượt khó đểhọc tốt môn Tin học, để sáng tạo trong việc vận dụng tri thức Tin học vàothực tiễn
· Sự chân thực và sự phê phán, tính chính xác, thói quen kiểm tratrong khoa học Tin học giúp học sinh có những phẩm chất đó trong họctập Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc tiếp nhận tri thức Tin học
mà cả đối với xã hội, những phẩm chất không thể thiếu của người laođộng mới
Trang 302.2.4 Bảo đảm chất lượng phổ cập, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu về Tin
Việc đảm bảo chất lượng phổ cập xuất phát từ yêu cầu khách quancủa xã hội và khả năng thực tế cuả học sinh Một mặt, xã hội đòi hỏi mỗihọc sinh ra trường phải đảm nhiệm việc lao động xây dựng và bảo vệ tổquốc, nếu cơ sở Tin học không vững sẽ ảnh hưởng tới năng suất lao động,tới hiệu suất công tác Mặt khác những nghiên cứu của nhiều nhà tâm líhọc khẳng định rằng mọi học sinh có sức khoẻ bình thường đều có thểtiếp thụ một nền văn hoá phổ thông, trong đó có học vân Tin học phổthông Hiện tượng có không ít học sinh kém Tin ở trường phổ thông là donhiều nguyên nhân chứ không phaỉ do việc dạy Tin đòi hỏi ở học sinhmột năng khiếu đặc biệt, một trí thông minh khác thường Người giáoviên Tin học có thể và cần phải làm cho học sinh chiếm lĩnh được nhữngtri thức và kĩ năng Tin học cơ bản quy định trong chương trình Đó lànhiệm vụ bảo đảm chất lượng phổ cập
Tuy nhiên, không phải tất cả học sinh đều có khả năng trở thànhnhững nhà Tin học Trong số học sinh, một số có năng khiếu về Tin Pháthiện và bồi dưỡng những mầm mống nhân tài này là rất cần thiết, rấtquan trọng, bởi vì đất nước ta đang rất cần những nhà Tin học xuất sắcgóp phần xây dựng nền Tin học Việt nam, góp phần công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Vì thế giáo dục năng khiếu ngày càng được khẳngđịnh như một yếu tố thời đại Giáo dục Tin học trong nhà trường phổthông cần góp phần thực hiện nhiệm vụ này
2.3 Mối quan hệ giữa các nhiệm vụ
Các nhiệm vụ trên không tách rời nhau mà trái lại, chúng có mốiquan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm hình thành ởngười học sinh thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, năng lựcnhận thức và hành động, động cơ đúng đắn và lòng say mê học tập, lao
Trang 31động, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Điều đó thể hiện sự thống nhất giữadạy chữ và dạy người, giữa dạy học và phát triển.
Mối quan hệ giữa các nhiệm vụ thể hiện như sau:
+ Tính toàn diện của các nhiệm vụ: Các nhiệm vụ nêu trên là nhữngphương diện khác nhau cua một thể thống nhất, thể hiện tính toàn diệncủa nhiệm vụ dạy học môn Tin học Điều này lưu ý người giáo viên quantâm tới các phương diện của nhiệm vụ, tránh tình trạng đơn thuần truyềnthụ tri thức, không chú ý phát triển tư duy sáng tạo và giáo dục tư tưởngchính trị, phẩm chất đạo đức
+ Vai trò cơ sở của tri thức: Tri thức là cơ sở để rèn luyện kỉ năng vàthực hiện các nhiệm vụ khác Không nên hiểu “cơ sở” là quan trọng hơncác nhiệm vụ khác mà chỉ có nghĩa là nếu không truyền thụ thức thìkhông thể thực hiện các nhiệm vụ khác Từ đó phải chú trọng việc truyềnthụ đúng khối lượng kiến thức mà chương trình quy định, không cắt xén,không coi trọng phần này, xem nhẹ phần khác, Tuy nhiên cũng cần phảitránh xu hướng sai lầm là gia tăng khối lượng tri thức, làm quá tải đốivới học sinh
Với tư cách là cơ sở của giáo dục Tin học, tri thức có quan hệ mậtthiết với các nhiệm vụ dạy học Tin học Đặc biệt những tri thức phươngpháp liên quan chặt chẽ với việc rèn luyện kĩ năng, những tri thức giá trị(đánh giá vai trò của một hoạt động, tầm quan trọng của một tri thức, )nhiều khi có liên hệ với việc gây động cơ hoạt động, điều đó cũng ảnhhưởng tới việc rèn luyện kỉ năng, phát triển năng lực trí tuệ hoặc bồidưỡng thế giới quan
Cùng với vai trò cơ sở của tri thức, cần thấy rõ tầm quan trọng của
kỉ năng Sự nhấn mạnh này đặc biệt cần thiết đối với môn Tin học vìmôn này được coi là môn học công cụ do đặc điểm và vị trí của nó trongnhà trường phổ thông, vì vậy cần nhấn mạnh vào việc vận dụng tri thức
và rèn luyện kỉ năng
Trang 32+ Sự thống nhất của các nhiệm vụ trong hoạt động: Cần hướng vàohoạt động của học sinh trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Việctruyền thụ một kiến thức, rèn luyện một kỉ năng, kỉ xảo, phát triển mộtnăng lực, hình thành một phẩm chất cũng là nhằm giúp học sinh tiến hànhmột hoạt động nào đó trong học tập cũng như trong đời sống Nhờ đó cácnhiệm vụ về các mặt khác nhau được thống nhất trong hoạt động, điềunày thể hiện mối liên hệ hữu cơ giữa các nhiệm vụ đó Tri thức, kỉ năng,
kỉ xảo, năng lực trí tuệ và niềm tin một mặt là điều kiện và mặt khác làđối tượng biến đổi của hoạt động Hướng vào hoạt động một cách đúngđắn không hề làm phiến diện nhiệm vụ dạy học mà trái lại còn đảm bảotính toàn diện của nhiệm vụ đó
Chương III
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ
THÔNG
3.1 KHÁI NIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Dạy học là một hoạt động có tính đặc thù của con người Hoạt độngnày có đặc tính nổi bật, đó là một hoạt động nhận thức Trong thực tế,hoạt động nhận thức diễn ra trước tuổi đến trường, ở mọi nơi và suốt đờicho tất cả mọi người Tuy nhiên ở trong nhà trường, hoạt động nhận thứcđược tổ chức và có định hướng, được điều khiển và kiểm tra chặt chẽ Nódiễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học các bộ môn khoa học Khi bàn vềphương pháp dạy học trong trường phổ thông ta chỉ giới hạn ở quá trìnhdạy học
Quá trình dạy học trước hết là quá trình hoạt động nhận thức Do đómuốn hiểu được phương pháp dạy học cần nghiên cứu hoạt động phươngpháp hoạt động nhận thức (gọi tắt là phương pháp ) đã được khái quáthoá trong triết học
Trang 33Mọi hoạt động của con người đều có mục đích và đối tượng (hay nộidung) Căn cứ vào mục đích mà tìm kiếm phương tiện và cách sử dụng nó
để tác động lên đối tượng làm cho đối tượng biến đổi, tức là tìm kiếmphương pháp hoạt động Hoạt động nhận thức có mục đích là hiểu biếtđược thế giới xung quanh Thế giới đó là nội dung của hoạt động nhậnthức, sông định nghĩa gọn và tổng quát nhất có lẽ là định nghĩa do Hegelnêu lên: “Phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bêntrong của nội dung” (Theo V.I Lê-nin, “Bút kí triết học”, trang 105)
Từ định nghĩa này, ta thấy “phương pháp” có hai mặt: mặt kháchquan và mặt chủ quan Mặt khách quan là những quy luật chi phối sự tồntại và phát triển của nội dung, của đối tượng Con người phải nắm vữngmặt khách quan của phương pháp Đó là điều kiện cần để phương pháptrở nên hiệu nghiệm Đó là thính chân thực của phương pháp Thườngthì mặt khách quan của phương pháp ít được chú ý tới Đó là điều nguyhiểm, vì nó làm ta hiểu lệch lạch về phương pháp hoạt động nói chung,hoạt động nhận thức nói riêng
Mặt chủ quan của phương pháp là hoạt động tìm kiếm biện pháp, thủthuật để tác động lên đối tượng Đây là điều kiện đủ để phương pháp cótính hiệu nghiệm Chỉ khi tác động phù hợp với quy luật phát triển củađối tượng thì nó mới biến đổi theo sự chờ đợi của ta Do đó chỉ có hiểuđối tượng (hiểu đúng mặt khách quan) thì mới có hi vọng tìm được biệnpháp tác động chính xác (có sự đúng đắn của mặt chủ quan) Thôngthường mặt chủ quan của phương pháp hay được để ý nhiều Đây là điềukhông nên, bởi vì nó làm ta hiểu lệch lạc về cấu trúc của khái niệmphương pháp
Như vậy có thể hiểu phương pháp là con đường, là cách thức hànhđộng để đạt được mục đích Con đường (hay cách thức) hành động đóbao gồm hai mặt: nghiên cứu và tìm hiểu các quy luật khách quan của sựtồn tại và phát triển của đối tượng; và tìm phương tiện, biện pháp, thủthuật tác động cho đối tượng biến đổi theo mục đích đã định Hai mặt đó
Trang 34phải phù hợp, phải thống nhất với nhau thì phương pháp mới có hiệulực.
Vận dụng những điều cơ bản trên đây về “phương pháp hoạt động“vào việc phân tích khái niệm phương pháp dạy học, trước hết phải thấyrằng đay là một hoạt động phức tạp, gồm hoạt động dạy và hoạt độnghọc Đối tượng của hoạt động dạy là học sinh và nội dung khoa học củacác môn học Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên Mục đích của hoạtđộng dạy là: học sinh nắm vững nội dung môn học và có nhân cách pháttriển, có đạo đức và có năng lực hành động Hoạt động học có đối tượng
là nội dung môn học, có chủ thể là học sinh Mục đích học và much đíchdạy là cơ bản trùng nhau Chính sự trùng nhau này nên ta hi vọng có thểđưa học sinh vào chủ thể không những của hoạt động học, mà cao hơnnữa-chủ thể của hoạt động dạy học Tức là ta muốn nâng cao tính tích cựchoạt động của học sinh trong hoạt động học đến mức cao nhất Nếu làmđược như vậy thì chính phương pháp dạy học đã làm biến đổi quá trìnhđào tạo thành quá trình tự đào tạo Nhưng điều lí tưởng này chỉ thực hiệnđược ở một số bài học, một số khâu của quá trình dạy học và ở những bậchọc nhất định Ngay cả khi tạo được vị thế là chủ thể của hoạt động dạyhọc cho học sinh thì người thầy vẫn là chủ thể chính của hoạt động đó ởmức độ cao hơn- ở vai trò theo dõi, tổ chức, điều khiển và cố vấn
Từ những phân tích trên đây, có thể định nghĩa: “Phương pháp dạyhọc là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh trong sự phối hợpthống nhất với nhau dưới dự chỉ đạo của giáo viên, nhằm làm cho họcsinh tự giác, tích cực tự lực đạt được mục đích dạy học” (Nguyễn NgọcQuang, Lí luận dạy học đại cương, 1989)
3.2 TỔNG THỂ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Cùng với việc xây dựng khái niệm phương pháp dạy học, người tanghiên cứu hình thành một hệ thống phân loại các phương pháp dạy học.Hiện nay có nhiều hệ thống như vậy nhưng chúng chưa hoàn chỉnh và
Trang 35chưa đạt được sự thống nhất trên phạm vi quốc tế Sở dĩ như vậy là dotính nhiều chiều của phương pháp dạy học Tuỳ theo xét về phương diệnnày hay phương diện khác, ta có thể liệt kê các phương pháp dạy học theocách này hay cách khác.
Một hệ thống chặt chẽ về mặt logic không phải là không thể xâydựng được, nhưng một hệ thống như vậy chưa chắc đã có giá trị trongthực tiễn Vấn đề quan trọng là ở chỗngười giáo viên biết xem xét cácphương diện khác nhau, thấy được các phương pháp dạy học về từngphương diện đó, biết lựa chọn, sử dụng những phương pháp cho đúnglúc, đúng chỗ và biết vận dụng phối hợp một số trong các phương pháp
đó khi cần thiết
Xuất phát từ lí do trên, giáo trình không đặt yêu cầu xây dựng một
hệ thống phân loại phương pháp dạy học chặt chẽ về mặt logic, mà chỉgiới thiệu những phương pháp dạy học về nhiều phương diện khác nhau,
để người giáo viên nắm được tổng thể các phương pháp đó
Xuất phát từ lí do trên, giáo trình không đặt yêu cầu xây dựng một
hệ thống phân loại phương pháp dạy học chặt chẽ về mặt logic, mà chỉgiới thiệu những phương pháp dạy học về nhiều phương diện khác nhau,
để người giáo viên nắm được tổng thể các phương pháp đó
Với yêu cầu như vậy, có thể trình bày các phương pháp dạy họcthành một tổng thể theo các phượng diện sau đây:
a- Các chức năng điều hành quá trình dạy học:
- Tạo tiền đề xuất phát
- Hướng đích và gợi động cơ
- Làm việc với nội dung mới
- Củng cố
- Kiểm tra và đánh giá
- Hướng dẫn công việc ở nhà
Trang 36b- Các con đường nhận thức
- Suy diễn
- Quy nạpc- Các hình thức hoạt động bên ngoài của thầy và trò
- Giáo viên thuyết trình
Dạy học phân hoá lại được chia thành dạy học phân hoá nội tại( phân hoá trong) và dạy học phân hoá về tổ chức (phân hoá ngoài)
Trong các hình thức dạy học phân hoá ngoài, ta có thể kể: hoạt độngngoại khoá, lớp chuyên, nhóm học sinh yếu kém v.v
e- Các phương tiện dạy học
- Sử dụng phương tiện nghe nhìn
- Sử dụng tài liệu chương trình hoá
- Làm việc với sách giáo khoa
- Sử dụng máy tính điện tử
g- Các tình huống dạy học điển hình
Trong môn Tin học có thể kể:
- Dạy học những khái niệm
Trang 37- Dạy học những câu lệnh
- Dạy học xây dựng thuật giải
- Dạy học lập chương trình
- Dạy học giải bài tập
- Dạy thực hành trên máy tínhViệc liệt kê như trên thật ra chưa đầy đủ nhưng cũng đã tạo nên mộtbức tranh khá phức tạp về các phương pháp dạy học Sẽ kém hiệu quảnếu giới thiệu các phương pháp theo từng phương diện trên một cách dànđều Vì vậy giáo trình chỉ tập trung vào một số yếu tố cơ bản của phươngpháp dạy học và một số phương pháp thường dùng trong thực tiễn dạyhọc, cụ thể là đi vào những thành tố cơ sở của phương pháp dạy học, cácchức năng điều hành quá trình dạy học,
Trong các phương pháp đã liệt kê ở trên có một số phương pháp đãđược trình bày trong các sách giáo dục học, vì thế giáo trình không lặp lạinhững phương pháp đó
3.3 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Điều 24, chương 1, Luật giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt nam nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp vớitừng với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tựhọc, rèn luyện kỉ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đếntình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Quy định này phản ánh nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục đểgiải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người mới với thực trạnglạc hậu của phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay Thật vậy, sự pháttriển xã hội và đổi mới đất nước đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chấtlượng giáo dục và đào tạo Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi từ cơchế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nàh
Trang 38nước, Công cuộc đổi mới này đề ra nhứng yêu cầu mới đối với hệ thốnggiáo dục, đòi hỏi chúng ta cùng với những thay đổi về nội dung, cần cónhững đổi mới căn bản về phương pháp dạy học Phải thừa nhận rằngtrong tình hình hiện nay, việc dạy học theo kiểu thuyết trình tràn lan vẫnđang được phổ biến Nhiều giáo viên vẫn chưa từ bỏ lối dạy học cũ,không kiểm soát và điều khiển được sự hoạt động của trò, làm cho trò bịđộng, lệ thuộc vào giáo viên.
Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người xây dựng xã hội côngnghiệp hoá, hiện đại hoá với thực trạng lạc hậu của phương pháp dạy học
đã làm nảy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động đổi mới phương phápdạy học ở tất cả các cấp trong ngành giáo dục và đào tạo từ một số nămnay với nháng tư tưởng chủ đạo được phát biểu dưới nhiều hình thứckhác nhau như “lấy người học làm trung tâm”, “phát huy tính tích cực”,
“phương pháp dạy học tích cực”, “tích cự hoá hoạt động học tập” v.v Những ý tưởng này đều bao hàm những yếu tố tích cực có tác dụng thúcđẩy đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục vàđào tạo Tuy nhiên, cần nêu bật bản chất của tất cả các ý tưởng này, bảnchất đó nay đã được thể hiện trong luật giáo dục- như là định hướng cho
sự đổi mới phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo Định hướng này có thể gọi tắt là học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, hay gọn hơn: hoạt động hoá người học.
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt độngnhất định Đó là những hoạt động đã được tiến hành trong quá trình hìnhthành và vận dụng nội dung đó Phát hiện được những hoạt động tiềmtàng trong một nội dung là vạch được một con đường để người học chiếmlĩnh nội dung đó và đạt được những mục đích dạy học khác, cũng đồngthời cụ thể hoá được mục đích dạy học nội dung đó và chỉ ra được cáchkiểm tra xem mục đích dạy học có đạt được không và đạt đến mức độ
Trang 39nào Quan điểm này thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa mục đích, nội dung
và phương pháp dạy học Nó hoàn toàn phù hợp với luận điểm cơ bản
của giáo dục học cho rằng con người phát triển trong hoạt động và học tập diễn ra trong hoạt động.
Định hường “hoạt động hoá người học “ bao hàm một loạt những ýtưởng lớn đặc trưng cho phương pháp dạy học hiện đại sẽ được đặc trìnhbày trong 5 mục sau đây:
3.3.1 Xác lập vị trí chủ thể của người học, đảm bảo tính tự giác, tích cực và sáng tạo của hoạt động học tập
Người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỉ năng, hìnhthành thái độ chư không phải là nhân vật bị động hoàn toàn làm theo lệnhcủa thầy giáo Với định hướng “hoạt động hoá người học”, vai trò chủ thểcủa người học được khẳng định trong quá trình họ học tập trong hoạtđộng và bằng hoạt động của bản thân mình
Tính tự giác, tích cực của người học từ lâu đã trở thành một nguyêntắc của giáo dục học xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này bây giờ khôngmới nhưng vẫn chưa được thực hiện trong cách dạy học thầy nói, trò nghecòn đang rất phổ biến hiện nay Một lần nữa cần phải nhấn mạnh rắngnguyên tắc vẫn là nguyên tắc Khi nói “hoạt động hoá người học”, ta hiểu
đó là hoạt động tự giác, tích cực của người học thể hiện ở chỗ học sinhhọc tập thông qua những hoạt động được hướng đích và gợi động cơ đểbiến nhu câu của xã hội chuyển hoá thành nhu cầu nội tại của chính bảnthaan mình
3.3.2 Dạy học dựa trên sự nghiên cứu tác động của những quan niệm và kiến thức sẵn có của người học.
Theo chủ nghĩa kiến tạo trong tâm lí học, học tập chủ yếu là một quátrình trong đó người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách liên hệnhững cảm nghiệm mới với những kiến thức và kinh nghiệm sẵn có, bắc
Trang 40một chiếc cầu nối giữa cái mới và cái sẵn có Đầu óc học trò không phải
là cái bình rỗng để thầy giáo rót kiến thức vào, cũng không phải là tờ giấytrắng chờ được thấm mực Khi học một kiến thức mới, thường không phải
là học trò chưa có một quan niệm nào về kiến thức cần học đó Trái lại bộ
óc của học trò thường đã có sẵn một số quan niệm, kinh nghiệm nào đóliên quan với kiến thức cần học, làm thuận lợi hoặc gây khó khăn cho quátrình xây dựng kiến thức mới Vì vậy tổ chức cho học sinh hoạt động họctập có một hàm nghĩa là nghiên cứu những quan niệm, kinh nghiệm sẵn
có đó, khai thắc mặt thuận lợi và hạn chế mặt khó khăn cho quá trình họctập, nghiên cứu những chướng ngại mà học sinh có thể gặp, sai lầm màhọc sinh có thể mắc khi xây dựng một kiến thứcmới, nhờ đó thầy giáođiều khiển việc học có hiệu quả
3.3.3 Dạy việc học, dạy cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
Mục đích dạy học không chỉ ở những kết quả cụ thể của quá trìnhhọc tập: ở tri thức và kỉ năng bộ môn, mà điều quan trọng hơn là ở bảnthân việc học, ở cách học, ở khả năng đảm nhiệm, tổ chức thực hiệnnhững quá trình học tập một cách hiệu quả Ý tưởng này ngày càng đượcnhấn mạnh trong lí luận và thực tiễn dạy học trên quy mô quốc tế Đươngnhiên, ý tưởng này chỉ có thể được thực hiện trong những quá trình ngườihọc thật sự hoạt động để đạt được những gì mà họ cần đạt
3.3.4 Dạy tự học trong quá trình dạy học
Kho tàng văn hoá của nhân loại là vô tận Cứ sau một chu kì ngắnthì tri thức trên các lĩnh vực lại tăng lên gấp đôi Nếu đặt mục tiêu dạymột lần đủ tri thức để người học có thể sống và hoạt động suốt đời thì sẽkhông bao giờ đạt được Để có thể sống và hoạt động suốt đời thì phảihọc suốt đời Để học được suốt đời thì phải có khả năng tự học Khả năngnày cần được rèn luyện ngay trong khi còn là học sinh ngồi trên ghế nhà