1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Nghiên cứu khả năng đối kháng của nâm TRICHODERMA với FUSARIUM OXYSPORIUM, CLADOSPORIUM HERBARUM gây hại trên cây trồng - thử nghiệm nhân sinh khối nấm TRICHODERMA

5 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 799,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quan sát nhận thấy bình thường Fusarium và Cladosporium có khả năng cạnh tranh dinh dưỡng rất tốt, tuy nhiên tiếp xúc với Trichoderma thì khuẩn lạc nấm Fusarium và [r]

Trang 1

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC ĐỊA PHƯƠNG «

NGHI ÊN CỨU KHẢ NĂNG ĐỐI

KHÁNG CỦA NẤM TRI CHODERMA VỚI F U S A R I U M OXYSPORI UM,

C L A D O S P O R I U M H E R B Ả R U M GÂY

HẠI TRÊN CÂY TRỒNG - THỬ NGỈỈIỆM NHÂN SINH KHỐI NẤM

TRI CHODERMA

Iệ ĐẶT VÁN ĐÈ

Fusarium, Cladosporium

những nấm sợi gây bệnh thối rễ,

đốm lá trên nhiều loại cây trồng ở

nước ta và các nước trong khu vực,

vi chúng thích nghi tốt với điều kiện

khí hậu nóng ẩm Nấm Fusarium

oxysporium có nguồn gốc từ đất,

xầm nhiễm cả những rễ cây không

phải kí chủ, tồn tại dưới dạng bào từ

hậu trong đất trong thời gian dài, có

sức chống chịu cao Bào tử vô tính

nảy mầm trên tàn dư cây bệnh hay

trong đất Chúng xâm nhiễm vào rễ

non hoặc rễ cây bị thương do tuyến

trùng gây ra, khi tấn công vào rễ

cây hệ sợi nấm phân tán mạnh mẽ

lan dần vào các mạch xylem Ngoài

Fusarium còn có nấm Cladosporium

tồn tại nhiều trong tàn dư thực vật,

phân tán theo nhiều tác nhân Hiện

nay, việc phòng trừ nấm bệnh chủ

yếu bàng thuốc bảo vệ thực vật

Tuy nhiên phương pháp này gây

ảnh hường nghiêm trọng sức khỏe

con người và môi trường tự nhiên

Do đó, sử dụng các tác nhân sinh

học để đối kháng nấm bệnh trên

cây trồng là một vấn đề quan trọng

đang được nhiều nhà khoa học ờ

các nước trong khu vục quan tâm

Trong nhiên cứu này chúng tôi tập

trung thử nghiệm khả năng ức chế

nấm Fusarium và Cladosporium từ

các chủng Trichoderma được phân

lập từ nhiều mẫu đất khác nhau trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tìm

ra các thông số thích hợp để nhân

sinh khối nấm Trichoderma trong

quy mô phòng thí nghiệm để tiến tới thử nghiệm trên cây trồng và chuyển giao

IIế VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIỀN cúu

2ẻl Vật liệu

Nguồn phân lập nấm Trichoderma

các mẫu dất thu nhận từ xã Bông Trang, Xuyên Mộc, Châu Đức, Vũng Tàu; các chủng nấm bệnh

Fusarium và Cladosporium từ

phòng vi sinh, Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu Môi trường phân lập: PGA, WA, M l; môi tnrờng nuôi: PGA, M l, cám gạo, trấu, bã

cà phê đã khử trùng

2.2 Phương pháp

Trichoderma

- Phân lập nấm Trichoderma

từ 20 mẫu đất (Bảng 1) trên môi trường M l; thử nghiệm khả năng đối kháng nấm bằng phương pháp

in vitro [3,4,5,6]; xác định bào tử

nấm bằng buồng đếm hồng cầu [1];

nhận diện Trichoderma theo tiêu

chuẩn cơ sờ TCCS 39:2012/BVTV

Thí nghiệm được bố tri với 3 lần lặp

11 ThS Trán Thị Duyên

II KS Nguyễn Văn Tới

Khoa HH&CN Thực phẩm Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu

lại Số liệu được xử lí thống kê với phần mềm thống kê Statgraphics 15.2

2.2.2 Thử nghiệm đánh giá hoạt tính đối kháng của nấm

Trichoderma vói nấm bệnh theo

phương pháp /ỗ/t vitro

Cladosporium và nấm Trichoderma

được cấy đối xứng nhau trên môi trường PGA Mỗi nghiệm thức được thực hiện với ba lần lặp lại, mỗi đĩa petri là một nghiệm thức, phần trăm ức chế được tính theo công thức [1,2,4,5,6]:

PIMG =

Trong đó: PIMG: phần trăm ức chế; R : đường kính nấm bệnh cấy

chung với nấm Trichoderma;

R2: đường kính nấm bệnh cấy độc lập

2ề2.3Ễ Đánh giá ảnh hưởng của thành phần môi trường nuôi cấy

và pH đến khả năng sinh bào tử

của Trichoderma

Chúng tôi bố trí thí nghiệm ngẫu

ĐẠC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ < 1

Trang 2

» HOẠT ĐỘNG NGHIÊN cứu KHOA HỌC ĐỊA PHƯƠNG

nhiên với 6 tỷ lệ khác nhau của

cám, trấu và bã cà phê tại các giá

trị pH=3;4;5;6;7;8 Kết quả được

xác định dựa trên số lượng bào tử

được hình thành trong thời gian 10

ngày[l] ^

2.2ế4 Ảnh hirửng của ánh sáng

đến sản lượng bào tử Trichoderma

Kiểm tra khả năng tạo bào tử của

nấm Trichoderma ở ba điều kiện

chiếu sáng khác nhau: CT1: sáng

tối xen kẽ', CT2: tối liên tục\ CT3:

sáng liên tục Với môi trường nuôi

cấy và pH thích hợp nhất từ thí

nghiệm 2.2.3

2ề2.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ

đến sản lưọng bào tử

Kiểm tra khả năng tạo bào tử

của nấm Trichoderma ở ba khoảng

nhiệt độ 25°c, 30°c, 35°c Với các

yếu tố: thành phần môi trường, pH,

điều kiện chiếu sáng thích hợp đã

được khảo sát từ những thí nghiệm

2.2.3 và 2.2.4

III KÉT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.2 Kết quả phân lập nấm

Trichoderma

Ket quả phân lập nấm

Trichoderma được trình bày trong

Bảng 1 Từ Bảng 1 cho thấy,

Trichoderma phân bố khá phổ biến

trong các loại đất canh tác nông

nghiệp và đất rừng trong tự nhiên

Điều này phù hợp với kết quả điều

tra sự phân bố Trichoderma tại TP

HCM và các tỉnh Đông Nam Bộ của

PGS.TS Phạm Thị Ánh Hồng và

Th.s Đinh Minh Hiẹp 2005

3.2 Đánh giá khả năng đối

kháng của nấm Trichoderma với

nấm gây bệnh cây trồng

Sau khi tiến hành xác định khả

năng đối kháng của 20 chủng

Trichoderma với nấm Fusarium

oxysporium Cladosporium

herbarum chúng tôi thu được kết

quả về mức đối kháng được thể hiện

qua Bảng 2

Qua Bảng 2, cho thấy, tất cả các

chủng Trichoderma đều có khả năng

đối kháng với nấm F.oxpysporium

và c.herbarum Tuy nhiên, mức

độ đổi kháng khác nhau giữa các chủng nấm Trichoderma Với

F.oxysporium chủng T3 có khả năng

đối kháng rất cao ở mức độ 4 với hoạt tính đối kháng lên đến 88,61%;

4 chủng T |; T2, T4 Tj có mức độ đối kháng cao, mức độ đối kháng dao động từ 63,74 - 73,17%, 5 chủng T9, T n, T |4 T ]6, T [9 có mức độ đối kháng trung bình với hoạt tính đối kháng dao động từ 51,59 - 60,95%

Đối với c.herbarum thì tất cả các chủng Trichoderma đều có khả

năng đối kháng 100% Qua quan sát

nhận thấy bình thường Fusarium

và Cladosporium có khả năng cạnh

tranh dinh dưỡng rất tốt, tuy nhiên

tiếp xúc với Trichoderma thì khuẩn lạc nấm Fusarium và Cladosporium

không phát triển nữa và teo dần

Nguyên nhân có thể do Trichoderma

đã tiết ra chất kháng nấm ức chế

Fusarium và Cladosporium không

thể phát triển (Agrowcal và ctv, 1979; Michrina, 1996) [7] Từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 7 màu xanh đặc

trưng của nấm Trichoderma xuất

hiện tại tâm khuẩn lạc và lan dần lên khuẩn lạc nấm bệnh, đến ngày thứ

10 nấm Fusarium và Cladosporium

chết hoàn toàn Điều này có thể do quá trinh giao thoa sợi nấm, sợi nấm

Trichoderma len lỏi vào khuẩn lạc

nấm bệnh, vây quanh sau đó thắt chặt các sợi nấm bệnh, làm thủng lớp tế nào của nấm gây bệnh làm cho chất nguyên sinh của chúng bị phân hủy (Cnyder, 1976; weinding 1932)

3.3 Thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng của pH và môi trường nhân tạo đến sản lượng bào tử

của Trìchoderma

Ket quả sau 10 ngày thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng của pH và thành phần môi truờng nuôi cấy đến sản lượng bào tử của cả 3 chủng Tj (A 15.11), T2 (B 15.11), T3 (CDVS), chúng tôi nhận thấy sản lượng bào

tử (SLBT) của 3 chủng Trichoderma

ở các giá trị pH khác nhau luôn cho

SLBT khác nhau Khoảng pH thích hợp cho việc hình thành bào tử của

hầu hết các loại nấm Trichoderma

là từ 5-6, tùy vào mức pH khác nhau

mà nấm có thể tạo ra nhiều hay ít bào tử Ở pH=5 cả 3 chủng đều cho SLBT tương đối cao, SLBT đạt cao nhất tại giá trị pH=6 (Tj= 8.7x109/g;

T = 9 6 7 x l0 9/g; T =11.37xl09/g), điều này hoàn toàn phù hợp với khoảng pH=5-6 là khoảng pH

tối thích cho Trichoderma theo

nghiên cứu của Dasrupta, 1991 [6] Khi pH=7-8 sản lượng bào tử giảm đột ngột (Tj= 4.53x109/g;

T = 5 6 7 x l0 9/g; T3=6.33xl09/g), điều này phù hợp với nhận định của Papavizas về sự phân bố và

thích nghi của nấm Trichoderma tại

vùng có tính axit tốt hơn so với môi trường mang trung tính hoặc kiềm [3]

Trong CT6, cả 3 chủng

Trichoderma đều cho sản lượng bào

tử cao hơn các CT khác Điều này

có thể được giải thích là do trong thành phần môi trường nuôi cấy này, chúng tôi có bổ sung thêm bã

cà phê Trong bã cà phê chứa lượng lớn polysaccharide không hòa tan, đường khử còn sót lại ừong bã, các protein, acid amin ở dạng liên kết với các polysaccharide này, ngoài

ra trong bã cà phê chứa nhiều vi khoáng chất như phospho, calcium, kali cần thiết cho hoạt động trao đổi chất và sinh năng lượng cho các chủng nấm

3.4 Ảnh hưởng của ánh sáng

đến sản lượng bào tử Tri

Sau 10 ngày nuôi cấy Trichoderma

dưới điều kiện ánh sáng khác nhau:

CT1: sáng tối xen kẽ; CT2: tối liên

tục và CT3: chiếu sáng liên tục,

chúng tôi thu được kết quả về số lượng bào tử được trình bày trong Hình 1; 2

Ket quả khảo sát cho thấy, ở điều kiện ánh sáng xen kẽ nhau các

chủng Trichoderma đều cho lượng

bào tử cao nhất, lượng bào tử sinh

ra thấp nhất ở điều kiện ánh sáng

2 > ĐẬC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 3

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN cứu KHOA HỌC ĐỊA PHƯƠNG «

Bảng 1 Kết quả phân lập nấm Tríchoderma

đất đỏ

Lâm trường rừng Dầu, ấp Trang

mục

Rừng cấm, xã Bưng Riềng, Xuyên

+

Hình 1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến sản lượng bào tử Hỉnh 2 Khuẩn lạcT3 vàT2 ở ba điéu kiện ánh sáng khác

ĐẬC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ < 3

Trang 4

» H O Ạ T ĐỘ N G NGHIẾN cứu KH O A H Ọ C Đ ỊA PHƯ Ơ NG

B ảng 2ế Đánh giá tính đối kháng của Trichoderma với Eoxysporiumc.herbarum

STT Kí hiệu

chủng

Fusarium oxysporium - cm Đối kháng Cladosporium herbarum

( y > 2 C h -1.5 PIMG % Hoạt

tính ( V ) / 2 C h -1.5 PIMG

%

Hoạt tính

Ghi chú: Khả năng đối kháng cùa nấm Trichoderma được đánh giá nhu sau:

4 PIMG >75%: đối kháng rất cao; 2 PIMG thuộc khoảng (50;61): đối kháng trung bình;

3 PIMG thuộc khoảng (61, 75): đổi kháng cao; I PIMG < 50: đối kháng kém.

■ 25oc

■ 30oC

■ 35oC

Hinh 3 Ảnh hưởng của nhiệt độ

đến sản lượng bầo tử của nấm

Trichoderma

4 > Đ Ặ C SA N TH Ô N G TIN K H O A H Ọ C V À C Ô N G N GH Ệ

Trang 5

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN cứu KHOA HỌC Đ|A PHƯƠNG «

Hình 4 Sự phát triển bào tử của 3 chủng Tríchodermal

được chiếu sáng liên tục Điều này

phù hợp với quá trình thực nghiệm

lấy mẫu phân lập của chúng tôi,

đa phần những mẫu đất sử dụng

để phân lập đều nam trên mặt đất,

chịu ảnh hường của việc xen kẽ ánh

sáng từ thiên nhiên Tuy nhiên, sự

khác biệt số lượng bào tử trong CT1

đối với nghiệm thức ủ tối liên tục

CT2 cũng không quá lớn Vì vậy,

tùy thuộc vào điều kiện sản xuất mà

chúng ta có thể lựa chọn phương án

chiếu sáng xen kẽ hay tối liên tục

thì số lượng bào tử thu được đều đạt

trên 5xl09 bào tử/gam

3.5 Ảnh hirởng của nhiệt độ

đến sản lượng bào tử

Ket quả sau 10 ngày khảo sát

ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

năng sinh bào tử Trichoderma ở 3

điều kiện nhiệt độ khác nhau: 25°C;

30°C; 35°c được trình bày trong Hình 3

Từ Hình 3 chúng ta thấy ở nhiệt

độ từ 25-30°C cả 3 chủng đều cho sản lượng bào tử tương đối cao

Trong đó, sản lượng bào từ cao nhất đối với chùng T, và Tj ở 25°c, ở 30°c chủng T2 cho sản lượng bào

tử cao nhất Khi tăng nhiệt độ lên 35°c sản lượng bào tử của cả 3 chủng đều giảm Theo nghiên cứu của Klein và Evenleigh, 1998 [3];

Lê Văn Ê, 2003 thì nhiệt độ là yếu

tố sinh thái rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng, sản sinh bào tử

của Trichoderma Nhiệt độ tối thích đối với từng loài Trichoderma là

khác nhau Tuy nhiên, thường chỉ dao động khoảng 25-30°C thì hầu

hết các loài nấm Trichoderma đều

thích nghi tốt Kredict và ctv, 2003

đã một lần nữa khẳng định, xác thực nghiên cứu của Klein và Evenleigh

về ảnh hường của nhiệt độ đến độ mọc mầm của bào tử, sự tăng dài của ống mầm và sự phát triển của

nấm Trichoderma trong quá trình sản xuất sinh khối Trichoderma

thích hợp trong khoảng 25-30°C tùy loài Theo Kredict, 2003 thì kết quả đạt đuợc trong nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với yếu tố thích nghi nhiệt độ của mỗi chủng nấm

Trichoderma [3].

IV KÉT LUẬN

Ket quả nghiên cứu cho thấy trong

20 chủng Trichoderma phân lập từ

20 mẫu đất thu nhận từ 20 khu vục khác nhau trong tinh Bà Rịa-Vũng Tàu có 1 chùng đối kháng rất cao,

4 chủng đối kháng cao, 5 chủng đối kháng trung bình, 10 chủng đối

kháng yếu với Fusarium Cả 20

chủng này đều đối kháng rất cao

với Cladosporium Chọn lọc được 5

chủng có khả năng phát triển và đối

kháng tương đối tốt với Fusarium

oxysporium và Cladosporỉum Sinh

khối Trichoderma thu được cao

nhất là ở pH=6, trong môi trường gồm 50% cám, 25% trấu, 25% bã

cà phê, điều kiện sáng tối xen kẽ và nhiệt độ trong khoảng 25-30°C

T.T.D, N.V.T

[1] Trân Thị Thu Hà, Phạm Thanh Hòa (2012), Khả năng đoi kháng của nấm Trichoderma với nấm bệnh hại cây trông

Sclerotium rolfsii sacc trong điều kiện in vitro, Tạp chí Khoa học, Đại Học Huế, Tập 75a, số 6, 49-55.

[2] Kredics L, Antal z, Doczi I, Manczinger L, Kevei F, Nagy E Clinical importance o f the gertHsTrichoderma A review

Acta Microbiol Immunol Hung 2003;50:105-117.

[3], Klein D, Eveleigh DE Ecology o/Trichoderma In: Kubicek CP, Harman GE, editors Trichoderma and Gliocladium

Vol 1 Basic Biology, Taxonomy and Genetics London: Taylor and Francis Ltd.; 1998 pp 57-74.

[4], Papavizas (1985), Trichoderma and Gliocladium: Biology, ecology, and potential fo r biocontrol Ann Rev Phytopath,

23: 23-54.

[5] Michrina, J., A Michalikova., T Rohacik and R Kulichova (1995) Antibiosis as a possible m echanism o f

antagonistic action Trichoderma harzianum against Fusarium culmorum, Ochrana Rostlin, 31:177-184

[6] Maiti D, Dasgupta B, Sen c 1991 Antagonism ofTrichoderma harziartum and Gliocladium Virens isolates to

Sclerotium rolfsii and biological control o f stem rot ofgroundnut and betel vine Journal o f Biological Control 5, 105-109.

ĐẶC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ < 5

Ngày đăng: 13/01/2021, 04:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w