* Hạn chế: Trong quá trình giảng dạy của những năm học trước tôi chưa định hướng được việc phát triển năng lực của học sinh trong học tập và trong các hoạt động trải nghiệm cho nên dẫn [r]
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số (do Thường trực Hội đồng ghi):
1 Tên sáng kiến: Giải pháp giúp học sinh phát triển các năng lực qua dạy dạy học địa lí.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn Địa lí cấp trung học cơ sở.
3 Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:
* Về thực trạng của vấn đề:
- Về phía giáo viên: Trong quá trình giảng dạy bộ môn dường như giáo viên chỉ quan tâm tới việc hình thành các kỹ năng mang tính kỹ thuật gắn với chuyên môn với các môn học cụ thể Trong khi đó, việc định hướng hình thành
và phát triển năng lực của học sinh qua các hoạt động học tập cũng như các hoạt động phong trào còn mang tính chung chung chưa cụ thể để có thề phát huy khả năng thực sự của học sinh Đây là điều mà trong việc học tập ở nhà trường học sinh cần có được
- Về phía học sinh: Trong những năm học vừa qua, trong quá trình giảng dạy bộ môn địa lí ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phong Đông bản thân đã nhận thấy còn nhiều học sinh ở khối lớp 7 và khối lớp 8 chưa có được sự phát triển mạnh về năng lực của mình Cụ thể như trong năm học 2015-2016 còn 38 trường hợp chưa có khả năng tự giải quyết một vấn đề địa lí trong nội dung bài học; còn 46 trường hợp chưa có kỹ năng xác lập mối quan hệ nhân-quả của một hiện tượng địa lí; còn 56 trường hợp chưa thể hiện được một nội dung địa lí qua
sơ đồ tư duy trong học tập môn địa lí
* Ưu điểm: Trong tổng số học sinh của khối 7 và khối 8, ngoài những học
sinh còn hạn chế về các năng lực như trên thì vẫn có nhiều học sinh có khả năng thực hiện tốt các năng lực của mình trong học tập và hoạt động; nhiều học sinh
có thể sáng tạo trong các hoạt động từ phát triển năng lực của mình…
* Hạn chế: Trong quá trình giảng dạy của những năm học trước tôi chưa
định hướng được việc phát triển năng lực của học sinh trong học tập và trong các hoạt động trải nghiệm cho nên dẫn đến học sinh chưa thể hiện được sự tự tin và phát uy hết khả năng của mình trong việc giải quyết một vấn đề trong khi học bộ môn địa lí; chưa tự xác lấp mối quan hệ nhân-quả của một hiện tượng địa lí; chưa thể hiện được sơ đồ tư duy về một hiện tượng địa lí trong học tập cũng như trong kiểm tra
Trang 2Từ thực trạng vấn đề của học sinh trong việc học tập môn địa lí của những năm học 2015-2016 và những hạn chế trong giải pháp cũ mà tôi đã thực hiện đã dẫn đến việc nhiều học sinh chưa thể hiện được năng lực học tập của mình cũng như chưa có được các kỹ năng sống tốt nhất Cho nên, tôi đã áp dụng ba giải pháp mới trong quá trình giảng dạy môn địa lí trong năm học 2016-2017 nhằm khắc phục những nhược điểm mà giải pháp cũ chưa thực hiện được
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
- Mục đích của giải pháp: Với việc áp dụng các giải pháp này thường xuyên trong các tiết học nhằm giúp học sinh khắc phục được tình trạng chưa giải quyết được một vấn đề địa lí; chưa xác lập được mối quan hệ nhân-quả trong địa lí; chưa thể hiện được một hiện tượng địa lí qua sơ đồ tư duy trong tiết học cũng
như trong kiểm tra Và mục đích chung là “Giúp học sinh phát triển các năng lực qua dạy dạy học địa lí”.
- Nội dung giải pháp: Với thực trạng học sinh ở khối lớp 7 và khối lớp 8 trong năm học 2015-2016 là các em còn hạn chế về khả năng giải quyết một vấn
đề về địa lí khi giáo viên đặt ra cùng với sự phân công giảng dạy môn địa lí trong năm học 2016-2017 tôi đã đúc kết ra định hướng, giải pháp để áp dụng vào giảng dạy ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phong Đông nhằm phát triển các năng lực của học sinh thông qua ba giải pháp thực hiện như sau:
* Giải pháp 1: Giải pháp rèn kỹ năng giải quyết vấn đề.
- Bước 1: Đặt vấn đề Trong tiết dạy của mình khi vào một nội dung, một mục nào đó từ sách giáo khoa tôi luôn tạo nên tình huống có vấn đề bằng việc dẫn dắt các em từ nội dung nhỏ đến mội dung chính của vấn đề rồi từ đó tôi bắt đầu đặt câu hỏi để các em hiểu được câu hỏi với nội dung gì cần giải quyết
- Bước 2: Giải quyết vấn đề Đây là bước vô cùng quan trọng vì sẽ khẳng định được năng lực của học sinh có hay không thông qua câu trả lời của các em Thông thường thì giáo viên dạy hay gọi những em đã biết trả lời trước điều này dẫn đế những học sinh chưa biết câu trả lời sẽ không phát triển được năng lực của mình Cho nên cái mới ở đây của giải pháp này là tôi gọi những học sinh còn hạn chế về khả năng giải quyết vần đề trả lời trước sau đó mới đến những em giải quyết vấn đề nhanh hơn Như vậy tôi đã có được một hệ thống câu trả lời về các nội dung liên quan đến một vấn đề đã đặt ra Từ đây tôi bắt đầu hướng dẫn các
em hệ thống lại các phương án, phân tích, đánh giá các phương án (kết hợp với kênh hình nếu có liên quan) và cuối cùng là giúp các em tìm ra phương án đúng
để giải quyết vấn đề mà giáo viên đặt ra
- Bước 3: Kết luận Ở phần này tôi lại gọi những học sinh còn hạn chế về khả năng giải quyết vấn đề trả lời lại nhằm để cho các em phát triển năng lực khắc ghi, năng lực trình bày của mình và sau đó tôi chốt lại nội dung cần giải quyết của vấn đề đó
Trang 3Ví dụ minh họa: Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để dạy bài "Khí hậu châu Phi" - địa lí 7 với học sinh lớp 7/1 trong năm học 2016 - 2017
Đặt vấn đề: Tôi đặt câu hỏi Vì sao châu Phi được bao bọc xung quanh bởi các biển và đại dương nhưng lại là châu lục có khí hậu nóng và khô?
Giải quyết vấn đề:
Học sinh suy nghĩ và nêu các giả thuyết về nguyên nhân làm cho khí hậu châu Phi lại nóng và khô: Do vị trí châu Phi nằm ở vĩ độ thấp (đới nóng); do châu Phi có diện tích rộng lớn, lục địa dạng hình khối; do ảnh hưởng của gió mậu dịch và khối khí lục địa khô nóng …
Sau đó tôi hướng dẫn học sinh quan sát và phân tích lược đồ tự nhiên châu Phi kết hợp với kiến thức đã học tìm ra nguyên nhân làm cho châu Phi có khí hậu khô và nóng (các em trình bày do nhiều yếu tố như: vị trí, kích thước, địa hình, dòng biển lạnh, gió mậu dịch Đông Bắc, khối khí lục địa …) Từ đó các em đã rút ra được kết luận là do sự phối hợp tác động của tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân làm cho khí hậu châu Phi khô và nóng
Kết quả có 25/30 học sinh lớp 7/1 có khả năng giải quyết nhanh vấn đề trên, chiếm tỷ lệ 83,3%; 05/30 học sinh khả năng giải quyết vấn đề được nhưng còn chậm, chiếm tỷ lệ 16,7% Như vậy, trong dạy học giải quyết vấn đề, giáo viên đưa học sinh vào tình huống có vấn đề rồi giúp học sinh giải quyết vấn đề đặt ra Thông qua việc giải quyết vấn đề học sinh vừa lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng; vừa nắm được phương pháp nhận thức, lại vừa phát triển tư duy tích cực, sáng tạo của mình
* Giải pháp 2: Giải pháp giúp học sinh hình thành kĩ năng xác lập mối quan hệ nhân-quả trong môn học địa lí
Trong kiến thức địa lí thì các mối quan hệ rất phong phú và đa dạng Đó là mối quan hệ giữa các hiện tượng tự nhiên với nhau; giữa tự nhiên với kinh tế-xã hội, giữa các hiện tượng địa lí kinh tế-xã hội với nhau Trong các mối quan hệ
đó có những mối quan hệ nhân-quả Và đây là vấn đề mà bản thân giáo viên dạy
bộ môn địa lí cần giúp đỡ các em để các em có được khả năng xác lập mối quan
hệ nhân-quả về một vấn đề về địa lí khi giáo viên đặt ra trong quá trình học tập
Từ thực trạng đó, tôi đã đúc kết ra giải pháp này để áp dụng vào giảng dạy trong năm học 2016-2017 ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phong Đông như sau:
Trong một tiết thực hành trong chương trình địa lí 8 tôi có dẫn chứng cho học sinh về một nội dung của kiến thức đã học như sau: Do Trái Đất hình cầu (nguyên nhân), nên ánh sáng Mặt Trời chỉ chiếu sáng được một nửa (kết quả), thì mối quan hệ giữa hình cầu của Trái Đất và ánh sáng Mặt Trời chỉ chiếu sáng được một nửa là mối quan hệ địa lí đơn giản (một nguyên nhân sinh ra một kết quả) Nhưng ví dụ 2: Do Trái Đất có dạng hình cầu (nguyên nhân 1) và do sự tự quay của nó quanh trục (nguyên nhân 2) nên ở khắp mọi nơi trên Trái Đất đều có ngày và đêm (kết quả), thì mối quan hệ có dạng hình cầu và sự tự quay quanh
Trang 4trục của Trái Đất với hiện tượng có ngày đêm ở khắp nơi trên Trái Đất là mối quan hệ nhân quả địa lí phức tạp (hai nguyên nhân sinh ra một kết quả)
Trong quá trình hướng dẫn học sinh xác lập các mối quan hệ nhân-quả tôi luôn giúp các em phân biệt đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả, giúp học sinh xây dựng các sơ đồ thể hiện các mối quan hệ nhân-quả nhằm giúp các em dễ dàng nhận ra và biết cách hệ thống hoá các mối quan hệ này và kết quả đạt được qua các tiết học sau đó của lớp 8/1 năm học 2016 - 2017 như sau: Có 22/28 học sinh trả lời tốt các kiến thức về một hiện tượng địa lí nào đó là do đâu, chiếm tỷ lệ 78,6%; 06 học sinh giải thích được nhưng chưa thật chặt chẽ, chiếm tỷ lệ 21,4%
* Giải pháp 3: Giải pháp sử dụng Sơ đồ tư duy.
- Sử dụng Sơ đồ tư duy trong phương pháp động não giải quyết vấn đề địa
lí trong tiết học
Với thực trạng học sinh của nhà trường còn gặp khó khăn trong việc thể hiện một vấn đề trong nội dung học tập địa lí qua sơ đồ tư duy tôi thường đưa ra một vấn đề có tính tình huống và yêu cầu học sinh giải quyết trong thời gian ngắn và theo hình thức “tiếp sức” với một khoảng thời gian nhất định Các học sinh sẽ lần lượt “bật” ra ý tưởng càng nhanh càng tốt cho đến khi thời gian kết thúc Mỗi ý tưởng của học sinh là một phân nhánh cấp 1 (thể hiện trên bảng hoặc trên bảng nhóm) Kết thúc cuộc chơi các em sẽ có một sơ đồ tư duy đồ sộ là tập hợp sức mạnh tư duy của cả tập thể, đồng thời kích thích sự tham gia, hứng thú
và nhiệt tình của tất cả người học trên tinh thần tôn trọng và học hỏi
- Ứng dụng Sơ đồ tư duy trong kiểm tra, đánh giá:
Đây là một bước đột phá có tính mới mà tôi mạnh dạn áp dụng trong bài kiểm tra 15 phút môn địa lí đối với học sinh khối lớp 7 và khối lớp 8 Việc kiểm tra bằng Sơ đồ tư duy là một hình thức kiểm tra toàn diện Với sơ đồ tư duy của học sinh tôi không chỉ đánh giá được kiến thức tiếp thu của học sinh, khả năng ghi nhớ, sự chuyên cần học tập mà hơn thế nữa nó còn cho phép tôi đánh giá được năng lực tư duy logic, khoa học, tính sáng tạo của học sinh Phương pháp tương tác phản hồi của học sinh thông qua sơ đồ tư duy có giá trị hơn rất nhiều
so với phương pháp kiểm tra tự luận và trắc nghiệm khách quan Với giải pháp này tôi đã thống kê đối với học sinh lớp 7/2 và lớp 8/2 của trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phong Đông trong năm học 2016 - 2017, kết quả đạt được như sau: Có 53/64 học sinh biết thể hiện một nội dung địa lí qua sơ đồ tư duy, chiếm
tỷ lệ 82,8%; 11/64 học sinh biết thể hiện nhưng chưa đầy đủ nội dung, chiếm tỷ
lệ 17,2% Nhìn tổng thể thì phương pháp này mang lại kết quả khả quan hơn nhiều so với cách kiểm tra trắc nghiệm khách quan hay tự luận mà tôi đã thực hiện trong thời gian trước đó
Như vậy với việc áp dụng ba giải pháp trên vào trong giảng dạy môn địa lí của năm học 2016-2017 tôi đã nhận thấy học sinh có sự phát triển vượt bậc về năng lực của mình trong học tập và kết quả học tập cũng khả quan
Trang 53.3 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Với ba giải pháp này tôi đã áp dụng vào việc giảng dạy địa lí trong năm học 2016-2017 của trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phong Đông và đã mang lại kết quả rất tốt Giải pháp này cũng có thể áp dụng được đối với các thầy cô khác trong đơn vị và trong các đơn vị trường học khác trong huyện cũng như các đơn vị trường Trung học cơ sở trong toàn tỉnh Kiên Giang sẽ đạt kết quả tốt về việc định hướng phát triển năng lực cho học sinh
3.4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp:
Qua giảng dạy môn địa lí trong năm học 2016-2017, bằng việc áp dụng giải pháp “Giúp học sinh phát triển các năng lực qua dạy dạy học địa lí” Đồng thời, bản thân tôi cũng như đồng nghiệp cũng đã nhìn thấy được sự thay đổi rất lớn ở nhiều học sinh khối lớp 7 và khối lớp 8 của trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phong Đông Cụ thể, sau một năm học kết quả đạt được những thành tích và những sự thay đổi về năng lực thể hiện một hiện tượng địa lí nào đó như sau:
Bảng so sánh tỷ lệ các tiêu chí của đối tượng học sinh trước khi áp dụng giải pháp (năm học 2015-2016) và sau khi áp dụng giải pháp (năm học 2016-2017):
Các tiêu chí
Năm học
2015 – 2016 (sĩ số 126)
Năm học
2016 – 2017 (sĩ số 124)
So sánh tỷ lệ %
1 Số học sinh có khả năng tự
suy nghĩ để giải quyết vấn đề 88 (69,8%) 109 (87,9%) Tăng 18,1% 2
Số học sinh có khả năng kĩ
năng xác lập mối quan hệ
nhân quả
80 (63,5%) 107 (86,2%) Tăng 22,7%
3
Số học sinh biết thể hiện sơ
đồ tư duy về một nội dung
địa lí
70 (55,5%) 102 (82,3%) Tăng 26,8%
4 Số học sinh có kỹ năng hợptác trong hoạt động học tập 81 (64,3%) 110 (88,7%) Tăng 24,4%
5 Số học sinh có kỹ năng khắcsâu kiến thức địa lí 84 (66,7%) 114 (91,9%) Tăng 25,2%
6 Số học sinh đạt điểm Tbm từ 6,5 đến 7,9 57 (45,2%) 72 (58,1%) Tăng 12,9%
Trang 67 Số học sinh đạt điểm Tbm từ 8,0 đến trở lên 42 (33,3%) 54 (41,9%) Tăng 8,6% Với giải pháp này tôi chắc rằng khi chúng ta áp dụng trong việc dạy học địa lí ở các trường trung học cơ sở sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với khả năng hiện tại của học sinh
Phong Đông, ngày 28 tháng 12 năm 2017 Người mô tả
Huỳnh Văn Dũ