1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH

100 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 558,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH MỘT số vấn đề NGHIÊN cứu NHÂN CÁCH

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH

Đồng Chủ biên: GS.VS Phạm Minh Hạc PGS.TS Lê Đức Phúc

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọngđến phát triển nguồn lực con người, coi đó là yếu tố cơ bản để phát triển xãhội, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững Để tạo được nguồn nhân lực, đápứng những đòi hỏi ngày càng cao trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương (khoá VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu yêu cầu xây dựng năm đức tính củacon người Việt Nam trong giai đoạn mới Hội nghị lần thứ mười Ban Chấphành Trung ương (khoá IX) nhấn mạnh “Nâng cao chất lượng, hiệu quảnhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo năm đức tính được xác địnhtrong Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)… Đẩy mạnh giáo dục về chủ nghĩa

xã hội, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tạo chuyển biến rõrệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống năng lực, trí tuệ người Việt Nam…”

Nhằm cung cấp cho bạn đọc tài liệu nghiên cứu và tham khảo về vấn

đề nhân cách con người, góp phần quán triệt sau hơn Nghị quyết Trung ương

5 (khoá VIII) và Nghị quyết Trung ương 10 (khoá IX), Nhà xuất bản Chính trịquốc gia xuất bản cuốn sách “Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách” do GS

VS Phạm Minh Hạc và PGS TS Lê Đức Phúc chủ biên

Cuốn sách gồm một số bài viết đi sâu phân tích vấn đề nhân cách dướigóc độ tâm lý học, các khía cạnh lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu nhâncách con người; cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu nhân cách;

Trang 2

các mặt chủ yếu trong cấu trúc nhân cách như: nhu cầu, động cơ, thái độ, ýthức, v.v…, trên cơ sở đó xây dựng mô hình nhân cách con người Việt Namthời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 8 năm 2004 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LỜI NÓI ĐẦU

Thế kỷ XXI đang mở ra những triển vọng to lớn đối với việc tiếp tục đổimới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Sự nghiệp đó đòi hỏi phải “phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lựctrong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Đây cũng là tên Chương trìnhkhoa học – công nghiệp cấp nhà nước 2001 – 2005, mã số KX05, trong đó có

đề tài KX05-07 với tiêu đề: “Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng

xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốctế”

Một trong những nhiệm vụ của đề tại này là nghiên cứu sự phát triểnnhân cách con người Việt Nam đáp ứng những yêu cầu thời đại

Trong thời gian đầu, nhóm nghiên cứu đã xác định những cơ sở lý luận

và phương pháp luận, tạo sự định hướng thống nhất cho quá trình thực hiện

Cuốn sách này bao gồm những bài viết của nhiều tác giả về nhân cách,được bàn xét chủ yếu từ góc độ tâm lý học và chia thành ba phần cơ bản: Lýluận, phương pháp luận và phương pháp Mong rằng những nội dung đã trìnhbày ở đây sẽ được độc giả quan tâm và góp ý với sự thông cảm về nhữngthiếu sót của chúng tôi

Hà nội, tháng 5 năm 2004

CÁC TÁC GIẢ

Trang 3

Phần 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

A NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI VÀ NHÂN CÁCH CON NGƯỜI

GS.VS PHẠM MINH HẠC

I Về khái niệm con người, cá thể và cá nhân

Con người với tư cách là tột đỉnh tiến hoá của thế giới sinh vật, và tiếptục phát triển thành cá thể, cá nhân và nhân cách Khi con người là đại diệncủa loài ta gọi là cá thể Với tư cách là thành viên xã hội ta gọi nó là cá nhânnhư là một thực thể độc lập, và khi nó có đủ khả năng để trở thành chủ thểcủa hoạt động học tập, lao động, vui chơi, con người trở thành nhân cách

Nội hàm của bốn khái niệm này thật ra có phần đan xen lẫn nhau,chồng lấn lên nhau Cách phân biệt các nội hàm vừa trình bày ở đây là mộtcách, tất nhiên là rất tương đối Theo đó, nhiều khi người ta nói "cá thể người”

là thành phần của loài người đã bứt ra khỏi loài vật vừa chứa đựng thành tựutiến hoá của thế giới vật chất, nhất là của thế giới sinh vật, tức là vẫn chịu sựchi phối của các thế giới đó, vừa thoát ra ngoài vòng cương tỏa của các thếgiới đó, tức là đứng ngoài sự chi phối của các thế giới đó: vừa chịu tác độngcủa các quy luật trong vũ trụ (luật "trường" ) vừa chịu tác động của các quyluật sinh vật, vừa bắt đầu chịu tác động của các quy luật xã hội

Tiến lên một bước nữa trong thang phát triển ta có "cá nhân người":một thành viên của xã hội, kẻ mang tổng hòa các quan hệ xã hội, vừa chịuảnh hưởng của chúng, vừa góp phần tạo ra chúng Từ đây sự tồn tại và pháttriển của con người sau khi cơ thể, nhất là não bộ đã định hình xong ở tuổithiếu niên (13-14 tuổi), và đến tuổi thanh niên (trên dưới 20 tuổi) chủ yếu diễn

ra ở ngoài cơ thể, theo quy luật xã hội, hay nói chính xác hơn, theo quy luật

xã hội - lịch sử hay lịch sử - văn hoá Và bậc thang tiếp theo, cũng là bậcthang cao nhất, là “nhân cách người" - chủ thể của hoạt động, đưa tính cá thểlên trình độ khá hoàn chỉnh, tính cá nhân (cá tính) lên trình độ mới với nét đặc

Trang 4

trưng là con người phân biệt được khách thể và chủ thể: phân biệt được tồntại ở ngoài tác động vào ta, tác động ở trong ta vào ta, phân biệt khi nào bảnthân ta là chủ thể, khi nào bản thân ta là khách thể Mác và Ăngghen trongTuyên ngôn của Đảng cộng sản đã nhấn mạnh đến cá tính con người.Anhstanh cũng đã khẳng định: "Đôi khi người ta coi nhà trường chỉ là công cụchuyển giao phần lớn kiến thức đến thế hệ trẻ Nhưng sự thật không phải nhưvậy Tri thức thì khô cằn, còn nhà trường thì phải phục vụ cuộc sống sinhđộng Nhà trường phải phát triển ở cá thể các phẩm chất và năng lực có giátrị cho cuộc sống xã hội Nhưng nói như vậy không có nghĩa là phá hủy các

cá nhân hay các cá nhân trở thành các công cụ đơn thuần của cộng đồng,như những bầy ong, đàn bứớm Một cộng đồng toàn những cá thể đồng loạtgiống nhau, không có độc đáo cá nhân và mục đích cá nhân - thì sẽ là mộtcộng đồng nghèo, không có khả năng phát triển Ngược lại, nhà trường phải

có mục tiêu là đào tạo ra những cá thể suy nghĩ và hành động độc lập những người này coi việc phục vụ xã hội là có ý nghĩa sống còn của mọingười" Và, như đã trình bày ở trên khi nói về hoạt động, con người với tưcách là "nhân cách người" đặt ra được mục đích của hoạt động, có động cơ(động lực nội tại) và biết vận hành các điều kiện khách quan để tạo ra thaotác, hành động và từng hoạt động cụ thể và cả dòng hoạt động (dòng đời) đểđạt từng mục đích cụ “thể" đến mục đích bộ phận và cuối cùng là mục đíchcủa cuộc đời (đường đời, cuộc sống, lý tưởng), thể hiện một lối sống, mộtnhân sinh quan, một thế giới quan Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,C.Mác và Ph.Ăngghen đã mong muốn mỗi cá nhân con người phải có tínhđộc lập, có cá tính

-Khái niệm người, con người hết sức phức tạp, nhiều khi người ta gọi là

"tồn lại người” - một tồn tại mang các đặc điểm của con người, loài người, xãhội Có khi người ta gọi con người là một hệ thống tích hợp mang cả đặcđiểm của vũ trụ, giới sinh học, xã hội, sinh lý, tâm lý, chứa đựng tất cả cáccấp độ (hình thức) phản ánh: cơ học, sinh học, xã hội, tâm lý Đến đây ta tiếpcận vấn đề cấu trúc người

Trang 5

Cấu trúc người, cấu trúc nhân cách là vấn đề rất phức tạp, rất khó, phảidày công nghiên cứu Cấu trúc con người bao gồm cả cấu trúc nhân cách,không chỉ ở trong con người mà còn nằm ở ngoài con người Điều này phùhợp với quan niệm của Mác: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất conngười là tổng hỏa các mối quan hệ xã hội" Đây là tinh thần cốt lõi củaphương pháp tiếp cận lịch sử - xã hại, hoạt động - nhân cách đối với việcnghiên cứu con người Chúng ta có thể tiếp thu các quan niệm trên, đặt toàn

bộ cấu trúc người trong mối quan hệ giữa bản thân với bản thân, và một loạtquan hệ khác mình và người khác, bản thân với xã hội, với tự nhiên và với vũtrụ, v.v Trước mắt, chúng ta tập trung vào vấn đề con người và xã hội.Chẳng hạn như giải quyết như thế nào mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợiích tập thể, lợi ích nhà nước phù hợp với cơ sở khoa học của nó để sử dụngcon người với tư cách là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Nghiên cứu cấu trúc người nói chung, cấu trúc tâm lý, cấu trúc nhâncách nói riêng, phải đề cập một loạt cặp phạm trù sau đây

Đi theo các khái niệm này, các cặp phạm trù này là các quan niệm khácnhau về cấu trúc của con người như thể xác – tâm hồn Còn tâm linh là gì?

Có cái gọi là tâm linh không? Trong tiếng Việt ta bắt gặp “ba hồn, bảy vía”,

“hồn xiêu phách lạc”, v.v… Có phải đây là các đại lượng trong cấu trúc conngười không? Trong đó, khái niệm con người là khái niệm công cụ trung tâmcủa chương trình nghiên cứu con người, vì vậy đề tài phương pháp luận vàcác đề tài khác phải quan tâm thích đáng đến khái niệm này Chắc chắnchúng ta phải thảo luận nhiều lần, ở đây dừng lại nói thêm một cách kháiquán về khái niệm cực kỳ phong phú này Từ xa xưa cho đến bây giờ vẫn còntồn tại một cách hiểu con người như là một tồn tại thần bí Có lúc người ta lạicoi con người như là cây sậy biết nói Hiểu như vậy thì chỉ thấy (hoặc nhấnmạnh) khả năng nói dường như quyết định cuộc đời Có khi lại thấy khônghiểu nổi chính mình, nên có giả định rằng hình như trong mỗi người trần mắtthịt mà ta trông thấy lại có một con người bé xíu - con người tâm linh, mắt takhông thấy, con người "tí hon" này điều khiển con người thể xác kia Theo

Trang 6

cách nhìn này, con người mà ta thấy được chỉ là một thân xác giống nhưmuôn loài trên trái đất Còn cái phần khó hiểu kia thuộc về con người "tí hon”

vô hình đầy ma lực, và do đó đầy bí ẩn Nhưng cứ quan sát kỹ, suy ngẫmsâu, điểm qua các thành tựu triết học, tâm lý học v.v dần dần thấy ra chẳnglàm gì có con người "tí hon” trong con người thân xác, mọi thứ do con ngườilàm ra cũng từ con người thân xác này cả Nhưng thân xác con người, nhìnnột cách kinh nghiệm chủ nghĩa, đâu có khác gì mấy so với các loại động vậtbậc cao, cũng phải ăn, uống, sinh đẻ, sống chết Thế là người ta đưa ra lýthuyết "con người bản năng", con người là một tồn tại sinh vật, hoặc có ngườicho con người từ lúc hình thành tế bào trứng đến lúc 2 tuổi là tồn tại sinh vật,

và theo đây mọi sự sống của con người, mọi thứ do con người làm ra đều bắtnguồn từ bản năng Đúng là con người có bản năng, nhưng bản năng ởngười khác nhiều, khác về chất so với bản năng của động vật Quan sát hàngngày về cách ăn, cách ở, cách bảo tồn và phát triển loài, v v; cũng đủ giúpchúng ta hiểu ra một chân lý triết học như Ph.Ăngghen đã chỉ ra, bản năngcủa con người đã được ý thức hóa Thật khó chó thể chấp nhận cái lý thuyết

"con người bản năng" được

Trong thời đại văn minh cổ đại, ta đã thấy vai trò của công cụ lao độngquyết định sự tiến bộ của loài người nên có lúc người ta đưa ra khái niệm

"con người kỹ thuật” để chỉ tồn tại sống có đặc trưng là biết sử dụng công cụlao động Khi xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, có thể chế xã hội, vàcon người sống trong vòng cương toả của các thể chế xã hội thì xã hội nàocũng có chính tri của nó, từ đó nảy sinh lý thuyết "con người chính trị", mọiứng xử của con người đều có tính chất chính trị Lý thuyết này gần với lýthuyết "con người xã hội" - con người là tồn tại xã hội

Các lý thuyết trên: "con người bản năng”, "con người kỹ thuật", "conngười chính trị", "con người xã hội" đều nói lên một tiêu chí cực kỳ quantrọng của con người Nói tổng quát hơn, bản chất con người không phải là cái

gì có sẵn, hay là cái gì nhất thành bất biến, mà bản chất con người là cái gì

đó được hình thành nên hay bộc lộ ra trong cuộc sống của nó Trong cuộc

Trang 7

sống bằng hoạt động của bản thân, con người mới chịu tác động của cácquan hệ xã hội và nhờ đó con người hội nhập vào các quan hệ đó, góp phầncủng cố, phát triển các quan hệ đó Toàn bộ tồn tại khách quan xung quanhcon người tác động vào con người thông qua các quan hệ xã hội (quan hệsản xuất, quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, quan hệ cộng đồng, quan hệnhóm v.v.), hoặc dưới hình thức của các quan hệ xã hội mà tác động vào conngười Ngược lại, con người có tác động trở lại vào tồn tại khách quan (môitrường tự nhiên, môi trường sinh sống, gia đình, các quan hệ, thể chế xã hội,v.v.) Con người bao giờ cũng cùng với những người khác (nhóm, cộng đồng,giai cấp, dân tộc, v.v.) lao động, học tập vui chơi, đấu tranh, xây dựng Chínhtrong quá trình học tập, lao động đó con người thiết lập nên các mối quan

đó là một quan niệm phù hợp với thực tế khách quan: con người có thể xác

và có tâm hồn, có bản năng và có ý thức, có vật chất và có tinh thần Nhưngthử hỏi con người có "xác" mà không "hồn” thì đâu còn là con người! ở conngười bình thường, cuộc sống bản năng cũng đã được ý thức hoá, ở conngười không bình trường, tức là con người bệnh hoạn, con người sa đọa, conngười của bộ máy phát xít, diệt chủng là những con người trở lại với thú tính,đâu còn cơ chế "ý thức hoá"

Gần đây, có một số tác giả lại đưa ra quan niệm con người như là “cáimáy có suy nghĩ", “cái máy biết lựa chọn", "cái máy biết yêu đương", cácrôbốt Đúng là trong hoạt đồng thần kinh của con người cũng như trong cuộcsống của con người có cơ chế tự điều chỉnh, tự thích nghi, sáng tạo hết sứchoàn thiện mà không có một máy nào sánh kịp, tuy có khoa học phỏng sinh

Trang 8

dựa vào cơ thể một số động vật và người lập mô hình sáng tạo ra máy móc.Người ta sáng chế ra máy tính, vi xử lý, máy đánh cờ, máy làm thơ Có thểmột số thao tác hay công việc nào đó trong cuộc sống hàng ngày đượcchương trình hóa đến khi rất hợp lý thì thành thói quen tốt, làm cho cuộc sốngthoải mái, nhẹ nhàng, ít tốn năng lượng mà hiệu quả lại cao Nhưng conngười vẫn là con người, không phải là cái máy.

Theo quan niệm của chúng tôi, con người, kể cả trẻ em, là chủ thể củahoạt động Con người có muốn nhớ thì mới nhớ, con người suy nghĩ, conngười tiếp thu Mỗi người là chủ thể của hoạt động, hoạt động lao động,hoạt động vui chơi, hoạt động học tập và khi ấy con người có nhân cách Ví

dụ, khi trẻ chơi thì rõ: đúng là trẻ miệt mài, say sưa, có thể nói dường nhưquên hết mọi thứ, tức là nó là chủ thể của hoạt động vui chơi, cốt được chơi.Người lao động cũng vậy, bình thường họ làm một cách nghiêm túc, có tráchnhiệm, có lương tâm và nhắm tới sản phẩm mà lao động phải đạt tới theo quytrình sản xuất, được xã hội chấp nhận, trân trọng, đánh giá cao, nói tóm lại,theo thang giá trị của nhóm người, cộng đồng hay xã hội Như vậy, mỗi ngườiphải tự (có thể có sự giúp đỡ của người khác! Chẳng hạn như thầy giáo,người cùng nhóm trong một quy trình sản xuất, v v) tiến hành hoạt động trongcác mối quan hệ xã hội, theo các thể chế xã hội, luật pháp nhà nước, từ nhàtrường, gia đình đến quy định của nơi sản xuất, vui chơi Nói con người làchủ thể của hoạt động là khẳng định các cấp độ, con người thể xác, conngười tâm hồn, tâm lý, tâm linh, con người ý thức, con người sinh vật xã hội -văn hóa Đồng thời toàn bộ sự tồn tại người ở các cấp độ ấy cũng vận độngtrong sự phát triển nhân cách

II Khái niệm nhân cách

Tâm lý học nhân cách giữ vị trí trung tâm của cả hệ thống khoa học vềcon người, vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn Đối với mọi lĩnhvực liên quan đến yếu tố người, từ công tác chính trị, kinh tế, quản lý, tổchức, đến giáo dục, y tế

Trang 9

Hơn nửa thế kỷ qua, nhờ vận dụng sáng tạo lý luận duy vật biện chứng

về hoạt động của con người vào nghiên cứu thế giới tâm lý, cùng với cáckhoa học khác, như triết học, xã hội học, đạo đức học, tâm lý học đã gópphần làm sáng tỏ một số vấn đề xung quanh nhân cách, như vấn đề bản chấttâm lý của nhân cách, cấu trúc nhân cách, các con đường hình thành nhâncách

Chúng ta khẳng định nhân cách có bản chất xã hội - lịch sử, nghĩa lànội dung của nhân cách từng con người là nội dung của những điều kiện lịch

sử cụ thể trong xã hội cụ thể chuyển vào thành đặc điểm nhân cách của từngngười Ví dụ, các công trình nghiên cứu tâm lý học sinh phổ thông ở Việt Namcho thấy, do sớm tham gia lao động, có đóng góp thật sự vào cuộc sống giađình mà trẻ em ta sớm biết lo toan công việc hàng ngày của gia đình, tinhthần trách nhiệm trong nhân cách hình thành Đồng thời cũng cho thấy phongthái "sản xuất nhỏ” trọng học sinh chúng ta, vì các em sống và lớn lên trongcác quan hệ của nền sản xuất nhỏ Nhân cách được hình thành và phát triểnbằng và trong hoạt động của con người: hoạt động là bản thể của nhân cách

Thế giới tâm lý bao gồm các qua trình nhận thức và tình cảm, ghi nhớ

và chú ý, tính khí và tâm trạng, lời nói và việc làm Nhưng chừng nào nhữnghiện tượng tâm lý ấy có thái độ riêng trở thành thuộc tính của chủ thể, chừng

đó mới có thể nói tới nhân cách của chủ thể ấy Chẳng hạn, nhìn màu sắc đếnmức tinh nhạy, ở đâu có màu sắc là có sự thích thú nhận xét, và cao hơnnữa, biết "chơi" màu, sáng tạo màu, như vậy là từ tri giác đến hình thành cácthuộc tính nhân cách trong hoạt động nghệ thuật tạo hình Các thái độ riêngtrở thành thuộc tính riêng – những nét độc đáo này hợp lại thành bộ mặt tâm

lý, thành nhân cách của từng người Tóm lại, nhân cách là tổ hợp các thái độ,thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tựnhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với bản thân Cácthái độ và thuộc tính ấy chứa đựng ý nghĩa xã hội của nhân cách Theo cáchtiếp cận hoạt động – giá trị, nhân cách tạo nên giá trị xã hội của hoạt động.Giá trị ấy được đánh giá (đo đạc) bằng độ trùng hợp (hay độ xa cách) giữa

Trang 10

thang giá trị và thước đo giá trị của chủ thể và của xã hội (nhóm, cộngđồng…) Từ các công trình nghiên cứu con người (1991-1995), chúng tôi điđến định nghĩa nhân cách như sau: Nhân cách của con người là hệ thống cácthái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước

đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và

xã hội; độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn

Nhân cách các danh nhân như nhân cách Nguyễn Trãi, nhân cách HồChí Minh, … là mẫu hình nhân cách lý tưởng của thời đại; khi độ phù hợp đóphát triển theo chiều âm (-), tức là ngược chiều với thang giá trị và thước đogiá trị của cộng đồng và xã hội, thì khi ấy là tình trạng suy thoái nhân cách Độphù hợp đó nói lên mối quan hệ giữa con người và cộng đồng, xã hội LucienSeve, nhà triết học Pháp, đã định nghĩa: “Nhân cách là hệ thống hoàn chỉnhcác quan hệ xã hội giữa các hành vi ứng xử”

Định nghĩa của chúng tôi rút ra từ các công trình nghiên cứu nhân học,tâm lý học, giáo dục học tiến hành trong thập kỷ vừa qua, và mặt khác, địnhnghĩa này đã và đang có tác dụng chỉ đạo một số công trình nghiên cứu nhâncách người ở nước ta

Trang 11

Tất cả các thái độ riêng ấy đều gắn bó với động cơ chung của cả cuộcsống, cũng như với động cơ cụ thể trong từng hoạt động ở mỗi người Động

cơ là hạt nhân của nhân cách Động cơ có thể là sự thích thú, ham mê, ước

mơ, sự khích lệ, điều kiện bảo đảm cuộc sống, phần thưởng, lợi ích, sự đánhgiá, v.v Trong đó, động cơ cao nhất là lý tưởng của cuộc đời như: một hìnhảnh đẹp, một chân lý khoa học, một chuẩn đạo đức, một sự nghiệp Bằnghoạt động, những điều đó trở thành nhu cầu của cuộc sống ở từng người

Một động cơ có thể có nhiều mức Lấy động cơ học tập của học sinhlàm ví dụ Đi học có thể vì: 1 - Theo bạn mà đi; 2 - Sợ bi Phạt; 3 - Học để cótri thức, để tìm chân lý; v.v tương tự như vậy, cuộc sống là một chuỗi hoạtđộng theo nhiều động cơ nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau Có cácđộng cơ nhằm thoả mãn các nhu cầu tinh thần, như nhu cầu nhận thức, nhucầu tình cảm, nhu cầu giao lưu, v.v là đặc trưng nổi bật của con người, tạonên một nhân cách đẹp, tích cực

Có thể có nhiều cách để tìm hiểu xem một người có hệ thống động cơnào, động cơ nào là động cơ chính Nhân cách là mối quan hệ giữa các hệthống động cơ quy định sự phù hợp trong thang giá trị thước đo giá trị và địnhhướng giá trị của người mang nhân cách đó với cộng đồng và xã hội So sánhhọc sinh ngoan và học sinh chậm tiến, như các công trình nghiên cứu ở ViệtNam cho biết, thấy rõ một bên, trẻ vươn tới những gì thuộc xu thế tiến bộ của

xã hội, còn bên kia, trong quá trình suy thoái nhân cách ngày càng lao vàochỗ trở thành nô lệ các nhu cầu bản năng

Hình thành và phát triển nhân cách

Cùng với nhân học, tâm lý học khẳng định rằng, từ khi có loài người, sựphát triển tâm lý, trí tuệ, nhân cách chủ yếu tuân theo quy luật, lĩnh hội đi sảnvăn hóa vật chất và tinh thần, do các thế hệ trước để lại trong công cụ laođộng, công trình kiến trúc, tác phẩm văn học; khoa học, v.v Tất nhiều, mỗingười phải có thân thể mới có tâm hồn; tâm lý từng người phải có cơ sở vậtchất là hoạt động thần kinh trung ương Nhưng nếu người sinh ra không ở vớiloài người mà ở với sói - như trường hợp xảy ra với hai em bé Ấn Độ, chỉ đi

Trang 12

bằng hai chân, hai tay, không biết nói, không biết cười, không biết ăn theokiểu người, không có thói quen và nhu cầu mặc quần áo thì không có mộtnét nào của nhân cách con người

Như vậy, con người vốn sinh ra chưa có nhân cách Nhân cách là cấutạo mới do từng người tự hình thành nên và phát triển trong quá trình sống -giao tiếp, học tập lao động, vui chơi, v.v Nhân cách không có sẵn bằng cáchbộc lộ dần dần các xung đột bản năng nguyên thuy mà một lúc nào đó đã bịkiềm chế, chèn ép Bằng các hoạt động xã hội, con người ngay từ khi còn nhỏ

đã dần dần lĩnh hội nội dung loài người chứa đựng trong các mối quan hệ xãhội có liên quan tới các hoạt động của trẻ Phương pháp giáo dục có hiệu quả

là tổ chức cho trẻ hoạt động lĩnh hội các nội dung đó mà hình thành nhâncách, chứ không phải là tạo ra các biện pháp cho phù hợp với mức độ trưởngthành của trẻ

Nói theo Lênin, cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thụ tâm lý, đạođức của xã hội mà nó là thành viên Nhân cách của con người hình thành vàphát triển theo con đường từ bên ngoài vào nội tâm, từ các quan hệ với thếgiới tự nhiên, với thế giới do vật do các thế hệ trước và bản thân tạo ra, cácquan hệ xã hội mà nó gắn bó

Toàn bộ công tác giáo dục của chúng ta nhằm xây dựng toàn diện nhâncách của con người Việt Nam sống và làm việc trong thời đại đổi mới Đó lànhân cách của người lao động sáng tạo, năng động, có tay nghề, có tâmhồn chứ không phải con người sống cốt cân bằng với ngoại giới hay chỉthích nghi với xã hội Nhân cách hình thành và phát triển bằng các hoạt động,trong đó có một hoạt động có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành

và phát triển nhân cách là hoạt động giao tiếp, vì tất cả các mối quan hệ có ởcon người, quan hệ người – vật, quan hệ người - máy đều gắn bó bằngcách này hay cách khác với quan hệ người - người Nhất là trong thời đạithông tin, kinh tế tri thức, các quan hệ giao tiếp người - người càng trở nên có

ý nghĩa hơn bao giờ hết Có tổ chức được các mối quan hệ giao lưu tốt mới

hy vọng có được nhân cách tốt Điều đặc biệt quan trọng ở đây là người được

Trang 13

giáo dục có hoà nhập với các mối quan hệ đó hay không Môi trường giáo dụcnhải được hiểu như là hệ thống các mối quan hệ giao lưu và sự hoà nhậpnày Theo ý nghĩa đó, có gia đình tốt chưa chắc đã có môi trường giáo dụctốt Sống trong gia đình, đi học ở nhà trường, sinh hoạt trong đoàn thể và kể

cả trong trường hợp ba tổ chức này có kết hợp với nhau, chưa chắc đã cómôi trường giáo dục tốt Vấn đề là ở chỗ từng tổ chức này, cũng như sự kếthợp của ba tổ chức này có thật sự thu hút được các em vào “luồng” giáo duc

mà chúng ta mong muốn không Nghiên cứu trẻ em chậm tiến vốn sinh ra vàlớn lên trong gia đình nền nếp, tiến bộ, có nhiều điều kiện cho con cái ăn học,

có các quan hệ xã hội phong phú, tốt đẹp đã cho chúng tôi thấy rõ như vậy

III Giáo dục nhân cách theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhân cách là một vấn đề hết sức lớn đối với giáo dục, giáo dục nhâncách là vấn đề trung tâm Xét đến cùng, toàn bộ công việc của giáo dục làgóp phần phát triển con người, hình thành nhân cách, phát triển nhân cách

Giáo dục tạo điều kiện cho mỗi em học sinh được phát triển tối ưu nhâncách của mình mang đậm tính dân tộc, tính xã hội, tính cộng đồng, gắn bó vớigia đình, nhưng lại là một nhân cách riêng Đó là mục tiêu của nền giáo dục

Trong lịch sử, nhân cách con người đã nhiều lần bị hoà tan vào cộngđồng, thậm chí trong xã hội tư bản chủ nghĩa thì nhân cách đã bị tha hóa.Nhân cách chính là bộ mặt tâm lý của mỗi con người cụ thể Nhân cách là hệthống các thái độ của con người Mỗi người phải có một bộ mặt tâm lý riêng,bao gồm các thái độ riêng của từng người Tâm lý của mỗi người đươngnhiên là phản ánh các đặc điểm tự nhiên, đặc điểm xã hội Trong xã hộichúng ta, diện mạo tâm lý riêng của một người phải nổi bật lên một nhân cáchcông dân

Nói cách khác, chúng ta xây dựng nhân cách của con người vừa cóđạo lý, vừa có nhân lý, vừa có công lý – một công dân có đặc điểm nhân cáchriêng của mình là mục tiêu của các nhà giáo dục Cho nên, người ta nêu rõrằng, giáo dục tương lai là làm cho mỗi người đúng là một con người ở trong

xã hội, vấn đề cá tính rất quan trọng

Trang 14

Trong công táo giáo dục, nhiều khi chúng ta đã làm cho học sinh mất cátính Ai có nét gì khác người là thành vấn đề Con người phải có cá tính,nhưng cá tính đó không thể thoát ly khỏi xã hội Do đó phải tập trung làm nổilên con người công dân Khó có hy vọng xây dựng được một mẫu chung chotất cả mọi người Mỗi người là một mẫu của chính mình, nhưng phải tuântheo định hướng chung của xã hội, của cộng đồng, có những nét cá tính rất rõrệt, có bộ mặt tâm lý rất riêng biệt; có hệ thống thái độ đúng đắn với mình vàvới xung quanh; đồng thời phải hết sức nhấn mạnh tính tích cực xã hội, đónggóp cho xã hội.

Suy nghĩ về các tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh và về cuộc đờihoạt động của Người, chúng ta thấy Bác là một tấm gương vĩ đại, sống vàchiến đấu để trở thành người và làm người, trở thành một nhân cách lớn Bác

đã nêu cao tư tưởng: Nhiệm vụ của giáo dục trước hết là dạy học sinh, thế hệtrẻ, các chiến sĩ, các sĩ quan thành người và làm người Hệ tư tưởng Hồ ChíMinh cũng như toàn bộ đời hoạt động của Người đều có xuất phát điểm đầutiên là từ lòng thương yêu con người, đặc biệt thương yêu người nghèo khổ,lầm than, nô lệ, gắn liền với sự tủi nhục trước cảnh "nước mất, nhà tan", vớilòng yêu nước nồng nàn Hệ tư tưởng Hồ Chí Minh thấm đượm lòng nhân ái,chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn Và cả cuộc đời Người, từ hành vi đối xửthường ngày với người xung quanh đến công việt lãnh đạo nhà nước, hoạtđộng quốc tế, ở mọi nơi, mọi lúc đều toát lên tinh thần nhân văn, nhân tạo,nhân ái vô cùng sâu xa và hết sức bình dị, gần gũi với mọi người, cảm hoáđược mọi người, mang lại một tác dụng to lớn cho cách mạng, cho dân tộc vàcho cả loài người Chính vì vậy, Hồ Chí Minh được thế giới tôn vinh là anhhùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa, người chiến sĩ và nhà lãnh đạolỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân Tên tuổi Hồ ChíMinh gắn liền với sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc, giảiphóng giải cấp

Nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách Việt Nam tiêu biểu, được hun đúctrong hệ thống giá trị truyền thống của mấy nghìn năm lịch sử hùng tráng,

Trang 15

quật cường, bất khuất, hy sinh và chịu đựng của dân tộc Việt Nam và xu thế

tự giải phóng của loài người Nhân cách ấy đã có ảnh hưởng to lớn đến sựhình thành và phát triển nhân cách ngày nay ở nước ta Tinh thần Hồ ChíMinh, nhân cách Hồ Chí Minh tạo ra sức mạnh tâm lý kỳ diệu Hồ Chí Minh đã

và đang góp phần tạo ra diện mạo tâm lý hoàn toàn mới mẻ của cả mấy thế

hệ, suy rộng hơn, của cả một dân tộc, một thời đại Chính đó là sức mạnhgiúp chúng ta giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và biết bao thànhtích kỳ vĩ khác

Diện mạo tâm lý ấy chính là nhân cách với các hệ thống thái độ mangmột chất lượng mới, khác hẳn trước đó:

Thái độ với đất nước: "Tận trung với nước, tận hiếu với dân"

Thái độ đối với giá trị con người: "Ai giữ được đạo đức đều là ngườicao thượng"

Thái độ đối với lao động: "Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồnsống, nguồn hạnh phúc của chúng ta"

Thái độ với bản thân: luôn luôn có tinh thần phê bình và tự phê bình;

"ham học, ham làm, ham tiến bộ"

Nói về tư cách người cách mạng, trong tác phẩm Đường Kách mệnh,Người viết:

Tự mình phải

Cần kiệm

Hoàa mà không tư,

Qủa quyết sửa lỗi mình

Trang 16

Vị công vong tư.

Không hiếu danh, không kiêu ngạo

Đối người phải:

Với từng người thì khoan thứ

Với đoàn thể thì nghiêm

Có lòng bày vẽ cho người

Trực mà không táo bạo

Hay xem xét người

đề nghị xếp sắp lại cấu tạo đó theo trình tự ưu tiên: thái độ, tri thức, kỹ năng

Vấn đề đang đặt ra hiện nay là, trong cơ chế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khi quy luật giá trị tác động

rõ rệt ở khắp mọi nơi, thang giá trị đang có biến đổi mạnh, kéo theo nhữngbiến động mạnh trong nhân cách, trong hệ thống thái độ, chúng ta phải tiếnhành tác động vào định hướng giá trị của xã hội, giáo dục giá trị và định

Trang 17

hướng giá trị cho học sinh, cho thế hệ trẻ Vấn đề là phải tạo ra một thang giátrị lành mạnh, thước đo giá trị hợp lý, phát huy tính tích cực có lợi cho xã hội

và từng cá thể, tính năng động của cả cộng đồng và xã hội, giải phóng mọisức sáng tạo, mọi lực lượng sản xuất, tạo ra năng suất lao động cao ở mọilĩnh vực của đời sống, nâng cao hiệu quả của tất cả các hoạt động của mọingười

Giáo dục nhân cách là cốt lõi của công việc giáo dục cho thế hệ trẻ vàtoàn xã hội cũng như giáo dục của từng cá thể Giáo đục nhân cách là cốt lõicủa sự hình thành và phát triển con người: giáo dục là dạy và học làm người.Con người, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, có cấu trúc nhân cách là đức và tài,trong đó đức là nền tảng Thành tố tài có tiểu cấu trúc là các năng lực Thành

tố đức có các tiểu cấu trúc cơ bản là cần, kiệm, liêm, chính

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta hãy cùng nhaumột lần nữa làm cho nhân cách Hồ Chí Minh - nhân cách tiêu biểu Việt Nam

và tư tưởng tâm lý học nhân cách và giáo dục nhận cách của Người trở thànhhạt nhân trong thang giá trị của xã hội ta, định hướng giá trị cho mọi người,phát huy các giá trị truyền thống dân tộc, tạo thành một sức mạnh mới, ý chímới

Chúng ta hãy hết lòng, hết sức giáo dục con em thành người và làmngười với những đức tính:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn,lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình,độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Có tinh thần tích cực đóng góp cho xã hội, đoàn kết, phấn đấu vì lợiích chung “ ”

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống, văn minh, cần kiệm, trung thực,nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước cộng đồng; có ý thứcbảo vệ và cải thiện môi trưởng sinh thái

Trang 18

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo,năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình

độ thẩm mỹ và thể lực

B VỀ NHÂN CÁCH VÀ NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH

PGS TS LÊ ĐỨC PHÚC

Từ trước tới nay, nhân cách với tư cách là hiện tượng tâm lý và xã hội

đã được nhiều người nghiên cứu trên những lĩnh vực khác nhau Giới tâm lýhọc ở Việt Nam cũng thường bàn về vấn đề này, ví dụ như: Nguyễn NgọcBích, Phạm Hoàng Gia, Phạm Minh Hạc, Trần Hiệp, Hoàng Xuân Hinh, ĐặngXuân Hoài, Bùi Văn Huệ, Đỗ Long, Nguyễn Đức Minh, Trần Trọng Thuỷ,Nguyễn Quang Uẩn Bên cạnh những bước tiến đáng ghi nhận, chúng ta cóthể thấy vẫn còn nhiều điều cần được tiếp tục làm sáng tỏ, nhất là khi nghiêncứu theo yêu cầu và trong những điều kiện mới ở nước ta Tuy nhiên, do đây

là một đề tài lớn, đang có nhiều nhóm chuyên gia khác nhau cùng thực hiện,nên chúng tôi chỉ trình bày quan niệm về lý luận và phương pháp, góp phầntạo ra sự định hướng hành động cụ thể, thống nhất

hệ giữa các quy luật, được gắn kết lôgic với nhau theo các quy tắc diễn dịchnhất định và trật tự nào đó Tôi lựa chọn hai trong nhiều định nghĩa khác nhau

đó để muốn chứng minh rằng: a) Lý luận còn được hiểu không giống nhau; vàb) Nếu không xuất phát từ nhận thức luận (là chủ yếu) thì khó phát hiện được

Trang 19

cái đúng hoặc cái sai, cái chưa tường minh trong từng định nghĩa Cụ thể,trong định nghĩa thứ nhất, hệ thống những tư tưởng phải phản ánh được cácquy luật và kinh nghiệm thực tiễn, bao hàm cả kết quả thực nghiêm khoa học.Trong khi đó, định nghĩa thứ hai vừa không phù hợp với tâm lý học như tácgỉa khẳng định trong ấn phẩm đã dẫn, vừa bỏ qua mối quan hệ với thực tiễn.

Vì thế, chúng ta có thể cho rằng lý luận là một hệ thống những tư tưởng phảnánh các quy luật và những mối quan hệ giữa các quy luật, được khái quát từkinh nghiệm và kết quả nghiên cứu khoa học, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn

Việc đánh giá và lựa chọn lý luận diễn ra theo quan niệm và hình thứckhác nhau mà nhiều nhà nghiên cứu đã tổng kết như: theo trực giác, dựa vào

uy tín hoặc đa số, so sánh với những lý luận khác, v.v Tuy nhiên, rốt cuộc vàtrên bình diện khoa học, người ta cũng đã đưa ra một số tiêu chí sau đây:

1 Tính nhất quán bên trong (internal consistency);

2 Tính nhất quán bên ngoài (external consistency);

3 Khả năng kiểm nghiệm (testability); và

4 Khả năng giải thích (explanatory power)

Trước khi xem xét vấn đề nghiên cứu hiện nay, chúng ta hãy điểm quamột số quan điểm lý luận và thực tiễn khác nhau

2 Khát quát lịch sử nghiên cứu nhân cách

Trong cuốn “Chủ nghĩa Mác và lý luận về nhân cách", ngay trongnhững câu mở đầu chương IV, Lucien Seve có dẫn một câu của P.Janet nhưsau: "Liệu con người đến một ngày nào đó có tạo rạ được những tiến bộtương tự trong thời gian như đã tạo ra được trong không gian hay không?.Câu hỏi ấy thiết tưởng cũng có thể được nêu lại sau nhiều thập niên khi xemxét tinh hình nghiên cứu, phát triển tâm lý học nhân cách ở nước ngoài Song,

tự bản thân nó, việc giải quyết nhiệm vụ này là vô cùng phức tạp, khó khăn

Theo nhận thức luận, vấn đề đầu tiên liên quan đến sự tồn tại (haykhông) của một khoa học bất kỳ là đối tượng hay phạm vi đối tượng của nó

Trang 20

Đã có một thời, như L Canestrelli thốt lên: “Nhân cách là một cấu tạo tinhthần của chúng ta”, nhiều người cho rằng những vấn đề định nghĩa của tâm lýhọc nhân cách dường như không chỉ là chưa được giải quyết mà còn làkhông thể giải quyết nổi Như thế, sự quan tâm đến nhân cách trước hết là ởchỗ này.

Theo dòng lịch sử và loại trừ tâm lý học tư biện, người ta phải coi năm

1879, khi W.Wundt thành lập phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thếgiới, là cái mốc của sự phát triển tâm lý học hướng theo tinh thần khoa học.Tuy nhiên, về nhân cách, W.Wundt và các học trò của ông đã đi theo cáchthức của thực nghiệm khoa học tự nhiên Nhân cách mất đi sự thống nhất và

bị chia thành những bộ phận riêng lẻ thoát ly khỏi những điều kiện, hoàn cảnhsống cụ thể, đa dạng của nó

Khoảng hai thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, nhiều nhà tâm lý học, trên

cơ sở những tiến bộ mới trong tâm lý học, đã phê phán tâm lý học thựcnghiệm truyền thống và xác định những phương hướng mới Thoạt tiên, đó là

sự khẳng định vấn đề nhân cách con người phải là trọng tâm của tâm lý học

và nhấn mạnh tính toàn vẹn, mối quan hệ đa dạng của nhân cách Tuy nhiên,

đó mới chỉ là tuyên ngôn, còn trong thực tế, tâm lý học vẫn chưa có khả năngbước hẳn qua được nhịp cầu trở ngại đó mà điển hình nhất là tâm lý học saibiệt

Những quan niệm của tâm lý học sai biệt khi nghiên cứu các quá trìnhtâm lý chịu ảnh hưởng của tâm lý học thực nghiệm đại cương và đại diện của

nó là F.Galton với tác phẩm "Về những năng lực của người (1883) cũng nhưW.Stern với công trình "Tâm lý học sai biệt và những cơ sở phương pháp củanó" (1921) H.D.Schmidt đã tóm tắt nội dung tinh thần của xu hướng này nhưsau:

- Tâm lý học sai biệt không phải là tâm lý học thực sự về cá tính mà chỉnghiên cứu những sự khác nhau chủ yếu của các chức năng và thuộc tínhtâm lý, do đó là cầu nối giữa tâm lý học đại cương với việc tìm hiểu các cátính về tâm lý học;

Trang 21

- Những sự khác biệt trong mỗi chức năng được quy về những hìnhthức cơ bản những “kiểu” nào đó hoặc được xem xét theo một thang bậclượng hoá chúng;

- Các đặc điểm của những chức năng riêng rẽ được nghiên cứu trong

“tương quan" tạo nên nguyên tắc tổng hợp chủ yếu nhất của tâm lý học saibiệt;

- Tâm lý học sai biệt đã phát triển những phương pháp mà W.Stern giảithích bằng sơ đồ cơ bản sau:

Theo W Stern, tâm lý học phải được xây dựng trên cơ sở của thuyếtnhân cách coi đối tượng của nó là cá nhân, một chính thể sống động, cá thể,độc đáo Nhân cách chỉ là "cá tính toàn vẹn” ("Totale Individualitaet")

Tâm lý học sai biệt góp phần đáng kể vào sự phát triển phương phápluận và phương pháp trong việc so sánh đặc điểm, tương quan (ví dụ, tríthông minh và điểm học ở nhà trường) của (hoặc giữa) cá nhân, nhóm đượcnghiên cứu Ảnh hưởng của nó còn lan rộng cho đến ngày nay Tuy nhiên,tâm lý học không coi đối tượng chủ yếu của mình là sự khác biệt tâm lý mà làchính bản thân cái tâm lý Mặt khác, so sánh chỉ là bước đi sau những quátrình khác trong nghiên cứu Và cuối cùng, không thể chỉ dùng loại chuẩntrung bình thu được từ một tập hợp (population- dù manh tính đại diện) màkhông tính đến yêu cầu hoạt động thực tế

Song, trong một thời gian dài, nhân cách lại được hiểu như là toàn bộcác mặt bẩm sinh quy định hành vi diễn ra theo một phương thức nhất địnhnào đó Trước hết cần điểm lại những xu hướng sinh vật hoá, chú ý nhiều đếnđặc điểm hình thể, thể tạng hay giải phẫu - sinh lý, kiểu loại thần kinh,v.v Có

lẽ cũng vì thế, Ernst Kretschmer đã chia các nhà khoa học thành hai nhóm:phần lớn các nhà triết học, thần học, luật học thuộc loại gày gò, mảnh khảnh,trong khi đó, đa số bác sĩ, các nhà thực nhiệm khoa học tự nhiên lại thuộc loạibéo W.H.Scheldon cũng quan niệm rằng giữa đặc điểm cấu tạo cơ thể(tương đối không phụ thuộc vào giới tính) và những đặc điểm trong phạm vithuộc tính tâm lý có mối quan hệ với nhau Ví dụ:

Trang 22

Các thành phần cấu tạo cơ

Chậm chạp, tập trung, chung thuỷ, dễ nổi giận, ít nói, cứng nhắc…

Theo xu hướng này và chịu ảnh hưởng của thuyết phản xạ có điều kiện(Bechteren, Paplov), chủ nghĩa hành vi nổi lên như một trường phái tâm lý cóảnh hưởng nhất vào đầu thế kỷ XX với Watson, người sáng lập và các đạidiện của nó là G.M.Mead, E.L.Thorndiker, E.C.Tolman, C.L Hull, K.S.Lashley,E.R.Guthrie Có thể coi tuyên bố “tâm lý học là khoa học về hành vi” củaWastson là cương lĩnh của phái này Hành vi được hiểu như những cả độngđáp lại của cơ thể đối với kích thích của môi trường Như X.L.Rubinstein phêphán, đây quả là một thứ “tâm lý học phi tâm lý”

Vấn đề chủ yếu ở đây còn là trong tâm lý học hành vi, người ta đã hoặcphủ nhận ý thức với tư cách là đối tượng của sự nhận thức khoa lọc

Trang 23

(Watson), hoặc quy ý thức vào các quá trình sinh lý (Lashley) Sở dĩ như vậy

vì, như Watson tự giải thích, tâm lý học hành vi ra đời trực tiếp từ những côngtrình nghiên cứu về hành vi của động vật X.L Rubinstein nhận xét rất đúnglà: "Việc quy các hình thức cao cấp của hoạt động con người vào một tổng sốmáy móc hay một tập hợp các phản ứng cơ bản, những phản xạ dẫn đến chỗlàm mất đi tính độc đáo về chất của nó"

Khi đề cập những vấn đề cơ sở nhận thức luận của tâm lý học tri giác,N.Bischof chia chủ nghĩa hành vi thành ba nhóm:

a) Chủ nghĩa hành vi dung tục (vulgar) coi hành vi là đối tượng nhậnthức, phủ nhận cái tâm lý Do đó, việc nghiên cứu nhân cách theo Watson chỉ

là nghiên cứu hệ thống các thói quen tạo thành nhân cách;

b) Chủ nghĩa hành vi phương pháp luận (methodological) cũng xuấtphát từ hành vi, coi đó là đối tượng nhận thức Chủ nghĩa này, không loại trừ

sự tồn tại của các hiện tượng tâm lý nhưng lại cho rằng không thể nào hiểubiết chúng một cách khoa học Với công thức R-f (S), trong đó R là hành vi và

S là kích thích nhân cách, đối với Skinner, chỉ là một thực thể hoàn toàn đượcđiều chỉnh từ bên ngoài;

c) Chủ nghĩa hành vi lôgic, hiện là một trường phái nổi bật, cũng quanniệm hành vi là đối tượng khởi đầu nhưng không nhìn nhận các hiện tượngquan sát thấy và đo được là biểu hiện của tâm lý dù tồn tại thực tế, kháchquan

K.Holzkamp, một đại diện của tâm lý học phê phán, cũng như A.Kossakowski đều phê phán bệnh quy rút về hai mặt đó Nếu con người chẳngkhác gì cơ thể động vật thì cái xã hội đã bị quy thành cái sinh học F.Klix nhậnxét cả chủ nghĩa hành vi mới cũng chỉ là một sự mở rộng chủ nghĩa hành viban đầu, chưa khắc phục được phương hướng sai lầm về phương pháp luậnkhi giải thích các hiện tượng và quy luật tâm lý

Các nhóm khác nhau của chủ nghĩa hành vi nói trên có ảnh hưởngkhông ít đối với cả những nhà tâm lý học có tên tuổi Eysenok thể hiện rõ màu

Trang 24

sắc của chủ nghĩa hành vi lôgic với công thức "S - O – R”: Cattell, Guilfordđều coi hành vi là tâm điểm của tâm lý học nhân cách, thậm chí Cattell còngọi tâm lý học của ông là "tâm lý học hành vi” và các khái niệm có liên quantới ý thức như "hứng thú” hay “tức giận” đều phải được định nghĩa bởi biểuhiện của chúng trong hành vi hay sinh lý.

Chủ nghĩa nhân cách (Personalism) gắn liền với tên tuổi của W.Stern(1871 - 1938), người muốn tạo ra sự tổng hợp giữa những thành tựu thựcnghiệm và khoa học tinh thần trong tâm lý học, đã coi nhân cách là hội điểmcủa yếu từ bên trong (di quyền) và yếu tố bên ngoài (môi trường) Do đó, chủnghĩa nhân cách còn được gọi là thuyết hội tụ (Konvergenztheorie), đượcminh họa trong một mô hình cơ học, máy móc

Theo tinh thần của nó, môi trường chỉ có ý nghĩa bổ sung và là sự tiếptục của cái di truyền Màu sắc nội sinh (endogenese) cũng không mấth khi vềsau, nó được thay thế, cải tiến bằng một công thức khác: di truyền x môitrường

Trong tâm lý học theo chủ nghĩa nhân cách, “cá nhân” trở thành mộtkhái niệm trừu tượng, siêu hình, tách khỏi nhân cách mang tính lịch sử, cụ thểcủa con người Cá nhân không chỉ được xem như con người xã hội mà còn là

cơ thể, tế bào, các vật thể vô cơ và thậm chí là nhân dân, thế giới, chúa trời

Tuy nhiên, cũng phải thấy rõ những đóng góp của W.Stern khi chủnghĩa nhân cách muốn khắc phục mặt yếu kém của chủ nghĩa hành vi, mộtthứ tâm lý học phi linh hồn để tạo nên “một khoa học về cá nhân trải nghiệm

và có khả năng trải nghiệm”

Nhân học văn hoá (Culturanthropology), một xu hướng nghiên cứu pháttriển chủ yếu ở Mỹ Xu hướng này được nhắc tới ở đây vì những quan niệm

đề cao khái niệm “văn hoá” của R.Benedict, B.Malinowski, nhất là của M.Mead Ngay từ những năm 1940, R.Linton đã phê phán sự xa rời bản chất vàvai trò của con người Và sau này, ngay cả G.Allport, nhất là A.N.Leonchievtrong cuốn Hoạt dộng – Ý thức – Nhân cách còn chỉ rõ các nhà tâm lý họcnghiên cứu cá thể với tư cách là nhân cách, trong khi đó, văn hoá chỉ là đối

Trang 25

tượng của sử học và xã hội học C.N Cornilov và cả L.Seve cũng thườngđược coi là những người đại diện cho trường phái xã hội hoá này Trong tácphẩm đã dẫn, L.Seve coi "nhân cách là hệ thống sinh động của những quan

hệ xã hội giữa các phương thức hành vi, nhấn mạnh đó là "cơ sở chung, đầy

đủ nhất để xem xét những mặt cơ bản khác nhau của đời sống cá nhân"

Dựa theo những số liệu của dân tộc học, nhân học văn hoá đã đi đếnmột kết luận phản tâm lý, sai lầm rằng các đặc điểm tâm lý cơ bản được quyđịnh bởi văn hoá chứ không phải bởi bản chất con người (A.N.Lêonchiev).Mối quan hệ giữa "văn hoá" và "cá nhân đã có lúc được trình bày đơn giảnnhư sau: Sự phát triển cá nhân được quy định bởi những thói quen chăm sócthời thơ ấu của cha mẹ Những thói quen đó được xem như “những thiết chế

cơ sở", được điều chỉnh bởi những chuẩn mực nhất định phản ánh cả nhữngđiều kiện kinh tế Nhưng những điều kiện kinh tế chỉ là những khả năng có thểtác động tới những thói quen như vậy Và có những yếu tố quyết định củagiáo dục cũng trở nên mờ nhạt trong vai trò “chuẩn bị" cho sự phát triển của

"nhân cách cơ sở” (Basic personality)

Trong những năm gần đây, sự so sánh giữa các nền văn hoá đượctăng cường do bản thân tầm quan trọng của vấn đề, nhưng mặt khác còn do

sự mở cửa của các quốc gia, sự xuất hiện không ít những vấn đề mang tínhtoàn cầu Chẳng hạn, nhiều người trong Câu lạc bộ Mensa, một tổ chức quốc

tế hiện có trên 100.000 người ở trên 100 nước, khi nghiên cứu về trí thôngminh đã kết luận: trí thông minh do văn hoá quy định Ở nước này, đặc điểmnổi trội có thể là tư duy phaant ích, ở nước khác lại là tư duy liên tưởng, v.v

Song, như J.Mathes viết: "Sai lầm tư duy gây nên tình trạng tiến thoáilưỡng nan là do quan niệm cho các nền văn hoá là những thực thể có nhữngđặc điểm độc đáo và con người không phải là cái gì khác hơn là những ngườimang những đặc điểm văn hoá đó”

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, tâm lý học nhân cách ởcác nước phương Tây cố gắng vượt qua những sai lầm, hạn chế trong quanđiểm lý luận – phương pháp luận và cách làm của mình Tuy nhiên, chỉ căn

Trang 26

cứ vào những cuộc thảo luận và một số công trình xuất bản trong những năm

1960 và 1970, ta cũng có thể thấy rõ sự hình thành của hai xu hướng đối lập

cơ bản Nói như H Keuhn và K.Junghaenel, đó là xu hướng mô tả cái riêngbiệt, độc đáo, độc nhất vô nhị trong nhân cách và xu hướng đi tìm các quyluật

Xu hướng thứ nhất trở nên phổ biến đặc biệt ở Mỹ, Đức và Pháp, songcũng có ảnh hưởng ngày càng nhiều ở Bỉ, Ôxtrâylia, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Italia,

Áo, Tây Ban Nha, Nhật Bản, thậm chí cả Nam Mỹ Những đại diện có uy tínnhất là Thomas, Lersch, Arnold (Đức), Allport, Ch.Buhler, Maslow, Rogers,May (Mỹ), Nuttin (Bỉ)

Stanford, Rogers Và Maslow coi đây là "lực lượng thứ ba", là tâm lý họcnhân văn và đi theo thuyết hiện tượng - hiện sinh Roger còn nhận xét đây là

“dòng thống trị” có những tác động quan trọng đối với tâm lý học hiện đại

Lý luận nhân cách của Thomae thường được đánh giá là kinh điển đốivới những ai học và nghiên cứu tâm lý học ở Đức và tại nhiều nước khác.Theo ông, đối tượng nghiên cứu nhân cách là cá nhân độc đáo và thế giới trảinghiệm của nó Thomae coi nhân cách là khái niệm bao hàm tất cả các sựkiện hợp thành một tiểu sử cá nhân, còn bản chất của con người, của nhâncách và cá tính là những phương thức phản ứng độc đáo vốn có tự phát ở cánhân đối với một trải nghiệm mà ông đánh đồng một cách sai lầm với cuộcsống hay sự tồn tại thực dụng nhất Như vậy, Thomae đã quy rút bản chấtthực sự của con người thành một hình ảnh chủ quan mà nhũng cơ sở kháchquan của nó đã được tạo lập trong mỗi cả nhân Nhân cách là "cá nhân vàphản ứng độc đáo của nó” và cá tính là "bí mật của tất cả mọi sự tồn tại”

Tương tự như Thomae, Lersch đề cao "sự biểu hiện cá nhân của mỗingười” Arnold xây dựng quan niệm về nhân cách dựa trên triết học: “Nhâncách là một tồn tại cá nhân nhất định, độc nhất vô nhị, không thể phân chia,được đặc trưng bởi sự thể hiện tính cách do tư chất và môi trường tạo ra”.Ông giải thích thêm: “Nhân cách thể hiện mối quan hệ siêu việt của conngười” và cho rằng nhân cách xuất hiện khi một người hướng theo các lý

Trang 27

tưởng nhân văn trái với đám đông quần chúng chỉ là các “cá nhân” và hướngtheo chủ nghĩa vật chất Có thể nói, Arnold đã đại diện cho cả thuyết nội sinh

và tinh hoa bảo thủ

Nuttin đem lại cho xu hướng chung một màu sắc mới khi định nghĩa cánhân là “một chỉnh thể cấu trúc hoá của những ý kiến, niềm tin, thái độ, địnhkiến, sự ưa thích, thiện cảm và kinh nghiệm” Đối với Nuttin, thế giới kháchquan tồn tại trước hết với tư cách là “thế giới cá nhân” Sự phát triển nhâncách diễn ra bởi các lực lượng ngẫu nhiên bên trong mỗi cá nhân Còn về sựphát triển cá tính, Nuttin chia thành hai bậc: a) “Cá tính sinh học của sinh vật”

và b) “Cá tính tâm lý xã hội” Tầng bậc thứ ba nằm ở trên đó là “tầng bậc nhâncách” Sự phân tầng như thế dẫn đến chỗ tách biệt các cấp độ phát sinh trong

tổ chức tâm lý – sinh lý của nhân cách

Ch.Buehler, nữ đại diện chủ yếu của tâm lý học nhân văn, xác định bảnchất con người là “một cái gì sâu thẳm ở bên trong, không thể nào định nghĩađược”, “cái tự thân” – “hệ trung tâm luôn luôn có trong phôi thai ngay từ lúcbắt đầu cuộc sống cá nhân”, điều khiển các giá trị của cá nhân Nhân cáchcủa một cá nhân được xem xét qua sự độc đáo đó Bà chia ra bốn xu hướng

cơ bản của nhân cách: thoả mãn nhu cầu, thích nghi tự giới hạn, bản thânbộc lộ sáng tạo, duy trì trật tự nội tại Đó là sự mở rộng mô hình của Freud

Rõ ràng, nhân cách và con gười ở đây là một cái gì trừu tượng chứ khôngphải là con người thực trong những điều kiện xã hội Còn cội nguồn của tâm

lý trở thành kẻ tích cực tạo ra sự tồn tại của bản thân Và theo dòng suy tưnhất quán ấy, các nhu cầu của con người chỉ còn là tính dục, tình yêu và sựthừa nhận cái “Tôi”

Xu hướng thứ hai có thể được giải thích bằng tuyên ngôn củaHerrmann: "Chúng tôi coi việc nghiên cứu nhân cách mang tính kinh nghiệm

là xu hướng hoạt động tâm lý học không đòi hỏi phải có những phát biểu vềbản chất” Ông cho nhân cách là "một cấu tạo rất chung mà việc xác định kháiniệm cuối cùng của nó có thể nằm ở cuối chứ không phải ở đầu giai đoạnnghiên cứu nhân cách Do đó, các giai đoạn nghiên cứu thường là: quan sát

Trang 28

(đo đạc) -> xác định mô tả -> giải thích bằng những chút tạo theo giả thiết".Herrmann quan niệm nhân cách, cũng như những đặc điểm của nó, khôngmang tính thực tế khách quan mà chỉ là một "sản phẩm trừu tượng” của tâm

lý học, một “khái niệm diễn giải lý thuyết", "một cấu tạo lý luận chung" mà thôi.Chính vì thế, chiến lược nghiên cứu nhân cách phải bỏ qua cái riêng của mỗi

cá nhân để đi tới những quy tắc, những khái quát hoá, những quy nạp trừutượng Nhưng trong thực tế, không thể tiếp diễn con đường duy tâm chủ quan

và vô căn cứ như vậy

Hệ thống khái niệm của Herrmann bao gồm cả “môi trường”, được chiathành hai loại: môi trường vật chất và môi trường học tập" Loại môi trườngsau được đồng nhất với môi trường kích thích", "môi trường thông tin", "môitrường số liệu” Trong môi trường đó, cá nhân là một hệ thống tiếp nhận, xử lý

và học tập, thông tin (Hình 2)

Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hành vi trong xu hướng này là Cattell.Trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, ông định nghĩa "nhân cách là hành vicủa một người trong một tình huống nhất định" Công thức theo đó là R = f(S,P) với nghĩa R = hành vi, S = kích thích, và P = nhân cách Cattell dùngcách phân tích các yếu tố để tìm ra cấu trúc thứ bậc của các nét nhân cách(traits) Cấu trúc tiên nghiệm của Cattell bao gồm những lớp như sau: kỹ năng

và kỹ xảo, các nét tính cách, bản năng và động cơ, tâm thế và thái độ, cácđặc điểm của vai trò, các trạng thái biến đổi tạm thời

Guilford nêu lên một khái niệm chung, trừu tượng về nhân cách khi xemnhân cách của một cá nhân là "cấu trúc độc đáo của các nét cơ bản”, xuấtphát từ tiền đề “mọi nhân cách riêng biệt đều độc nhất vô nhị” Ông sử dụngmột sự phân loại khác Cattell: Các nét giải phẫu chủ yếu, các nét sinh lý chủyếu, các nét tạo động cơ chủ yếu (nhu cầu, hứng thú, tâm thế), sự phù hợpcủa các năng lực, các nét khí chất

Mô hình của Guilford và Cattell, như G.Witzlack nhận xét, tập trung chủyếu vào những đặc điểm hành vi cá nhân, nhờ đó có thể phân biệt nhanhchóng một cá nhân cụ thể với mọi người khác trong nhóm so sánh theo tinh

Trang 29

thần tâm lý học sai biệt nhưng đã bỏ qua yêu cầu xã hội trong hoạt động thựctế.

Eysenck chú ý tới những lý luận về nhân cách vì cho rằng "các lý luận

về nhân cách là một sự bổ sung quan trọng cho hành vi trị liệu và làm chonhiều sự thật do nghiên cứu mới đây đem lại có thể giải thích được" Nhâncách được ông quan niệm như là một "tổ chức mang tính ổn định ít hay nhiềucủa tính cách, khí chất, trí tuệ và sinh lý củi cá nhân, quy định tính độc đáocủa sự thích nghi đối với môi trường của nó”

Eysenck đã xây dựng cấu trúc nhân cách tương tự như các nhà tâm lýhọc đi theo xu hướng phân tích các yếu tố Nhưng khi xét các mặt nhân cáchquan trọng nhất, yếu tố di truyền, đặc biệt nổi bật ở Eysenck, người ta thườngchú ý đến hai điểm trong mối quan hệ giữa lý luận và phương pháp

Thứ nhất, đó là quá trình tiến hành phương pháp phát hiện cấu trúc tâm

lý của nhân cách

- Ở mức thấp nhất, người ta tìm hiểu những phản ứng đối với kích thích

có thể tiêu biểu cho một cá nhân này không;

- Trong bước thứ hai, các phản ứng theo thói quen (habits) là đối tượngchú ý cùng với xác suất xuất hiện của chúng,

- Bước thứ ba, các phản ứng thể hiện trong những test khác nhau của

cá nhân được so sánh tương quan với nhau và phân tích theo các yếu tố.Các yếu tố nhóm sẽ là những nét cơ bản của nhân cách;

- Bước thứ tư, kiểm tra xem có thể quy các “nét” nào vào một kiểuchung hay tìm cái gọi là yếu tố G Năm 1953, Eysenck đề xuất “cơ cấu một

mô hình toán học về tổ chức nhân cách và rút ra những giả thiết có thể kiểmtra được của mô hình này bằng phương pháp giả thiết – diễn dịch” Đây chỉ là

sơ đồ áp dụng cho kiểu hướng nội (introversion) Ba kiểu khác, hướng ngoại,

ổn định và không ổn định cũng được xem xét như vậy

K Pawlik, G.Witzlack, H Thomae đã phê phán Eysenok ở một số điểm

cơ bản như: a) Hệ thống của Eysenok chỉ có tác dụng phân loại cá nhân một

Trang 30

cách đại thể về một số ít mặt chưa đủ đối với nhân cách trong hiện thực dadạng, phong phú; b) Việc sử dụng các mô hình toán học chưa cho phépkhẳng định có thể phản ánh nhân cách chính xác; c) Những sai lầm vềnguyên tắc của lý luận truyền thống về test vẫn thể hiện trong phân tích cácyếu tố; d) Việc quy hành động thành hành vi theo chủ nghĩa hành vi khiếnkhông thể giải quyết được vấn đề tâm lý trong thực tiễn.

- Vòng tròn trong trình bày bốn loại khí chất theo Hippokrates và Galen;

- Vòng tròn ngoài ghi các chiều đo của Eysenok

Như vậy, mỗi cá nhân đều được xác định đặc tính thông qua vị trí củamình trong hệ thống hai chiều Sự khủng hoảng tiếp tục diễn ra trong tâm lýhọc tư sản Có nhiều cách trình bày và bình luận như của M.Jaroschewski(Tâm lý học trong thế kỉ XX); L.L.Bogiovich (Nhân cách và sự phát triển nhâncách ở tuổi học sinh), L.Seve (Chủ nghĩa Mác và lý luận về nhân cách), H.Keuhn và K Junghaenel (Tâm lý học nhân cách tư sản trong khủng hoàng),v.v… Ở đây, chúng ta hiểu thêm sự phân loại, đánh giá của H.D.Schmidt theo

ba loại mô hình cơ bản

1 Các mô hình thực hiện đề cao những động lực bên trong như nguồngốc hoặc mục tiêu của sự phát triển nhân cách Trong quá trình sinh sống,các động lực được hình thành sẵn sàng phát triển theo một dạng thức biếnthể, có dấu ấn rõ nét hơn Theo S.R.Maddi, những người sáng lập các môhình này là Rogers, Maslow, Adler, Allport, Fromm và những người khác

Theo Rogers, người đã từng giữ chức vụ Chủ tịch Hội các nhà tâm lýhọc Mỹ từ năm 1946 đến năm 1947, cá nhân là một sinh vật luôn cố gắng duytrì tăng cường và hoàn thiện các cơ quan của mình để tri giác và vận động.Nhân cách là phần phân hoá của trường hiện tượng chung, nghĩa là bộ phậnkinh nghiệm của cá nhân, hạt nhân hay cốt lõi của nó Nhân cách xuất hiệntrong quá trình phát triển của cá nhân, thống nhất trong bản thân sự tự ý thức

về nó, kinh nghiệm và sự tồn tại của nó Quá trình “tự hiện thực hoá” được

mô tả như sau:

Trang 31

“Theo quan niệm của tôi, cá nhân có xu hướng hiểu biết và sẵn sàngtrở thành cái mang tính nội tại và có thực… Nó ngày càng lắng nghe tớinhững tầng sâu thẳm nhất của bản chất sinh lý và xúc cảm của nó, và ngàycàng phát triển tinh thần sẵn sàng… thực hiện cái bản ngã”

Rõ ràng, xu hướng này được gọi là “tâm lý học nhân văn” coi cá thể làtrung tâm

Tinh thần đó, cơ chế tâm lý của sự phát triển nhân cách mang nặngmàu sắc tự thân, còn thể hiện ở việc coi trọng vai trò của nhu cầu và nhất là ở

sự phân định thứ bậc của chúng

Khác với Rogers và Maslow khi chú ý đến nguyên tắc thống nhất củanhân cách (đối lập với sự phân chia ra "cái Nó”, "cái Tôi" và "cái siêu tôi"),Adler công nhận vai trò của cái xã hội nhưng vẫn xem nhân cách như là sảnphẩm của sự tác động bản thân của cá nhân, được kích thích bởi sự khắcphục tình trạng khang được che chở an toàn trước thế giới bên ngoài, khắcphục sự thấp kém của mình và cố gắng tự khẳng định bằng cách giành lấy sựthống trị những kẻ khác

Allport cũng đưa kiểu tư duy theo mục đích luận vào tâm lý học nhâncách: Chẳng hạn, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân cách và chủ nghĩahiện sinh, Allport đã viết: "Có một xu hướng trong số các tác giả theo chủnghĩa hiện sinh được nêu lên có Kierkegaard, Jaspers, Sartre, Nuttin,Glodstein) là tìm kiếm một vấn đề chủ định (intentional) cơ bản trong đời sốngcon người… Trong bản chất của nó, con người là bất ổn và đầy sợ hãi; conngười mong muốn cả sự an toàn lẫn tự do” Theo Allport, cốt lõi của bản chấtcon người, cái quy định nhân cách là cái tự thân của cá nhân Cái tự thân(hay còn được gọi là “cá tính cá nhân”) là dấu hiệu chủ yếu nhất của bản chấtcon người Đó chỉ là cách nói khác đi so với tinh thần định nghĩa vào năm

1905 của Klages: “Nhân cách là… cái tự thân cá nhân”

Lý luận của Allport dựa trên quan niệm về “những động cơ tăng trưởng”vốn có ngay từ đầu ở mỗi cơ thể người Allport nêu lên bốn tiêu chuẩn làmcăn cứ:

Trang 32

a) Vật chất cũng như năng lượng đều có đường vào và đường ra;

b) Các trạng thái tự điều chỉnh liên tục xuất hiện và được duy trì làmcho hình thức và trật tự nội tại không bị rối loại nghiêm trọng nhờ sự xuất hiệncủa năng lượng bên ngoài;

c) Nói chung, trật tự tăng lên theo thời gian vì tính phức hợp và phânhoá của các bộ phận ngày một tăng;

d) Ít nhất là trên cấp độ con người cũng có một sự “thoả hiệp”(transaction) với môi trường xung quanh

Với Allport, con người, nhân cách không phụ thuộc vào các quan hệ xãhội và do đó, khái niệm “transaction” cũng không khác gì khái niệm “reaction”của chủ nghĩa hành vi vì như F.Klix phê phán, Allport chỉ nhìn mối quan hệqua lại giữa hệ thống cơ chế với điều kiện bên ngoài qua vật chất và nănglượng

2 Các mô hình mâu thuẫn (conflict) Điểm đồng nhất chung cho những

mô hình này là quan niệm coi cuộc sống, sự trải nghiệm và phát triển của cánhân trước hết là nơi diễn ra hoặc kết quả của sự tác động qua lại của cácđộng lực xung đột, mâu thuẫn với nhau Freud, Murray, Sullivan, Rank, vàJung được nhắc đến như những đại diện của xu hướng này Như đã nói trongphần trước, phân tâm học đề cao cái vô thức, cơ chế của vô thức, dục vọng,

sự hình thành nhân cách với "cái Nó", "cái Tôi" và cái siêu Tôi” Các phe bảothủ trước cái mới, cái lạ cũng như những nhà khoa học cấp tiến, mác xít tiểuphê phán phân tâm học Gần đây nhất, tờ Le Nouvel Observateuuuur còntổng kết 10 cuộc đua tranh giữa sinh lý học thần kinh và phân tâm học (giấc

mơ, nói nhịu, libido (tình dục), vô thức, nụ cười-đầu tiên, trầm cảm, hysteria,tâm thần phân liệt, tự kỷ, chữa khỏi bệnh) với kết quả bất phân thắng bại Tuynhiên, điều cơ bản ở đây là hình ảnh con người, nhân cách mang tính sinhhọc nặng nề

Theo H.D.Schmidt, mô hình mâu thuẫn của Freud có bốn nguồn gốcliên quan đến hoạt động khoa học của ông:

Trang 33

(1) Ảnh hưởng của tư duy sinh lý học và vật lý ở cuối thế kỷ trước;(2) Khi làm tâm lý trị liệu, ông hiểu các hiện tượng thần kinh không phải

là những rối loạn cơ thể mà là những rối loạn chức năng, có liên quan đếnnhững trải nghiệm dồn nén có căn nguyên của chúng trong vô thức;

3) Freud cho rằng những rối loạn thần kinh chắc chắn và trước hết cóliên quan đến những vấn đề tính dục của bệnh nhân;

(4) Nguồn gốc thứ tư được lý giải trong môi trường xã hội ThomasMann đã nói đến ảnh hưởng của triết học hiện sinh và thuyết phi lý khi tiếpxúc với các cá nhân và bệnh nhân thuộc tầng lớp tư sản quyền thế

3 Các mô hình kiên định (consistency) Cơ sở của mô hình này là sựtương tác thường xuyên giữa cá nhân với môi trường bên ngoài Trong quátrình ấy, cá nhân thu thập kinh nghiệm cả về mặt nhân thức, kỹ năng cũngnhư về phương diện cảm xúc Tuy nhiên, nhiều khi, giá trị cần có khôngtương đồng với giá trị hiện có nên cá nhân phải giảm bớt hoặc tăng cườnghoạt động của mình Kiểu mô hình này phù hợp với tinh thần của lý thuyết lý -sinh về cân bằng hay thuyết điều chỉnh cibecnetic Và do những sai lệch, khácnhau tạo thành yếu tố thúc đẩy hành động và phát triển nên không thể xếpcác mô hình này vào số những mô hình mâu thuẫn

Hiện nay có hai loại mô hình kiên định Loại thứ nhất do Kelly và Mc.Clelland chủ xướng, coi những sai lệch khác nhau về nhận thức là nguồn gốccủa các hành động cá nhân Loại thứ hai do Maddi đại diện, tập trung chú ývào những sự khác biệt động cơ và hoạt động

Đối với Kelly, con người là một nhà khoa học theo nghĩa rộng nhất của

từ nay Con người luôn tìm tòi, nhận thức, giả định, kiểm chứng, biến những

gì đã khẳng định thành hệ thống tri thức của mình Kelly thấy có thể mô tảđược nhân cách bằng "những cấu tạo cá nhân” tương đối ổn định, nghĩa làcách thức dùng kinh nghiệm bản thân để mô hình hoá hiện thực

Mc.Clelland đã nghiên cứu nhiều về loại được gọi là động cơ tạo nênthành tích Chằng hạn, ông đã sử dụng một hệ thống tự đề ra để phân tích nội

Trang 34

dung bài vở đối với văn học dân gian và sách giáo khoa ở các nước khácnhau, trong những giai đoạn lịch sử khác nhau và rút ra kết luận là nhữngbiến đổi trong tâm lý con người, cả trong động cơ, không được tạo nên bởinhũng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà ngược lại, bản thân động cơchính là động lực tiên quyết của sự tiến bộ kinh tế Đó là một sai lầm điểnhình khi thiếu một cơ sở khoa học về bản chất tâm lý và nhân cách.

Trong khi đó, Maddi xây dựng một lý thuyết hoạt động mà theo đó, cánhân sẽ đạt tới một trình độ tiêu biểu, đặc trưng cho nó trong quá trình phátsinh cá thể theo một cơ chế điều hoà tạo nên sự cân bằng, khắc phục sựkhác biệt giữa trình độ nói trên và phạm vi mức độ, cường độ ý nghĩa cũngnhư sự đa dạng của kích thích

Khi xem xét, phân tích các nét riêng và chung của các xu hướng và môhình đã trình bày, năm 1937, Allport đã lập bảng so sánh những lý luận vềnhân cách của châu Âu và Mỹ sau đây:

Các thuyết châu Âu nhấn mạnh Các thuyết của Mỹ nhấn mạnh

- Các tư chất bên trong

- Các điều kiện thể tạng

- Kỹ năng có cấu trúc của nhân cách

- Sự tương đối độc lập với xã hội

- Tính tương đối không thay đổi của

nhân cách

- Hành vi bên ngoài

- Các đặc điểm bề ngoài

- Các thành phần vận động của hànhvi

- Các quan hệ giữa người với người

- Tính có thể thay đổi của nhân cáchNhưng đó chỉ là bức tranh quá khứ Tâm lý học ở các nước phươngTây có trình độ phát triển cao đang cố gắng tự vượt mình Mặc dù còn nhữnghạn chế trong quan niệm về nhân cách trong những mối quan hệ với xã hội,với ý thức hệ, niềm tin , người ta đã chú ý nhiều hơn tới khía cạnh nhân văn,tới việc phải xem xét lại bản chất của nhiều khái niệm có liên quan đến nhâncách, đi sâu nghiên cứu nhân cách ở cấp độ hành động thường ngày

Trong lịch sử tâm lý học nhân cách, tâm lý học mác xít và tâm lý họcXôviết trước đây luôn giữ một vị trí quan trọng Cho đến nay, cùng với những

Trang 35

thành tựu của nhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông âu cũi và nhiều dòng tiến bộkhác, xu hướng này đã và vẫn tạo nên những cơ sơ và bước tiến đáng kểtrong nghiên cứu về nhân cách.

Qua thời gian, tâm lý học mácxít đã khẳng định được những quan điểm

cơ bản có ý nghĩa lý luận và phương pháp luận chỉ đạo chung cho hoạt độngnghiên cứu con người và nhân cách

Con người được quan niệm là một thực thể xã hội và do đó, nhân cách,

về nguyên tắc, được quyết định bởi xã hội

Như vậy, những tiền đề sinh học của sự tồn tại con người chỉ là nhữngkhả năng, cơ sở xuất phát của sự phát triển và khác biệt của nhân cách Đó

là tư tưởng khắc phục các quan điểm sai lầm, phiến diện như thuyết bẩm sinh(nativisme) (chẳng hạn như những sự phân loại bắt đầu từ Hippokrates chođến Kretschmer, Eysenok, hay trường phái Pavlov), cách lý giải phi lịch sử(J.Lersch), các xu hướng xã hội hoá tâm lý học (Malinowski), M.Mead và cảKornilov, L.Seve)

Người đề xuất đầu tiên nguyên tắc này là Vưgôtxki với "Tư duy và ngônngữ" (1934) và trước nữa, “Ý thức với tư cách là vấn đề của tâm lý học hànhvi” (1924) Và tiếp theo là “Những vấn đề của tâm lý học đại cương” (1940),

“Những nguyên tắc và con đường phát triển tâm lý học” (1959) Từ đó, nhưA.N.Leonchiev đánh giá, người ta bắt đầu coi tâm lý của con người, họcthuyết tâm lý học cụ thể về ý thức như là hình thức cao nhất của sự phản ánhhiện thực cũng như học thuyết về hoạt động và cấu trúc của nó dưới góc độlịch sử

A.N.Leonchiev, qua những công trình nghiên cứu về hoạt động, hoạtđộng có đối tượng, hoạt động và nhân cách, đã tạo điều kiện cho các nhà tâm

lý học hiểu rõ bản chất, sự hình thành và phát triển nhân cách đúng đắn hơn

Ở đây, cần chú ý tới một số quan điểm sau:

- Nhân cách không phải là một chỉnh thể bao gồm tất cả đặc điểm củacon người – “từ những quan niệm chính trị và tôn giáo cho tới sự tiêu hoá”

Trang 36

- Từ “nhân cách” chỉ được dùng cho người và chỉ bắt đầu từ một giaiđoạn phát triển nào đó Nhân cách là một sản phẩm tương đối muộn của sựphát triển lịch sử xã hội và phát sinh cá thể của con người.

- Cả nhân cách lẫn cá nhân đều là một sản phẩm tương tác của cácquá trình thực hiện các quan hệ sinh sống của chủ thể Con người trở thànhnhân cách khi là chủ thể của các quan hệ xã hội

X.L.Rubinstein cũng nhấn mạnh: “Nhân cách là cá nhân cụ thể, lịch sử,sinh động gắn với những quan hệ thực tế đối với thế giới hiện thực”.P.Galperin tóm tắt ngắn gọn đặc điểm này: “Nhân cách là một sản phẩm xãhội – lịch sử”, đề cao vai trò “chủ thể, chủ thể có ý thức xã hội, có tráchnhiệm”

Tuy nhiên, có những sự bổ sung, cụ thể hoá đôi khi mang đến một vàisắc thái mới Ví dụ, A.V.Petrovxki vừa coi nhân cách là "chủ thể của sự nhậnthức và tích cực cải biến hiện thực”, vừa là “toàn bộ những điều kiện hoạtđộng bên trong của con người để xã hội quy định Nhân cách, đó chính là conngười cụ thể, sinh động với tất cả những ưu điểm và khuyết điểm của nó,những mặt mạnh và yếu của nó được quy định bởi sự tham gia tích cực của

nó vào cuộc sống xã hội và việc giáo dục và đào tạo nó"

- Khi xét khái niệm “nhân cách”, người ta cũng bàn nhiều đến quan hệđối với cuộc sống, hoạt động cụ thể của con người và tính chất khả thi củanó

Obukhowski (Ba Lan) đã trình bày khái niệm theo tinh thần đó Ôngviết: "Nhân cách có thể được định nghĩa là:

a) Những thuộc tính tâm lý của con người mà nhờ chúng Chúng ta cóthể dự báo hoặc chí ít cũng chẩn đoán được các hành động của con người;

b) Những thuộc tính đó là những cấu tạo lý luận, vì thế, kiểu loại và sốlượng của chúng phụ thuộc vào lý thuyết chúng ta sử dụng

Trang 37

c) Những thuộc tính đó phục vụ cho việc dự báo hoặc chẩn đoán hànhđộng có liên quan, vì thế kiểu loại và số lượng của chúng còn phụ thuộc vàonhiệm vụ nghiên cứu”.

Những đặc điểm và sự phát triển nhân cách trong hành động đã từng là

đề tài nghiên cứu của A.Kossakowski, W.Hacker, M.Vorwerg (Cộng hoà dânchủ Đức trước đây), J Reykowski (Ba Lan), D Kondas (Tiệp Khắc cũ) vànhiều người khác

A.Kossakowski, nguyên Chủ tịch Hội tâm lý học Cộng hoà dân chủ Đứctrước đây, đã viết: “Chúng tôi hiểu một nhân cách phát triển toàn diện trongtâm lý học là một người có năng lực và sẵn sàng hành động ngày càng độclập (tự động) và có ý thức trong những phạm vi hoạt động hết sức đa dạng,

có ý nghĩa xã hội trong số tác động cùng tập thể đối với những người khác

Từ đó, có thể thấy việc nghiên cứu nhân cách phải tập trung vào việc phântích các thành phần tâm lý (các đơn vị chức năng, các nội dung, quá trình,các thuộc tính) của sự định hướng và điều chỉnh hành động, trước hết là sựđịnh hướng hoạt động có ý thức của cá nhân, những quan hệ qua lại và sựphát triển của chúng trong quá trình sư phạm

Các nhà tâm lý học Cộng hoà dân chủ Đức quan niệm về nhân cáchnhư sau:

a) Nhân cách là có nhân cụ thể với tư cách là sự thống nhất cơ thể của

nó, những đặc điểm sinh lý và tâm lý của nó;

b) Nhân cách luôn luôn là sự thống nhất đặc trưng cho cá nhân củanhững đặc điểm sinh - tâm lý, luôn luôn là một cá tính phát triển trên cơ sởnhững khuynh hướng cá nhân bẩm sinh và được quy định bởi tiểu sử cánhân;

c) Cá nhân có nhân cách là trước tự nhiên, xã hội và bản thân, nổ thểhiện như là một chủ thể tích cực, có ý thức sáng tạo của sự nhận thức, nhậnthông tin và lao động;

d) Nhân cách là một thực thể cộng đồng tích cực;

Trang 38

e) Nhân cách luôn luôn là một thực thể được quy đinh bởi những điềukiện lịch sử, xã hội cụ thể.

H.D Schmidt coi nhân cách vừa là quá trình, vừa là trạng thái Đây làmột tư tưởng hết sức quan trọng, đặc biệt đối với chẩn đoán tâm lý Và về sựphát triển nhân cách với tư cách là quá trình xã hội hoá, ông có sơ đồ sau:

Những quan niệm xem xét nhân cách trong mối liên quan với ý thức,hoạt động trong cuộc sống thực tế còn khắc phục được thiếu sót và nhữngchỗ chưa hợp lý về cấu trúc nhân cách trong lịch sử tâm lý học trước đây,trong các mô hình tâm lý học nghiên cứu các tầng sâu, trong các cấu trúc thứbậc (Kovaliov, Bogiovich, Platonov…)

Nhìn chung, tâm lý học nhân cách đi theo ba chiến lược nghiên cứukhác nhau:

- Chiến lược nghiên cứu truyền thống, hướng vào các mặt, "các thuộctính" đứng phía sau hành vi mà một cá nhân có;

- Chiến lược nghiên cứu hành vi chủ nghĩa chỉ tìm hiểu cá nhân đanglàm gì;

- Chiến lược nghiên cứu xu thế biến động tâm lý đi tới chỗ giải đáp cánhân đang phản ứng hoặc điều chỉnh hành vi của mình trong những tìnhhuống khác nhau như thế nào

Và đến nay, cuốn tiếp cận nhân cách ngày càng phức hợp hơn trong sựđan xen giữa xã hội hoá và cá thể hóa, giữa cá nhân và các môi trường trảinghiệm thực tế, giữa khả năng hiện tại với yêu cầu khi bước vào thế kỷ XXI

3 Khái niệm "nhân cách"

Hiện có nhiều định nghĩa về nhân cách mà ở đây không nhắc lại Trướckhi xác định nội hàm khái niệm này, chúng tôi chú ý tới một số quan điểm nhưsau:

(1) Thể hiện tinh thần của ba tiền đề (premise) cơ bản:

+ Tính độc đáo ít hay nhiều (singularity);

Trang 39

+ Tính tương đẳng (congruity), theo nghĩa dù thay đổi cũng có thể nhậndạng được;

+ Tính dại diện cho những giá trị tốt hay xấu (dignity) còn có nghĩa lànhân phẩm hay chân giá trị thông qua hành động thực tế 1

(2) Allport đã phân biệt những thuộc tính chung và cá nhân bằng mộtnhận định khái quát là mỗi người, về phương diện nào đó:

+ Đều giống mọi người khác (xét theo các chuẩn mực phổ quát),

+ Đều giống một số người nào đó (xét theo các chuẩn mực nhóm), và+ Chẳng giống ai cả (xét theo phong cách riêng của mỗi người)

(3) X.L Rubinstein khẳng định: “Con người chỉ là nhân cách khi có ýthức xác định các quan hệ đối với môi trường của mình Con người chỉ lànhân cách khi có một diện mạo riêng Con người là chỉ là nhân cách tối đa khithể hiện tối thiểu về tính trung lập (neutrality), về sự thờ ơ (indiffrence), lãnhđạm và tối đa về "tính đảng” trong quan hệ với cái có ý nghĩa xã hội Vì thế, ýthức không chỉ là hiểu biết mà còn là quan hệ - có một ý nghĩa cơ bản nhưthể đối với con người với tư cách là nhân cách" Bàn về khái niệm “nhâncách”, mới đây, trong Tuyển tập Tâm lý học, Phạm Minh Hạc định nghĩa:

“Nhân cách là tổng hoà không phải mọi đặc điểm cá thể của con người, màchỉ là những đặc điểm nào quy định con người như là một thành viên của xãhội, như là một công dân, một người lao động, một nhà hoạt động có ý thức.Nói gọn hơn, nhân cách là toàn bộ những đặc điểm phẩm chất tâm lý của cánhân, quy định giá trị xã hội và hành vi xã hội của nó”

Nghiên cứu những ý kiến khác nhau, chúng tôi định nghĩa: Nhân cách

là cấu tạo tâm lý là phức hợp bao gồm những thuộc tính tâm lý cá nhân, đượchình thành và phát triển trong cuộc sống và hoạt động, tạo nên nhân diện vàquy định giá trị xã hội của mỗi người

4 Cấu trúc nhân cách

Có thể nêu lên hai loại cấu trúc khác nhau

Trang 40

4.1 Cấu trúc chung

Các nhà khoa học trường nói nhân cách là một cấu tạo (construct) tâm

lý Việc xác định đúng và đủ các thành phần cấu trúc của nó là một yêu cầu

về lý luận và phương pháp

Nếu tính từ Aristoteles với “các cấp độ linh hồn” (thực vật – vegetative,động vật – animal và tinh thần hay linh hồn thiên thể - astral) thì cho đến nayphải nói rằng hiện có rất nhiều cấu trúc nhân cách, được xem xét trên cácbình diện khác nhau (tài – đức; trí – đức – thể - mỹ; nhận thức – xúc cảm vàtình cảm – động cơ – ý chí)

Ở nước ta, quan niệm của A.G Kovaliov được nhiều người tán thànhhơn cả với bốn thành phần cấu trúc như sau:

Và trong tác phẩm nói trên, khi bàn về cá nhân và nhân cách,Leonchiev đã nhấn mạnh các đặc điểm của cá nhân và nhân cách liên quanvới nhau nhưng không phải là một Ví dụ, các đặc điểm của hoạt động thầnkinh cao cấp của cá nhân không trở thành các đặc điểm của nhân cách cánhân đó và không quy định nó

Vì thế, J.Strelau cũng khẳng định qua nghiên cứu của mình rằng thực

ra, khí chất và nhân cách khác nhau về nguyên tắc Trong khi khí chất là kết

Ngày đăng: 13/01/2021, 00:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w