Chính vì vậy, việc “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại điểm đến du lịch của thành phố Cần Thơ” nhằm xác định chi tiết những điểm phát triển tốt và những mặt c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
TRẦN THỊ DIỄM HƯƠNG MSSV: B1707338
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI ĐIỂM ĐẾN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 7
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 8
1.2.1 Mục tiêu chung 8
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 8
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 8
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
2.1.1 Tổng quan về du lịch 11
2.1.2 Tổng quan về chất lượng dịch vụ 14
2.2 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 15
2.2.1 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF của Cronnin và Taylor 15
2.2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu 16
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 20
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH THÀNH PHỐ CẦN THƠ 23
3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 23
3.1.1 Vị trí địa lý 23
3.1.2 Đặc điểm địa hình 23
3.1.3 Tài nguyên du lịch tự nhiên 23
3.1.4 Tài nguyên du lịch nhân văn 25
3.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 27
3.2.1 Cồn Sơn 27
Trang 43.2.2 Chợ nổi Cái Răng 27
3.2.3 Nhà cổ Bình Thủy 28
3.2.4 Bến Ninh Kiều 29
3.2.5 Làng du lịch Mỹ Khánh 29
3.2.6 Vườn cò Bằng Lăng 30
3.2.7 Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam 31
3.2.8 Bảo tàng Cần Thơ 31
3.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CẦN THƠ 32
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH CẦN THƠ 34
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 34
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 34
4.1.2 Thực trạng hành vi du lịch của du khách tại Thành phố Cần Thơ 36
4.2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI CÁC ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ 41
4.2.1 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 41
4.2.2 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại điểm đến du lịch thành phố Cần Thơ 44
4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 47
4.2.4 Kết quả hồi quy 51
CHƯƠNG 5 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI CẦN THƠ VÀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 56
5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 56
5.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI CẦN THƠ VÀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 57
5.2.1 Giải pháp về phương tiện hữu hình 57
5.2.2 Giải pháp về năng lực phục vụ 58
5.2.3 Giải pháp về sự cảm thông 58
Trang 55.2.4 Giải pháp về sự tin cậy 58
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
6.1 KẾT LUẬN 59
6.2 KIẾN NGHỊ 59
6.2.1 Đối với sở Văn hóa – thể thao và du lịch Tp Cần Thơ, UBND thành phố Cần Thơ và các cơ quan ban ngành chức năng 59
6.2.2 Đối với các cơ sở kinh doanh và cung cấp dịch vụ du lịch 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 63
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Xây dựng thang đo cho biến nghiên cứu trong mô hình 17
Bảng 3.1: Số lượt khách du lịch quốc tế đến Tp Cần Thơ giai đoạn 2017-2019 32
Bảng 4.1: Giới tính của đáp viên 34
Bảng 4.2: Độ tuổi của đáp viên 35
Bảng 4.3: Nghề nghiệp của đáp viên 35
Bảng 4.4: Thu nhập của đáp viên 35
Bảng 4.5: Trình độ học vấn của đáp viên 36
Bảng 4.6: Tình hôn nhân của đáp viên 36
Bảng 4.7: Mục đích lựa chọn điểm đến du lịch tại Cần Thơ 37
Bảng 4.8: Số lần đã từng đi du lịch tại Cần Thơ 37
Bảng 4.9: Các dịp đến các điểm du lịch tại Cần Thơ 38
Bảng 4.10: Kênh thông tin 38
Bảng 4.11: Đối tượng đi du lịch cùng 39
Bảng 4.12: Tự túc hay đăng ký tour 39
Bảng 4.13: Phương tiện đi du lịch 39
Bảng 4.14: Số ngày lưu trú khi đi du lịch 40
Bảng 4.15: Địa điểm lưu trú 40
Bảng 4.16: Các địa điểm đã ghé thăm khi đi du lịch tại Cần Thơ 41
Bảng 4.17: Hệ số Cronbach’s Alpha các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ điểm đến du lịch tại Cần Thơ 42
Bảng 4.18: Hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố chất lượng dịch vụ điểm đến du lịch tại Cần Thơ 44
Bảng 4.19: Thống kê mô tả thang đo sự tin cậy 44
Bảng 4.20: Thống kê mô tả thang đo sự đáp ứng 45
Bảng 4.21: Thống kê mô tả thang đo năng lực phục vụ 46
Bảng 4.22: Thống kê mô tả thang đo sự cảm thông 46
Bảng 4.23: Thống kê mô tả thang đo phương tiện hữu hình 47
Trang 7Bảng 4.24: Ma trận xoay nhân tố 49
Bảng 4.25: Kết quả nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của điểm đến du lịch tại Cần Thơ sau khi phân tích EFA 50
Bảng 4.26: Kết quả phân tích nhân tố chất lượng dịch vụ 51
Bảng 4.27: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính 53
Bảng 5.1: Cơ sở đề xuất giải pháp 56
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF 15
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 17
Hình 3.1: Điểm đến tham quan cá Lóc bay tại Cồn Sơn 27
Hình 3.2: Chợ nổi Cái Răng 28
Hình 3.3: Nhà cổ Bình Thủy 28
Hình 3.4: Bến Ninh Kiều 29
Hình 3.5: Làng du lịch Mỹ Khánh 30
Hình 3.6: Vườn cò Bằng Lăng 30
Hình 3.7: Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam 31
Hình 3.8: Bảo tàng Cần Thơ 31
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập vào đầu năm 2004, thành phố Cần Thơ (Tp Cần Thơ) trải dài 55km bên bờ sông Hậu, với diện tích 138.900 ha Là một thành phố trẻ, nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, TP Cần Thơ vừa có vai trò quan trọng về phát triên kinh tế là đầu mối giao thông vận tải của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long vừa có tiềm năng to lớn phát triển du lịch, nhất là du lịch sông nước miệt vườn, du lịch gắn với hội nghị, hội thảo, khen thưởng, triển lãm (MICE), du lịch khám phá văn hóa dân tộc và văn minh nông nghiệp… Nơi đây tấp nập diễn ra nhiều lễ hội nổi tiếng như: Lễ hội bánh dân gian Nam bộ, Lễ hội Kỳ Yên Thượng Điền Đình Bình Thuỷ, Ngày hội du lịch vườn trái cây Tân Lộc… Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Du lịch TP Cần Thơ, trong năm 2019, TP Cần Thơ đã đón 8,5 triệu lượt khách du lịch (tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2018) Trong đó khách quốc tế lưu trú đạt 363.811 lượt khách, khách nội địa lưu trú đạt 2.294.929 lượt Tổng thu từ du lịch năm 2019 của TP Cần Thơ đạt 3.785 tỷ đồng (tăng 30,6% so với năm 2018) Qua đó thấy được Tp Cần Thơ có rất tiềm năng phát triển du lịch
và có một vai trò nhất định trong sự phát triển du lịch của vùng ĐBSCL nói riêng và của ngành du lịch Việt Nam nói chung
Tuy nhiên việc đầu tư phát triển, quản lý và kiểm tra chất lượng của các đơn vị kinh doanh du lịch chưa được quan tâm đúng mức Chính vì vậy, việc
“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại điểm đến du lịch của thành phố Cần Thơ” nhằm xác định chi tiết những điểm phát triển tốt và
những mặt còn hạn chế của ngành du lịch Cần Thơ, từ đó đề xuất giải pháp thích hợp thỏa mãn nhu cầu của du khách là vấn đề cấp thiết giúp thúc đẩy phát triển
du lịch của thành phố Cần Thơ
Trang 101.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại điểm đến du lịch của thành phố Cần Thơ, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của khách hàng, hoàn thiện chất lượng dịch vụ tại các điểm
du lịch của Cần Thơ nhằm thu hút khách du lịch
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Cần Thơ
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại điểm đến du
lịch của thành phố Cần Thơ
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của khách hàng, hoàn thiện chất lượng dịch vụ tại các điểm du lịch của Cần Thơ
nhằm thu hút khách du lịch
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện với đối tượng điều tra là những khách du lịch nội địa đã đến du lịch tại Cần Thơ Tuy nhiên do hạn chế về thời gian và tài chính nên việc tiếp cận phỏng vấn đối tượng là du khách chủ yếu được thực hiện
ở những địa điểm tập trung nhiều du khách như Bến Ninh Kiều, nhà lồng Chợ
Cổ, Chợ Nổi Cái Răng và Thiền viên Trúc Lâm Số liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 12 năm 2020 từ việc phỏng vấn du khách đến Tp Cần Thơ Đối tượng nghiên cứu của đề tài liên quan đến chất lượng dịch vụ về chất lượng dịch vụ
du lịch tại thành phố Cần Thơ Khi tiến hành thực hiện đề tài, đối tượng phỏng vấn được chọn là du khách đến Tp Cần Thơ, đối tượng này sẽ được tiến hành phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi để thu thập các thông tin về nhân khẩu học như nhóm tuổi, giới tính, nơi cư trú, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn và mức thu nhập; về hành vi đi du lịch như số lần đến Tp Cần Thơ, người đồng hành, kênh thông tin, hình thức tổ chức chuyến đi; ý định của đối tượng được phỏng vần về việc quay trở lại Tp Cần Thơ trong tương lai; đánh giá mức độ quan trọng các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ về chất lượng dịch vụ du lịch của du khách cũng như những ý kiến của du khách về điểm mạnh và điểm yếu đối với du lịch Tp Cần Thơ
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Lưu Thanh Đức Hải và Nguyễn Hồng Giang (2011) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ du lịch ở Kiên Giang Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát 295
Trang 11du khách Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS, kiểm định thang
đo bằng hệ số Cronbach Alpha, mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) Kết quả có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng du khách bao gồm “sự tiện nghi của cơ sở lưu trú”, “phương tiện vận chuyển tốt”, “thái độ hướng dẫn viên”,
“ngoại hình của hướng dẫn viên” và “hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch”
Lưu Thanh Đức Hải (2014) đã thực hiện nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ du lịch
ở Tiền Giang Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát 1.384 du khách bao gồm 588 khách quốc tế và 796 khách nội địa Số liệu được kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) Kết quả có 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng du khách về chất lượng dịch vụ du lịch bao gồm “Điều kiện vật chất phục vụ du lịch và vấn đề an ninh”, “Chất lượng nhân viên và giá cả dịch vụ”, và “chất lượng dịch vụ ăn uống”
Nguyễn Trọng Nhân và Phan Việt Đua (2015) đã nghiên cứu về chất lượng dịch vụ du lịch tại Bạc Liêu Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng câu hỏi Số lượng phỏng vấn 400 khách du lịch Dữ liệu từ bảng câu hỏi được mã hóa
và nhập trên phần mềm SPSS Với sự hỗ trợ của phần mềm này, các phương pháp được sử dụng để phân tích dữ liệu bao gồm: Thống kê mô tả dùng để tóm tắt số liệu dưới dạng phần trăm; Phân tích tương quan; Phân tích độ tin cậy thang
đo (Scale Reliability Analysis); Phân tích nhân tố khám phá (Exploratary Factors Analysis; Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến) Qua kết quả nghiên cứu thấy được Chất lượng dịch vụ du lịch tỉnh Bạc Liêu chịu sự tác động mạnh của
4 nhân tố “sự tin cậy-tinh thần trách nhiệm-sự đảm bảo-sự đồng cảm”, “cơ sở
hạ tầng và hoạt động bổ sung”, “cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ bổ trợ”, “an ninh trật tự và an toàn” Trong đó, nhân tố “an ninh trật tự và an toàn” tác động mạnh nhất trong 4 nhân tố Thông qua các nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng dịch vụ du lịch tỉnh Bạc liêu, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tỉnh Bạc Liêu Những giải pháp
có giá trị thực tiễn cao được nhóm nghiên cứu khuyến nghị lên các cấp ban ngành có liên quan để ứng dụng vào thực tiễn, góp phần cho du lịch Bạc Liêu phát triển mạnh trong thời gian tới
Hoàng Trọng Tuân (2015) đã khảo sát sự hài lòng của khách du lịch đối với hoạt động tham quan tại các điểm du lịch thuộc tài nguyên du lịch (TNDL) nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) dựa trên 15 chỉ tiêu thuộc 8 tiêu chí đánh giá Khảo sát được thực hiện bằng bảng hỏi với 405 khách du lịch trong nước và quốc tế tại 13 điểm du lịch Kết quả kiểm định Chi-square cho thấy sự hài lòng của khách du lịch có mối quan hệ với các yếu tố: tiếp cận chi phí (giá
Trang 12vé tham quan); sự nhanh chóng, kịp thời; tính độc đáo và hấp dẫn của nội dung tham quan; cơ sở vật chất - kĩ thuật hợp lí; nhân viên phục vụ (thân thiện, am hiểu lĩnh vực phụ trách); sức chứa khách; sự an toàn (đi lại, an ninh, thực phẩm, rác thải)
Nguyễn Thị Trang Nhung và cộng sự (2015) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ (CLDV) du lịch sinh thái (DLST) Các tiêu chí ảnh hưởng đã được đo lường và kiểm định thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach alpha và phương pháp phân tích nhân tố khám phá Số liệu được thu thập năm 2014 với kích thước mẫu là 252 du khách có trải nghiệm tại vườn quốc gia (VQG) Ba Vì Kết quả phân tích hồi quy thứ tự cho thấy loại trừ yếu tố phương tiện vận chuyển thì có 06 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến CLDV gồm: cảnh quan sinh thái; tính đồng cảm; tính đáp ứng; sự đảm bảo liên lạc; khả năng quản lý; và sự an toàn Trong đó “cảnh quan sinh thái” là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất, yếu tố này bao gồm: sự khác biệt so với các khu du lịch trong vùng; cảnh quan đa dạng; phong cảnh giữ được nét tự nhiên Thêm nữa, không
có sự khác biệt giữa du khách nam và nữ về cảm nhận hài lòng đối với CLDV của VQG Ba Vì
Nguyễn Trọng Nhân (2018) đã thực hiện nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách đối với điểm đến du lịch thành phố Cần Thơ Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập dữ liệu
sơ cấp Mẫu nghiên cứu gồm 150 du khách đến du lịch ở thành phố Cần Thơ Các phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để phân tích dữ liệu Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy, tám nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của
du khách đối với điểm đến du lịch thành phố Cần Thơ theo thứ tự giảm dần là:
“Chi phí”, “Nhân viên phục vụ” “Cơ sở lưu trú”, “Cơ sở ăn uống, giải trí và mua sắm”, “Hoạt động tại điểm”, “An ninh và an toàn”, “Cảnh quan và sự đảm bảo sức chứa”, “Vệ sinh môi trường”
Nguyễn Trọng Nhân và Trương Trí Thông (2018) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách nội địa đối với du lịch văn hóa thành phố Cần Thơ Số liệu được thu thập từ 150 du khách nội địa và được xử lý bằng phần mềm SPSS với các phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá Kết quả nghiên cứu cho thấy, 8 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách nội địa đối với du lịch văn hóa ở thành phố Cần Thơ là: (1) Con người và tiện nghi của cơ sở lưu trú; (2) Vệ sinh môi trường; (3) Giá cả dịch vụ du lịch; (4) Văn hóa; (5) Đường giao thông và bến tàu du lịch; (6) An toàn và an ninh; (7) Quà lưu niệm và cơ sở ăn uống; (8) Sự đầy đủ nhà vệ sinh, không gian bãi đỗ xe và mức độ đa dạng cơ sở lưu trú
Trang 13cơ hội để làm tăng doanh thu và lợi nhuận từ việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị Oanh Kiều, 2014)
Theo Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2017) thì du lịch là hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union
of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống
Tóm lại, du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận khác nhau Thông qua một số định nghĩa trên có thể nói du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác (Theo tổ chức Du lịch thế giới (1995); Luật Du lịch Việt Nam 2017)
2.1.1.2 Khách du lịch
Khách du lịch là một khái niệm khá phức tạp, tại mỗi quốc gia khác nhau
sẽ xây dựng khái niệm này theo những chuẩn mực khác nhau Khách du lịch được phân thành 2 nhóm: khách quốc tế và khách nội địa (Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị Oanh Kiều, 2014)
Theo Luật Du lịch Việt Nam, khách du lịch được định nghĩa như sau:
“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.” (Điều 10, chương
4, Luật Du lịch Việt Nam)
Trang 14Theo Liên đoàn quốc tế các tổ chức du lịch (tiền thân của tổ chức du lịch thế giới): “Khách du lịch là người ở lại nơi tham quan ít nhất 24h qua đêm vì lý
do giải trí, nghỉ ngơi hay công việc như: thăm thân, tôn giáo, học tập, công tác” (Department of Economic & Social Affairs, 2010)
Đến năm 1968, tổ chức này lại định nghĩa khác: “Khách du lịch là bất kỳ
ai ngủ qua đêm” Khách du lịch được hiểu là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch là người thực hiện các hoạt đông du lịch Khách du lịch sẽ thực hiện các hoạt động du lịch từ bên ngoài đến các dịa điểm du lịch chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức với môi trường xung quanh, tham gia vào các hoạt động thư giãn giải trí thể thao văn hóa kèm theo là việc hưởng thụ những giá trị tự nhiên kinh tế dịch vụ và qua đên tại cơ sở lưu trú của ngành du lịch (Department of Economic
& Social Affairs, 2010)
Từ những cơ sở trên, có thể nói khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ đến nơi khác để tham quan, vui chơi hoặc kết hợp với các hoạt động hợp pháp khác trong thời gian không quá 1 năm (Theo luật Du lịch Việt Nam 2017; Liên đoàn quốc tế các tổ chức du lịch)
2.1.1.3 Mục đích của du lịch
Trong bất cứ hoạt động nào của con người, họ đều có mục đích nhất định Mục đích có vai trò định hướng hoạt động để đạt được những mục tiêu đã đề ra Cũng như vậy, khi thực hiện đi du lịch, con người cũng mang trong mình những mục đích khác nhau Mỗi người có những đặc điểm tâm lý, sở thích, tôn giáo, trình độ, nghề nghiệp riêng biệt nên mục đích đi du lịch của họ cũng rất đa dạng phong phú Thông thường, người ta nhóm thành hai loại chính: mục đích du lịch thuần túy và mục đích du lịch kết hợp Đối với loại hình thứ nhất, du khách thường có mục đích cụ thể là tham quan, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, thể thao, giải trí Còn loại hình thứ hai, du khách có rất nhiều mục đích kết hợp trong các chuyến du lịch như mục đích tôn giáo, tín ngưỡng, học tập nghiên cứu, công vụ, thể thao, thăm thân, hành hương, Tương ứng với mục đích du lịch của du khách, các loại hình du lịch được hình thành: du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch tôn giáo, du lịch hành hương, Trong đó, loại hình du lịch văn hóa tâm linh cũng giúp cho du khách có thể thực hiện mục đích kết hợp du lịch và tâm linh Các mục đích cụ thể là:
- Tham quan
Tham quan là hành vi giúp du khách quan sát, chiêm nghiệm, tìm hiểu về đối tượng Tham quan cũng là hoạt động quan trọng để du khách nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh hay các điểm đến cụ thể Trong loại hình du lịch văn hóa tâm linh, du khách có thể trực tiếp chiêm nghiệm, tham quan, nghiên
Trang 15cứu kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các di vật tại các chùa chiền, đền miếu, nhà thờ, thánh thát, thánh địa, Từ đó, họ có thể hiểu hơn về những giá trị văn hóa đặc sắc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, lịch
sử, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán,
- Nghỉ dưỡng
Với hoạt động nghỉ dưỡng, du khách có thể phục hồi sức khỏe sau những ngày lao động vất vả cũng như nâng cao khả năng lao động của mình Ngày nay, nhu cầu đi nghỉ của con người ngày càng tăng do sức ép của công việc căng thẳng, của môi trường ô nhiễm, của các quan hệ xã hội, Đặc biệt, nhu cầu tăng lên rõ rệt vào các ngày cuối tuần, các dịp nghỉ lễ Điểm đến cho các chuyến nghỉ dưỡng thường là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục, Trong thời gian nghỉ ngơi, du khách có thể kết hợp tham quan, tìm hiểu các đối tượng gắn với di tích tôn giáo làm cho chuyến du lịch của mình thêm phong phú
- Tham dự lễ hội
Đến lễ hội, du khách được tham gia trực tiếp các hoạt động tôn giáo với không khí náo nhiệt và sống động Các hoạt động đó được tái tạo qua những hoạt động sống của sinh hoạt lễ hội chùa, đền, phủ, quán, nhà thờ, thánh thất Thông qua các thành tố của lễ hội bao gồm các nghi thức, nghi lễ, vũ điệu, trang phục, ẩm thực, họ có thể cảm nhận giá trị văn hóa một cách sống động Tham gia vào lễ hội, du khách hòa mình vào không khí sống động của lễ hội tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng Hơn nữa, du khách còn tìm thấy ở lễ hội bản thân mình, quên đi những áp lực của cuộc sống đời thường Tuy nhiên, du lịch lễ hội
có đặc trưng cố định về thời gian Vì các lễ hội tôn giáo đều được tổ chức theo lịch trình cụ thể mà mỗi tín ngưỡng tôn giáo đã đặt ra Do đó, du lịch lễ hội tôn giáo là có tính mùa vụ Du khách chỉ có thể tham gia vào loại hình này tại những thời điểm đã được ấn định
- Tôn giáo, tín ngưỡng
Từ xưa, các chuyến đi với mục đích tôn giáo như truyền giáo của các tu
sĩ, thực hiện lễ nghi tôn giáo của tín đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo rất phổ biến Ngày nay, du khách hoặc các tin đồ cũng thực hiện các chuyến
du lịch văn hóa tâm linh để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo Đi du lịch với mục đích này trở nên ngày càng phổ biến đối với du khách Không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, dân tộc, họ cùng có chung một nhu cầu tìm kiếm cảm giác bình yên, sự tĩnh tâm từ những chuyến đi Điểm đến của du khách chính là các chùa chiền, đền phủ, nhà thờ, thánh thất, lễ hội, tôn giáo,
Trang 162.1.2 Tổng quan về chất lượng dịch vụ
2.1.2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ
Chất lượng là tất cả đặc điểm, đặc tính của sản phẩm, dịch vụ liên quan tới khả năng làm thỏa mãn những nhu cầu tiềm ân hoặc được xác định Sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng khi nó đáp ứng hoặc vượt mong đợi của khách hàng (Kotler và Keller, 2009)
Có nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ Chẳng hạn như dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng (Kotler và Gary, 2004) Parasuraman và cộng sự (1985) tổng hợp được dịch vụ có ba đặc tính, bao gồm: tính vô hình (mtangibiliy), tính khác biệt (heterogeneity) và tính không thể tách rời (inseparability) Parasuraman và cộng sự (1988) đưa ra thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL để đo lường chất lượng dịch vụ gồm 5 thành phần cơ bản: (1) Phương tiện hữu hình (Tangibles); (2) Độ tin cậy (Reliabiity); (3) Đáp ứng (Responsiveness); (4) Đảm bảo (Assurance); (5) Cảm thông (Empathy) Ngoài
ra để đo lường chất lượng dịch vụ cũng có phương pháp tiếp cận khác, chẳng hạn như Grönroos (1984) đề nghị về chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ và giả trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ bởi ba tiêu chí: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh, hay chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ (Lehtinen, 1982)
Trang 172.2 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.2.1 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF của Cronnin và Taylor
Theo Cronnin và Taylor (1992), có một vài vấn đề không thỏa đáng tồn tại cố hữu trong mô hình SERVQUAL khi dùng lý thuyết về sự bất khẳng định
kỳ vọng để đo lường chất lượng dịch vụ Đặc biệt, Cronnin và Taylor (1992) tranh luận gay gắt rằng nếu thuật ngữ “chất lượng dịch vụ” được xem như là
“tương tự với thái độ” như Parasuraman và cộng sự (1985) đã định nghĩa thì khái niệm này nó có thể được thực thi hóa một cách tốt hơn nếu được khái niệm hóa “Chất lượng dịch vụ” dựa trên thái độ Điều này có nghĩa rằng, chất lượng dịch vụ chỉ nên được đo lường dựa vào sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ hơn là kết quả của việc lấy kỳ vọng của khách hàng trừ đi sự cảm nhận của khách hàng Do đó, việc đưa các thang đo kỳ vọng của khách hàng trong mô hình SERVQUAL là không cần thiết (Carman, 1990; Cronnin và Taylor, 1992)
Để chứng minh cho những phê phán của mình về mô hình SERVQUAL, Cronnin và Taylor (1992) đã tiến hành một cuộc nghiên cứu lớn nhằm điều tra
và xem xét lại tính khả dụng của mô hình SERVQUAL và đề xuất mô hình nghiên cứu SERVPERF chỉ dựa vào kết quả của quá trình cung cấp dịch vụ Nghiên cứu của Cronnin và Taylor cũng dựa trên 5 khía cạnh chất lượng dịch
vụ 1.Cơ sở vật chất của nhà cung cấp dịch vụ (Tangibles), 2.Độ tin cậy của dịch
vụ (Reliability), 3.Sự phản ứng của dịch vụ (Responsiveness), 4.Sự đảm bảo (Assurance), 5.Sự thông cảm (Empathy)) và 22 biến quan sát của Parasuraman
và cộng sự (1988) nhưng chỉ đo lường dựa trên cảm nhận của khách hàng về dịch vụ cung cấp: SERVPERF = Chất lượng dịch vụ được cảm nhận
Nguồn: Corin và Taylor (1992)
Hình 2.1: Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF
Trang 182.2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Sự đa dạng của các mô hình chất lượng dịch vụ phản ánh các cách tiếp cận khác nhau về đánh giá chất lượng dịch vụ Các đề xuất hầu hết đều hướng tới mục đích chung là giúp các nhà quản trị có cái nhìn toàn diện hơn về chất lượng dịch vụ, nhạy bén hơn trong việc xác định các vấn đề chất lượng, từ đó có kế hoạch tốt hơn cho hoạt động phân phối nguồn lực cũng như triển khai các chương trình cải tiến chất lượng
Căn cứ vào các phân tích về mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ cùng những tiêu chí đề ra phía trên, tác giả nhận thấy mô hình SERVPERF của Cronnin và Taylor (1992) là thích hợp nhất để sử dụng trong nghiên cứu phân tích về mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ du lịch tại thành phố Cần Thơ bởi vì: mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos (1984) để đo lường chất lượng dịch vụ bằng sự chênh lệch giữa chất lượng dịch vụ kỳ vọng của khách hàng và chất lượng dịch vụ cảm nhận, trong khi đó, mô hình SERVPERF chỉ đo lường dựa vào cảm nhận của khách hàng Các nhà nghiên cứu khác trên thế giới cũng đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm (Carman, 1990; Teas 1993, 1994) và đưa ra kết luận ủng hộ mô hình SERVPERF Parasuraman và cộng sự (1988) cũng đã thừa nhận về sự hạn chế của mô hình SERVQUAL, đó là tồn tại sự tương quan lẫn nhau trong 5 khía cạnh của chất lượng dịch vụ được cảm nhận bởi khách hàng
Tuy chất lượng dịch vụ và đánh giá chung về chất lượng dịch vụ của khách hàng là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ (Parasuraman và các cộng sự, 1988) Các nghiên cứu trước đây
đã cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự thoả mãn (Cronin và Taylor, 1992) Lý do là chất lượng dịch vụ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, còn kết quả của đánh giá chung về chất lượng dịch vụ chỉ đánh giá được sau khi
Trang 19định mối quan hệ này và kết luận cảm nhận chất lượng dịch vụ dẫn đến đánh giá chung về chung chất lượng dịch vụ Các nghiên cứu đã kết luận rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của đánh giá chung về chất lượng dịch vụ (Cronin và Taylor, 1992) và là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả đánh giá chung chất lượng chất lượng dịch vụ Do đó, tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ về chất lượng dịch vụ du lịch tại thành phố Cần Thơ
TC1 Tại các điểm đến du lịch luôn giới thiệu
đầy đủ nội dung các gói dịch vụ cho khách
hàng
Corin và Taylor (1992); Nguyễn Trọng Nhân và Trương Trí Thông (2018); TC2 Tại các điểm đến du lịch luôn thực hiện
đúng cam kết quy trình hướng dẫn và đáp
ứng như thông báo ban đầu
TC3 Tại các điểm đến du lịch luôn thanh toán
Trang 20Sự đáp ứng
DU1 Nhân viên luôn sẳn sàng đáp ứng yêu cầu
cho khách hàng
Corin và Taylor (1992); Nguyễn Thị Trang Nhung
và cộng sự (2015); Hoàng Trọng Tuân (2015) DU2 Cung cấp dịch vụ nhanh chóng
DU3 Giải quyết phát sinh khiếu nại chuyên
và Nguyễn Hồng Giang
(2011)
NL2 Nhân viên thu ngân luôn giải đáp được
thắc mắc liên quan đến vấn đề thanh toán
của khách hàng
NL3 Nhân viên luôn đầy đủ kiến thức để trả lời
các câu hỏi của khách hàng
Sự cảm thông
CT1 Nhân viên luôn hiểu rõ những nhu cầu của
khách hàng
Corin và Taylor (1992); Nguyễn Thị Trang Nhung
và cộng sự (2015) CT2 Khách hàng luôn được quan tâm khi gặp
khó khăn trong sử dụng dịch vụ
CT3 Hệ thống đường dây nóng luôn sẳn sàng
mỗi khi khách hàng gọi đến thắc mắc, góp
ý
Phương tiện hữu hình
PT1 Phương tiện tham quan đa dạng Corin và Taylor (1992);
Lassar và các cộng sự (2000); Lưu Thanh Đức Hải
(2014)
PT2 Đường giao thông rộng rãi, thuận lợi
PT3 Nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ
PT4 Có nhiều cơ sở lưu trú xung quanh điểm
đến du lịch
Chất lượng dịch vụ
CLDV1 Tôi hài lòng với chất lượng dịch vụ tại các
điểm đến du lịch của thành phố Cần Thơ
Corin và Taylor (1992); Nguyễn Thị Trang Nhung
và cộng sự (2015) CLDV2 Tôi sẽ giới thiệu chất lượng dịch vụ tại các
điểm đến du lịch của thành phố Cần Thơ
cho du khách bè
Trang 21CLDV3 Tôi sẽ tiếp tục sử dụng chất lượng dịch vụ
tại các điểm đến du lịch của thành phố Cần
Thơ khi quay lại
Nguồn: tác giả tổng hợp (2020)
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo, tạp chí khoa học, số liệu thống
kê của Tổng cục thống kê, Sở Văn hóa - thể thao - du lịch Cần Thơ, Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch và các nghiên cứu có liên quan
2.3.1.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc phỏng vấn du khách thông qua bảng câu hỏi để thu thập các thông tin về nhân khẩu học, hành vi đi du lịch như số lần đến Tp Cần Thơ, người đồng hành, kênh thông tin, hình thức tổ chức chuyến đi; ý định, đánh giá mức độ quan trọng về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
dịch vụ tại các điểm đến du lịch của thành phố Cần Thơ
2.3.1.3 Kích thước mẫu
Phương pháp phân tích dữ liệu chính trong đề tài này là phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Phương pháp này đòi hỏi cỡ mẫu phải đủ lớn Tuy nhiên, kích thước mẫu bao nhiêu được gọi
là lớn thì hiện nay vẫn chưa được xác định rõ ràng Hơn nữa kích thước mẫu còn phụ thuộc vào phương pháp ước lượng được sử dụng
Đối với phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA thì số lượng mẫu thường phải ít nhất bằng 4 hay 5 lần số lượng biến quan sát trong phân tích nhân tố (Hair và công sự, 2006) Do mức độ thuận tiện khi tiếp cận với đối tượng phỏng vấn và giới hạn về thời gian cũng như nhân lực mà cỡ mẫu chỉ gấp 4 lần số biến quan sát:
n = 5 x m (m là số biến quan sát) Dựa vào phương pháp xác định kích thước mẫu trên, với m = 16 biến quan sát được sử dụng cho phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, kích thước mẫu cần thu thập dữ liệu sử dụng trong đề tài là: n = 5 x 16 = 80 quan sát Trong quá trình khảo sát để tránh sai sót nên cỡ mẫu được lựa chọn là 130 phiếu
Trang 222.3.1.4 Phương pháp chọn mẫu
Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập phương pháp chọn mẫu thuận tiện Phương pháp này có tính dễ tiếp cận với các đáp viên nên việc thu thập số liệu được thuận lợi và nhanh chóng, đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
2.3.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
Đề tài sử dụng kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, đây là phép kiểm định thống kê, dùng để kiểm tra sự chặt chẽ và tương quan giữa các biến quan sát, nó cho phép ta loại bỏ những biến không phù hợp, hạn chế được các biến rác trong mô hình (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Phương pháp này được sử dụng để kiểm định độ tin cậy của thang
đo và phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng
1 nhân tố đồng thời phương pháp này cho phép loại bỏ những biến không phù hợp Nếu một biến đo lường có hệ số tương quan biến tổng – tổng hiệu chỉnh (Corrected Item – Total Correlation) ≥ 0,3 thì biến đó đạt yêu cầu
Mức giá trị hệ số Cronbach’s Alpha:
+ Từ 0,8 đến gần bằng 1: Thang đo lường rất tốt
+ Từ 0,7 đến gần bằng 0,8: Thang đo lường sử dụng tốt
+ Từ 0,6 trở lên: Thang đo lường đủ điều kiện
Công thức của hệ số Cronbacha’s Alpha là:
α = Nρ/[1 + ρ(N – 1)]
Trong đó: ρ là hệ số tương quan trung bình giữa các mục câu hỏi
2.3.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố EFA
Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) giúp chúng ta đánh giá được hai loại giá trị quan trọng của thang đo đó là giá trị hội tụ và giá trị phân biệt
Phương pháp phân tích nhân tố EFA thuộc nhóm phân tích đa biến phụ thuộc lẫn nhau (interdependence techniques), nghĩa là không có biến phụ thuộc
và biến độc lập mà nó dựa vào mối tương quan giữa các biến với nhau (interrelationships) EFA dùng để rút gọn một tập k biến quan sát thành một tập
F (F<k) các nhân tố có ý nghĩa hơn Cơ sở của việc rút gọn này dựa vào mối quan hệ tuyến tính của các nhân tố với các biến nguyên thủy (biến quan sát) Và phải chú ý đến tiêu chí KMO (Kaiser – Meyer – Olkin) là chỉ số dùng để so sánh
Trang 23độ lớn của hệ số tương quan giữa 2 biến Xi và Xj với hệ số tương quan của chúng Để sử dụng EFA, thì kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) phải
có Sig < 0,05 và KMO phải lớn hơn 0,5:
+ KMO <0,5: Không chấp nhận được
Các nhân tố tương quan với nhau và tương quan với các nhân tố chung,
mà bản thân các nhân tố chung cũng có thể được diễn tả như những tổ hợp tuyến tính của các biến đo lường, thông qua mô hình (Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008):
Fi = Wi1X1 + Wi2X2 + Wi3X3 + + WikXk
Trong đó:
Fi: Ước lượng trị số của nhân tố i
Wi: Quyền số hay trọng số nhân tố được xác định, ước lượng bởi hàm hồi quy
k: Số biến
2.3.2.3 Mô hình hồi quy tuyến tính
hồi quy trong SPSS là bước kiểm định mô hình nghiên cứu sau khi chạy một loạt các phân tích Cronbach’s Alpha, EFA để chọn những biến độc lập thỏa mãn điều kiện cho yêu cầu chạy hồi quy Hồi quy để xác định cụ thể trọng số của từng nhân tố độc lập tác động đến nhân tố phụ thuộc từ đó đưa ra được phương trình hồi quy cũng là mục đích của bài nghiên cứu Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố độc lập lên nhân tố phụ thuộc
Phương trình hồi quy:
Phương trình hồi quy tuyến tính bội dưới dạng tuyến tính:
Y= 𝑏0 + 𝑏1𝑋1 + 𝑏2𝑋2+…+ 𝑏𝑖𝑋𝑖 + 𝑏𝑛𝑋𝑛 + e Trong đó:
Y: biến số phụ thuộc
Trang 24𝑏0: tung độ góc
𝑏𝑖: các độ dốc của phương trình theo các biến 𝑋𝑖
𝑋𝑖: các biến số (các nhân tố ảnh hưởng)
𝑒: các sai số
Mục tiêu của phương pháp hồi quy tuyến tính bội là dựa vào dữ liệu lịch
sử các biến số 𝑌𝑖,𝑋𝑖, dùng thuật ngữ để đi tìm các thông số 𝑏0 và 𝑏𝑖 xây dựng phương trình hồi quy để dự báo cho ước lượng trung bình của biến 𝑌𝑖
Sau khi chạy ra kết quả từ SPSS ta có được hệ số xác định R2 và hệ số đó được giải thích như sau: Như là tỷ lệ (hay phần trăm) biến động của biến phụ thuộc (Y) được giải thích bởi các biến độc lập 𝑋𝑖
Tỷ số F trong bảng kết quả dùng để so sánh với F trong bảng phân phối F
ở mức ý nghĩa 𝛼 Tuy nhiên cũng trong bảng kết quả ta có giá trị Significance
F, giá trị này cho ta kết luận ngay mô hình hồi quy có ý nghĩa khi nó nhỏ hơn mức 𝛼 nào đó
Trang 25CHƯƠNG 3
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH THÀNH PHỐ
CẦN THƠ
3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung – hạ lưu sông Mê Kông, ở vị trí cách trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau 178 km, cách thành phố Rạch Giá 128
km, cách biển khoảng 100 km theo đường sông Hậu, phía Bắc giáp với tỉnh An Giang, phía Đông giáp với tỉnh Đồng Tháp, phía Tây giáp với tỉnh Kiên Giang, phía Nam giáp với tỉnh Hậu Giang Diện tích nội thành là 53 km² Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 1.409,0 km², chiếm 3,49% diện tích toàn vùng và dân số vào khoảng 1.400.200 người, mật độ dân số (tính đến 1/4/2019)
là 885 người/km² Cần Thơ là thành phố lớn thứ năm của cả nước, cũng là thành phố hiện đại và lớn nhất của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông Đơn vị hành chính gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn (5 thị trấn, 36 xã và 44 phường)
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Thành phố Cần Thơ nằm ở trong vùng trung - hạ lưu và ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, trải dài trên 65 km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2, chiếm 3,49 % diện tích toàn vùng Cần Thơ nằm toàn bộ trên khu vực bồi tụ phù sa lâu đời của sông Mê Kông với địa hình tương đối bằng phẳng Cao độ trung bình phổ biến từ 0,2m đến 1m so với mực nước biển, một vài nơi có độ cao từ 1,5m đến 2m, địa hình thấp dần từ đất trồng ven sông Hậu, sông Cần Thơ về phía nội đồng (từ Đông Bắc sang Tây Nam) Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày Thêm vào đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2020)
3.1.3 Tài nguyên du lịch tự nhiên
3.1.3.1 Khí hậu - thời tiết
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long với với các đặc điểm chung như nền nhiệt cao và ổn định, biên độ nhiệt ngày và đêm nhỏ; khí hậu phân hóa thành hai mùa tương phản là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng năm đến tháng mười, mùa khô từ tháng mười một đến tháng tư năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 27oC, lượng mưa trung
Trang 26bình là 1.500 - 1.800 mm/năm, tổng số giờ nắng trong năm là 2.300 - 2.500 giờ,
độ ẩm trung bình đạt 83% Gió có 2 hướng chính là hướng Đông Bắc (mùa khô)
và hướng Tây Nam (mùa mưa), tốc độ gió bình quân 1,8 m/s, thành phố Cần Thơ ít gặp gió bão nhưng thường có giông, lốc vào mùa mưa
Dù chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng Cần Thơ có lợi thế
về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa
4 trong năm Các lợi thế này rất thuận lợi cho việc phát triển hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi, tạo nên sự đa dạng trong sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ ảnh hưởng tới nhiều diện tích của thành phố; mùa khô thường đi kèm với việc thiếu nước tưới, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn làm tăng thêm tính thời
vụ cũng như nhu cầu dùng nước không đồng đều giữa các mùa của sản xuất nông nghiệp (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2020)
3.1.3.2 Địa hình, thổ nhưỡng
Địa hình Tp Cần Thơ là dạng địa hình đồng bằng châu thổ với đặc điểm chung là thấp và bằng phẳng Độ cao trung bình khoảng 1m so với mực nước biển 90% diện tích có độ cao phổ biến từ 0,2 - 1m Địa hình có dạng lòng chảo, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
Nhìn chung địa hình và thổ nhưỡng của Tp Cần Thơ rất thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng và vật nuôi Chính điều này đã đem lại cho Tp Cần Thơ những tiềm năng to lớn về phát triển du lịch theo hướng du lịch xanh, sinh thái kết hợp với tham quan các di tích văn hóa, lịch sử, nhân văn, phát huy ưu thế sông nước, miệt vườn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
3.1.3.3 Sông ngòi và tài nguyên nước
Theo thống kê, trên địa bàn thành phố Cần Thơ có tổng cộng 13 sông Các sông chính bao gồm: sông Hậu (sông liên quốc gia), sông Đờn Dang, sông Rạch Sỏi, sông Ô Môn, sông Cần Thơ, sông Bình Thuận Hiện nay, việc khai thác nước mặt ở Cần Thơ chủ yếu lấy từ nguồn nước sông Hậu, sông Cần Thơ thành phố có khoảng 52 công trình khai thác nước mặt với tổng công suất khoảng 3.459.000 m3 /ngày đêm, cung cấp nước tưới cho mùa khô và có ý nghĩ lớn đối với giao thông đường thủy
Tài nguyên nước trên địa bàn thành phố đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ ăn uống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, tuy nhiên, đang có dấu hiệu suy giảm
về chất lượng nguồn nước Đặc biệt, cần xem xét đến yếu tố lưu lượng nước đầu
Trang 27nguồn An Giang, Campuchia, hoạt động nông nghiệp ngày càng phát triển tại Campuchia là nguồn thải đáng kể ảnh hưởng đến chất lượng nước đầu nguồn của thành phố Cần Thơ trong tương lai Hơn thế nữa cũng cần xem xét đến các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường đất, nước trên chính địa bàn thành phố (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2020)
3.1.4 Tài nguyên du lịch nhân văn
3.1.4.1 Các di tích lịch sử và kiến trúc
Ở Tp Cần Thơ có sự đan xen hài hòa giữa những công trình kiến trúc của người Việt, Khmer, Hoa Có thể nói thành phố này là tập hợp của nhiều sắc thái văn hóa, trong đó mỗi di tích lịch sử hay công trình kiến trúc đều góp vào quần thể một dáng vẻ rất riêng của mình
Đình Bình Thủy: Được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1844, trải qua 3 lần xây dựng và trùng tu, ngày nay đình Bình Thủy (hay Long Tuyền cổ miếu) nằm trên địa bàn phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, xứng đáng là một “kiệt tác” bên dòng Long Tuyền
Nhà cổ Bình Thủy: gia tộc họ Dương đến lập nghiệp ở Nam bộ khoảng cuối thế kỷ XVIII, tính đến nay đã trải qua 6 thế hệ: thế hệ thứ nhất là ông Dương Văn Đạo, tiếp theo là ông Dương Văn Hưng, ông Dương Văn Vị, ông Dương Chấn Kỷ, ông Dương Văn Ngôn và hiện nay thế hệ thứ 6 là ông Dương Minh Hiển Tọa lạc trên một diện tích khoảng 8.000 mét vuông, xung quanh nhà cổ được bao bọc bởi cây cảnh cắt tỉa tỉ mỉ, bốn mùa trổ hoa Cùng với vẻ đẹp cổ kính, cảnh quan được chăm chút khiến cho ngôi nhà luôn mang một vẻ đẹp đầy thơ mộng, tươi mới
Di tích quốc gia Khám Lớn Cần Thơ: được thực dân Pháp xây dựng vào những năm 1876-1886 trên diện tích gần 3.800m2, như một công cụ cai trị của chính quyền thực dân lúc bấy giờ Sau năm 1954, Khám Lớn Cần Thơ được đổi thành Trung tâm cải huấn Nhưng dù tên gọi nào thì Khám Lớn Cần Thơ vẫn là nơi giam giữ, đọa đày các chiến sĩ cách mạng và đồng bào yêu nước Khám Lớn Cần Thơ được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia vào năm 1996
3.1.4.2 Các làng nghề
Nghề đóng xuồng truyền thống Thốt Nốt: Đối với người dân Nam Bộ, chiếc xuồng gắn liền với cuộc sống thường ngày của họ Trải qua nhiều thăng trầm, sự đào thải của xã hội, nghề đóng xuồng dần mai một Tuy nhiên, với việc theo đuổi nghề đóng xuồng truyền thống, nghề đóng xuồng truyền thống Thốt
Trang 28Nốt đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của địa phương và của vùng đất Tây Nam Bộ
Làng nghề bánh Tráng Thuận Hưng: Đã tồn tại hơn 200 năm tại quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ, làng nghề truyền thống bánh tráng Thuận Hưng với hơn 500
lò làm bánh tráng Các sản phẩm tiêu biểu của làng nghề có bánh mặn, bánh lạt, bánh nem và bánh dừa Bánh mặn là bánh để nhiều muối, dẻo và giữ được lâu hơn so với bánh lạt Bánh lạt là loại bánh để nhúng nước cuốn cá nướng, rau sống, rau củ xào chấm với nước mắm chua chua ngọt Bánh nem là bánh có kích
cỡ nhỏ Bánh dừa là bánh có pha thêm nước cốt dừa và mè Hiện nay, Thuận Hưng không chỉ là làng nghề mà còn là điểm tham quan du lịch thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước
Làng nghề chằm nón lá Cần Thơ: Làng nghề chằm nón lá ở ấp Thới Tân
A, huyện Thới Lai không ai nhớ rõ xuất hiện từ năm nào và tổ nghề là ai Tuy nhiên, theo những người làm nghề lớn tuổi ở đây cho biết, nghề này có khoảng trên 70 năm, hiện nay đã thành lập được Nghiệp đoàn chằm nón lá với trên 36
hộ sống với nghề
3.1.4.3 Văn hóa lễ hội
Lễ hội là một phần quan trọng, không thể thiếu trong đời sống tinh thần
và tâm linh của con người Việt Nam Do sự tác động của những điều kiện lịch
sử, kinh tế mà lễ hội cổ truyền của cư dân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có một số nét khác biệt so với các vùng, miền khác trong cả nước Nó vừa kế thừa
di sản tinh thần văn hóa lâu đời của dân tộc vừa tiếp nhận cái mới, cải biên cái
cũ cho phù hợp với thực tế địa phương
Các điểm du lịch lễ hội ở Tp Cần Thơ:
- Lễ hội cúng đình Bình Thủy
- Lễ hội Chùa Ông Cần Thơ
- Lễ hội bánh dân gian Nam Bộ
- Lễ hội trái cây Tân Lộc
- Lễ hội hoa đăng Cần Thơ
Trang 293.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.2.1 Cồn Sơn
Cồn Sơn là địa điểm du lịch miệt vườn nổi tiếng tại Cần Thơ Nó như một hòn đảo biệt lập nằm giữa sông Hậu Nằm cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 8km
Nguồn: mientaycogi.com
Hình 3.1: Điểm đến tham quan cá Lóc bay tại Cồn Sơn
Khu sinh thái miệt vườn gồm hàng chục hộ dân nuôi bè cá, làm vườn trái cây sinh sống lâu đời Đến đây du khách sẽ được tham quan khung cảnh miệt vườn với cây xanh mát Ngoài ra là những điều đặc biệt chỉ có ở Cồn Sơn: xem
cá lóc bay, xem cá ăn cơm, làm bánh dân gian và trải nghiệm nhiều điều hấp dẫn phong cách dân gian Khi đến đây du khách có thể thuê hướng dẫn viên bản địa đi cùng Hoặc tốt nhất là tự khám phá bằng cách đi bộ tham quan xung quanh Khi thích vườn trái cây nào thì cứ việc mua vé vào tham quan (Giá vé ở đây khoảng 15.000 – 30.000đ/vé)
3.2.2 Chợ nổi Cái Răng
Nằm cách thành phố Cần Thơ khoảng 6km, chợ nổi Cái Răng là chợ đầu mối chuyên trao đổi, mua bán các mặt hàng nông sản, trái cây, thực phẩm, ăn uống đồng thời là địa điểm tham quan mang đậm bản sắc vùng sông nước của thành phố Cần Thơ Điều đặc biệt của chợ là các ghe hàng trên sông đều có một cây chèo bẻo, trên đó có treo mặt hàng họ bán với mục đích “quảng cáo” Chiếc ghe, xuống như “căn hộ di động” trên sông nước với đầy đủ tiện nghi, chậu cây cảnh, vật nuôi, xe gắn máy Nếu muốn tìm hiểu cuộc sống của người thương hồ nơi đây, du khách hãy hòa mình vào không khí tấp nập của chợ nổi Cái Răng
Trang 30Nguồn: www.vntrip.vn
Hình 3.3: Nhà cổ Bình Thủy
Trang 313.2.4 Bến Ninh Kiều
Đến Cần Thơ, du khách đừng quên ghé thăm bến Ninh Kiều – Địa danh
du lịch, văn hóa nổi tiếng của thành phố Tọa lạc ở bờ phải sông Hậu, nằm giữa ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ và tiếp giáp với đường Hai Bà Trưng, quận Ninh Kiều, bến Ninh Kiều đã trở thành biểu tượng của thành phố Cần Thơ Với
vẻ đẹp nên thơ, trữ tình, bến Ninh Kiều không chỉ đi vào cuộc sống của người dân miền sông nước mà còn đi vào thơ ca và lòng người Từ bến Ninh Kiều, du khách có thể dễ dàng đi thăm các địa điểm du lịch khác
Trang 32cò như: cò ruồi, cò cá, cò ngà, cò ma, cò xanh, cò lép, cò đúm, cò sen, cò quắm… Đây là một trong những sân chim lớn nhất nơi miệt vườn chín dòng sông
Nguồn: www.vntrip.vn
Hình 3.6: Vườn cò Bằng Lăng
Trang 333.2.7 Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam
Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam nằm cách trung tâm thành phố khoảng 15km, tọa lạc tại xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền Cảnh quan và bản sắc văn hóa kiến trúc thời Lý – Trần ở ngôi chùa rộng nhất miền Tây sẽ làm đem đến cho du khách những cảm giác bình yên khi đặt chân tới
Trang 34Bảo tàng Cần Thơ tọa lạc ngay số 1 Đại Lộ Hòa Bình, phường Tân An, quận Ninh Kiều Với quy mô rộng, Bảo tàng trưng bày rất nhiều hiện vật cổ về đất nước, con người Cần Thơ cũng như vùng đồng bằng sông Cửu Long qua nhiều thời kỳ khác nhau
3.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CẦN THƠ
Những năm gần đây, với sự phát triển du lịch của mình, Cần Thơ ngày càng chú trọng phát triển du lịch và chủ trương của thành phố là phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, việc phát triển du lịch có ý nghĩa rất lớn đối với Cần Thơ
Bảng 3.1: Số lượt khách du lịch quốc tế đến Tp Cần Thơ giai đoạn 2017-2019
Nguồn: Tổng cục du lịch, 2020
Từ kết quả bảng số liệu 3.1, có thể thấy số lượt khách du lịch đến Tp Cần Thơ tăng đều qua các năm Năm 2017, Tp Cần Thơ thu hút khoảng 2.184 nghìn lượt khách du lịch, trong đó lượt khách nội địa khoảng 1.879 nghìn lượt, chiếm
tỷ trọng 86% và lượt khách quốc tế khoảng 305 nghìn lượt, chiếm tỷ trọng 15% Đến năm 2018 số lượt khách du lịch tiếp tục tăng, đạt 2.659 nghìn lượt và năm
2019 số lượt khách du lịch đạt 3.859 nghìn lượt tăng 45% so với năm 2018 Nguyên nhân khiến lượng du khách tăng mạnh trong giai đoạn 2017 đến năm
2019 đặc biệt là có sự đột phá giai đoạn 2017-2018 có thể do sự đầu tư trong hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như: Cầu đi bộ Ninh Kiều, Khách sạn 5 sao Mường Thanh, Khách sạn tiêu chuẩn 5 sao Vinpearl Cần Thơ, Trung tâm thương mại Lotte, sân golf tại Cồn Ấu… cùng nhiều sự kiện lễ hội về du lịch và ẩm thực Hàng loạt đường bay mới được mở ra, kết nối Tp Cần Thơ với
Hà Nội, Phú Quốc, Côn Đảo, Đà Nẵng, Bangkok Sự phát triển đồng bộ về đường bộ, đường thủy và hàng không, đã tạo điều kiện để Tp Cần Thơ kết nối, liên kết trực tiếp với các tỉnh, thành phố là trung tâm du lịch vùng Trong năm
2019, Cần Thơ đón được 3.859 nghìn lượt khách, tổng doanh thu từ du lịch hơn
Trang 354.435 tỉ đồng, tăng 17% so với năm 2018 Cũng theo Hiệp hội Du lịch TP Cần Thơ, trong năm 2019, Hiệp hội đã kết nạp thêm 13 hội viên mới, nâng tổng số hội viên lên 82 Hiện hiệp hội có 8 câu lạc bộ, bao gồm: Khách sạn, Lữ hành, Vận chuyển, Hướng dẫn viên du lịch, Quần vợt, Điểm vườn du lịch quận Cái Răng, Điểm vườn du lịch huyện Phong Điền, Bếp ngon Phương Nam Có thể thấy, thời gian qua, ngành Du lịch thành phố Cần Thơ đã có những bước phát triển đáng kể; công tác quảng bá, xúc tiến du lịch được chú trọng; thu hút nhiều thành phần kinh tế đầu tư vào dịch vụ du lịch; sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng và chất lượng nâng lên Hoạt động du lịch gắn với các sự kiện, lễ hội văn hóa - thể thao cấp vùng, quốc gia và quốc tế được tổ chức ngày càng chuyên nghiệp, tạo ấn tượng tốt đẹp đối với du khách trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thời gian tới, Thành phố này sẽ tiếp tục tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, dịch vụ du lịch; có chính sách phù hợp về thuế sử dụng đất và tiền thuê đất đối với những dự án du lịch, khu du lịch sinh thái; tạo điều kiện cho các hãng hàng không mở đường bay mới và tăng tần suất đường bay sẵn có; thực hiện liên kết cải cách hành chính giữa công
an, hải quan, cảng hàng không và doanh nghiệp để tạo thuận lợi tối đa cho du khách
Riêng dịp Tết Canh Tý 2020, nhờ có nhiều chương trình vui xuân phong phú, hấp dẫn nên Cần Thơ thu hút khoảng 813.060 lượt khách đến tham quan,
du lịch, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước đó Tuy nhiên hai tháng đầu năm
2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, số lượng du khách đến Cần Thơ đang giảm dần Trong tháng 2 và tháng 3, nhiều du khách hủy tour đến Cần Thơ
và nhiều khách từ Cần Thơ cũng hủy luôn tour đi du lịch trong và ngoài nước Điều này khiến hoạt động kinh doanh lữ hành và các dịch vụ liên quan gần như ngưng trệ, tạo ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, đơn vị cung ứng và
sử dụng dịch vụ du lịch Khó khăn chung của các đơn vị lữ hành là áp lực từ phía khách hủy tua và nhà cung ứng bởi phải có trách nhiệm hoàn tiền khi họ là đơn vị kết nối, dùng tiền của khách đặt trước dịch vụ Trong khi đó, thị trường khách du lịch quốc tế vẫn đang tiếp tục “đóng băng” khiến cho du lịch tại ĐBSCL lại càng khó khăn, rất nhiều doanh nghiệp lữ hành và khách sạn lớn trên địa bàn ĐBSCL đã phải ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, buộc người lao động làm việc luân phiên hoặc cho nghỉ không lương từ 60% đến 90% nhân lực
Trang 36CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG
DỊCH VỤ TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH CẦN THƠ
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Bảng 4.1: Giới tính của đáp viên
Qua đây ta thấy, nhóm đối tượng là khách du lịch là người trẻ tuổi thường
có xu hướng thích đi du lịch nhiều hơn đối tượng khách du lịch từ trung niên trở lên Vì người trẻ họ thường thích khá phán những điều mới mẻ, những địa điểm không chỉ có phong cảnh đẹp còn phải nổi trội về văn hóa đặc trưng để kích sự
sự sáng tạo và nhu cầu nâng cao kiến thức, nên đối tượng khách du lịch từ
18-35 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng đáp viên
Trang 37Bảng 4.2: Độ tuổi của đáp viên
tỷ trọng thấp nhấp là các đáp viên có nghề nghiệp thuộc nhóm khác với 4 đáp viên tương đương với 3,28%
Bảng 4.3: Nghề nghiệp của đáp viên
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế, 2020
Trong 122 đáp viên được khảo sát mức thu nhập của đáp viên chiếm tỷ trọng nhiều nhất là từ 5 – 10 triệu đồng Trong đó mức thu nhập từ 5 – 10 triệu đồng có 62 đáp viên tương đương với 50,82% trong tổng đáp viên Tiếp theo là mức thu nhập từ dưới 5 triệu đồng có 41 đáp viên tương đương với 33,61% trong tổng đáp viên Mức thu nhập từ 11-20 triệu đồng chiếm 11,48% tương