1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

80 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 881,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘIBẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG LAN HOA

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội - 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG LAN HOA

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài: Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo

pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

HỌC VIÊN

Dương Lan Hoa

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Được sự phân công của quý thầy cô khoa Luật, đến nay em đã hoàn

thành luận văn của mình với đề tài: Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo pháp luật

Việt Nam từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội

Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo và Ban Giám đốc học viện Đặc biệt em chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Thúy Nga – người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực hiện làm luận văn Một lần nữa

em chân thành cảm ơn cô và chúc cô dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc

Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của luận văn không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy, cô

để bài viết này được hoàn thiện hơn

Một lần nữa xin gửi đến quý thầy, cô và học viện lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!

HỌC VIÊN

Dương Lan Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 6

1.1 Khái niệm, vai trò của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện 6 1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện 18 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện 22

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI 28

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam hiện nay 28 2.2 Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội 34

Chương 3: YÊU CẦU, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI 48

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam trong thời gian tới 48 3.2 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện 49 3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 54

KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng tỷ lệ hưởng chế độ hưu trí 29

Bảng 2.2 Số người tham gia BHXH tự nguyện giai đoạn 2011 – 2019 38

Bảng 2.3 Kết quả số thu BHXH tự nguyện 39

Bảng 2.4 Kết quả người hưởng chế độ hưu trí BHXH tự nguyện 40

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để tồn tại, phát triển con người phải lao động nhằm tạo ra của cải vật

chất phục vụ cho cuộc sống Muốn vậy, con người phải có sức khoẻ và khả năng lao động Trong thực tế, lao động không phải người lao động nào cũng

có đủ điều kiện sức khoẻ, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Ngược lại, không mấy ai tránh được những rủi ro bất hạnh như ốm đau, tai nạn hay già yếu, chết hoặc thiếu công ăn việc làm

do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác động xã hội khác Cùng với sự phát triển của xã hội, ý thức cộng đồng được nâng dần lên thì “dịch vụ bảo hiểm xã hội" cũng hoàn thiện dần và ngày càng đa dạng, phong phú Khi nền kinh tế hàng hoá hình thành và phát triển đã có sự chuyên môn hoá trong hoạt động đời sống xã hội

Quá trình công nghiệp hoá tạo ra một đội ngũ lao động làm công ăn lương và cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào thu nhập từ lao động của họ … Cho nên, khi có những rủi ro xảy ra làm cho người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ Để khắc phục tình trạng này truyền thống tương thân, tương ái vốn có trong nhân dân được phát huy Các quỹ tương tế, quỹ ái hữu và các hiệp hội ra đời nhằm bảo vệ các thành viên của mình, dưới các hình thức quyên góp một phần thu nhập của các thành viên khi họ còn khoẻ mạnh, còn có thu nhập Đây là những hình thức sơ khai của BHXH sau này Dần dần khi kinh tế hàng hoá phát triển, các mối quan hệ lao động và quan hệ xã hội ngày càng trở nên quan trọng

Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời, riêng chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện được áp dụng từ năm 2008 Bảo hiểm xã hội tự nguyện chủ yếu áp dụng cho đối tượng là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi với nam, đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ và không thuộc diện áp dụng của

Trang 9

pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc Như vậy, người lao động ở mọi khu vực có quyền lợi trong tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội

Tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội việc triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện mặc dù còn mới, nhưng hệ thống bảo hiểm xã hội đã phân cấp tổ chức

bộ máy hoạt động đến cấp huyện và có đại lý đến cấp xã, phường rất thuận lợi cho người lao động tiếp cận để tham gia Tuy nhiên, qua hơn 10 năm triển khai thực hiện, số lượng người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của họ ̣cũng như định hướng của Đảng, Nhà nước Nguyên nhân số lượng người tham gia còn ít do đặc điểm lao động của đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở nước ta là: trình

độ học vấn và nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế, lao động phần lớn chưa qua đào tạo, việc làm bấp bênh, thu nhập thấp Vấn đề cần đặt ra là làm thế nào để người lao động nhận thức được sự cần thiết tham gia bảo hiểm xã hội

tự nguyện

Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài “Bảo hiểm xã hội tự

nguyện theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội ”

làm luận văn Thạc sỹ Luật học của mình với mong muốn góp phần hoàn thiện

pháp luật bảo hiểm xã hôị tự nguyện ở nước ta

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bảo hiểm xã hội tự nguyêṇ đang ngày càng được quan tâm không chỉ trong thực tiễn mà còn với những nhà nghiên cứu khoa học Một số công trình

đã được thực hiện dưới dạng khóa luận tốt nghiệp như: “Thưc ̣ trạng pháp

luâṭ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Viêṭ Nam hiện nay – trường Đại học Mở Hà Nội” của tác giả Hồ Thị Hải (thực hiện năm 2016), “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - Bốn năm thực hiện và môṭ số kiến nghi ̣hoàn thiện”- tác giả Trần Thị

Huyền Lê ( Đại học Luật Hà Nội thực hiện năm 2017) …

Trong số đó có thể kể các công trình được thực hiện ở cấp độ thạc sỹ như Luâṇ văn thạc sĩ luật học “Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam ” của

Trang 10

tác giả Lê Thị Thu Hằng – Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội (thực hiện năm

2017), “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao

hiệu quả thực thi pháp luật” của tác giả Hoàng Quốc Đạt – Đại học Kinh tế

quốc dân (thực hiện năm 2016), “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - 5 năm thực hiện và một số kiến nghi ̣hoàn thiện” của tác giả Đặng Thị Vân Khánh – Đại học Kinh tế quốc dân (thực hiện năm 2015)

Ngoài ra có các đề tài nghiên cứu của Bảo hiểm xã hội Viêṭ Nam “Cơ

sở lý luận cho việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện Viêṭ Nam thời gian tới ” do Tiến sĩ Nguyễn Tiến Phú làm chủ nhiệm (thực hiện năm 2011); các

bài viết “Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam ” của TS Lê Thi ̣Hoài Thu - tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2017

Đặng Như Lợi (2014), “Cải cách Luật BHXH để mở rộng bảo hiểm hưu trí đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính trị

TS Nguyễn Hiền Phương (chủ biên, 2015), “Bình luận khoa học một

số quy định của luật BHXH năm 2014”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội

Những bài viết này đã đề cập đến một số khía cạnh của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng của Luật BHXH năm 2014 Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện vẫn còn nhiều vướng mắc cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về việc thực hiện chế độ BHXH tự nguyện ở Thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội

Do đó, luận văn này trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu trước

đó cùng với thực tiễn thực hiện pháp luật nhằm bổ sung thêm vào hê ̣thống lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện để từ đó đưa ra một số kiến nghi ̣hoàn thiện pháp luâṭ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam hiện nay, đánh giá thực tiễn thực hiện tại thị xã Sơn Tây và đề xuất các yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực hiện các nhiệm

vụ sau:

- Làm rõ khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện, nguyên tắc điều chỉnh của bảo hiểm xã hội tự nguyện và nội dung của bảo hiểm xã hội tự nguyện

- Phân tích các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện, chỉ ra những thành tựu và hạn chế

- Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực tiễn thực hiện quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Sơn Tây

- Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Sơn Tây;

- Đề xuất một số yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội

tự nguyện và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện từ kinh nghiệm ở Sơn Tây

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thực hiện ở TX Sơn Tây từ năm 2014-2019

Do điều kiện nghiên cứu hạn chế, luận văn không nghiên cứu về thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin (tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử ), tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, về xây dựng và hoàn thiện hê ̣thống pháp luật nói chung, pháp luật về bảo hiểm xã hội nói riêng

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích và tổng hợp ̣, phương pháp so sánh, liêṭ kê, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn đồng thời vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo hiểm xã hội nói chung

và bảo hiểm xã hội tự nguyện nói riêng làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu

6 Kết cấu Luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chương 2: Thưc̣ trạng quy định pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội

Chương 3: Yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và nâng cao hiệu quả thực hiện tại thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1 Khái niệm, vai trò của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.1.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật BHXH trên thế giới cho thấy, BHXH là vấn đề của mỗi quốc gia, nó đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỉ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp Từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời và để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp đỡ lẫn nhau

Cộng hòa liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH và BHXH lúc

đó hoàn toàn mang tính chất bắt buộc Tuy nhiên, sự phát triển của BHXH được thiết lập từng bước Từ năm 1881 đến 1889, các chế độ BHXH bắt buộc lần lượt ra đời: chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau được thiết lập năm 1883, chế

độ bảo hiểm tai nạn lao động năm 1884 và chế độ bảo hiểm tuổi già năm

1889 Vào cuối thế kỷ XIX, ở Đức chỉ có 10% dân số tham gia BHXH bắt buộc Tuy nhiên đến thế kỷ XX, đặc biệt là từ năm 1950 BHXH bắt buộc phát triển đến mức số người tham gia chiếm hơn 90% dân số [10, tr.15]

Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người và được xã hội thừa nhận Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc

(10/12/1948) đã ghi nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã

hội có quyền hưởng BHXH” Ngày 04/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế

(ILO) đã kí công ước Giơnevơ về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến hành BHXH cho NLĐ và gia đình họ

Trang 14

Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH đặc biệt là BHXH bắt buộc và coi đó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội

Khía cạnh kinh tế và pháp lý có các khái niệm về Bảo hiểm xã hội khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Bảo hiểm xã hội là sự:

"Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động"

Theo tác giả Trần Quang Hùng và Tiến sĩ Mạc Văn Tiến: "Bảo hiểm xã

hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải các biến cố hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng các hình thức và sử dụng một qũy tài chính tập trung sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội" [14, tr.19]

Cuốn: "Thuật ngữ lao động Thương binh xã hội" Tập 1 nhà xuất bản

Lao động 1999, Bảo hiểm xã hội được hiểu là: "Sự bảo đảm của xã hội đối

với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp của người

sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của nhà nước để trợ cấp người lao động khi họ bị mất sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già chết nhằm đảm bảo an toàn xã hội"

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm

thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [13, tr.10]

Trang 15

Dưới góc độ kinh tế: Bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế tổng hợp, là

sự bảo đảm thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động

Dưới góc độ pháp lý: Chế độ Bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của Nhà nước, quy định các hình thức đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho người lao động và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động

Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khi đưa ra khái niệm Bảo hiểm xã hội song có một điểm chung là Bảo hiểm xã hội có tác dụng giúp người lao động trong những lúc khó khăn hiểm nghèo, ốm đau, tai nạn, thai sản trên

cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động có sự hỗ trợ của Nhà nước trước khi có biến cố xảy ra và khi người lao động gặp phải thì quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ giúp họ cân bằng phần thu nhập bị giảm sút hay bị mất, giúp họ trang trải phần chi tiêu bị tăng cao khi gặp các rủi ro khó khăn

Như vậy, về bản chất BHXH chính là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro trong quá trình lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi họ không còn tham gia quan hệ lao động nữa như hết tuổi lao động, chết…BHXH thường được thực hiện dưới 2 hình thức: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện trong đó BHXH bắt buộc là hình thức BHXH quan trọng được áp dụng với phạm vi đối tượng tương đối rộng và các chế độ BHXH bao gồm cả BHXH ngắn hạn và BHXH dài hạn

Bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH được xây dựng và thực hiện

ở nước ta Cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện BHXH tự nguyện ở Việt Nam là luật BHXH số 76/2006/QH được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 Chế định về BHXH tự nguyện tại luật BHXH số 76/2006/QH được Quốc hội nước Cộng

Trang 16

hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thực hiện vào ngày 01/1/2008, cho đến nay pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam được thực hiện gần 9 năm Sau thời gian đưa vào thực hiện đã được sửa đổi tại luật số 58/2014/QH13, được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014

Theo Từ điển giải thích thuâṭ ngữ Luâṭ hoc ̣ :“Bảo hiểm xã hôị tự

nguyêṇ là loại hình bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa tổ chức , bảo trợ của Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của người lao động

có nhu cầu bảo hiểm”

Nhằm hiểu rõ hơn bản chất của bảo hiểm xã hôị tự nguyêṇ cần phải phân biêṭ với loaị hình kinh doanh bảo hiểm (bảo hiểm thương mại ) Bảo hiểm xã hôị tự nguyêṇ và bảo hiểm thương mại được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảo hiểm đang tham gia Phương thức hoạt động của hai loại hình này đều mang tính cộng đồng lấy số đông bù số ít Tuy nhiên mục tiêu hoạt động của bảo hiểm thương mại là lợi nhuận còn mục tiêu hoạt động bảo hiểm xã hội tự nguyện là nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ Vì vậy hoạt động bảo hiểm xã hội tự nguyện là hoạt động phi lợi nhuận và nhằm mục đích an sinh xã hội

Như vậy thì BHXH tự nguyện là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHXH tự nguyện

Luật BHXH tự nguyện quy định chế độ, chính sách BHXH tự nguyện, đối tượng đóng, mức đóng, phương thức đóng, quyền, trách nhiệm của các bên liên quan đến việc thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện

Trang 17

Phân biệt BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện

BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện cùng là chính sách an sinh xã hội được thực hiện ở nước ta như BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện có nhiều điểm khác biệt để nhận thấy

+ Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người lao động tham gia hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động (tổ chức hoặc cá nhân), nhưng đối với người tham gia BHXH tự nguyện là lao động tự do, tự mình tham gia đóng BHXH tự nguyện

+ Phí BHXH bắt buộc bao gồm người lao động đóng một phần, chủ sử dụng đóng một phần, riêng phí BHXH tự nguyện thì do người tham gia BHXH tự nguyện đóng 100%; tuy nhiên do thực hiện chính sách mới cho nên Nhà nước hỗ trợ phần nhỏ trên đóng BHXH tự nguyện từ 2018 trở đi

+ BHXH bắt buộc hiện nay có 5 chế độ, gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bằng nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất về BHXH tự nguyện có hai chế độ sau: hưu trí, tử tuất

+ Phương thức đóng BHXH bắt buộc là theo tháng, có trường hợp đặc biệt theo ngành sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động thì họ có thể đóng theo quý, theo 6 tháng

Đối với BHXH tự nguyện, người lao động có thể đóng theo tháng, theo quý, cả năm hoặc đóng một lần cho nhiều năm sau đó, đặc biệt người tham gia BHXH tự nguyện đủ tuổi nghỉ hưu nhưng thời gian đóng BHXH tự nguyện đóng

đủ từ 10 năm trở lên thì được đóng mỗi lần tiền gốc, tiền lãi để đủ tối thiếu 20

năm đóng BHXH tự nguyện để hưởng chế độ hưu BHXH [23, tr.66]

Quy định tại Khoản 3 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”

Trang 18

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học:“Bảo hiểm xã hội tự nguyện

là loại hình bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa tổ chức, bảo trợ của Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo hiểm” [15, tr.15]

Như vậy, nhằm hiểu rõ hơn bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện cần phải phân biệt với loại hình kinh doanh bảo hiểm (bảo hiểm thương mại) Bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thương mại được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảo hiểm đang tham gia

Phương thức hoạt động của hai loại hình này đều mang tính cộng đồng lấy số đông bù số ít Tuy nhiên mục tiêu hoạt động của bảo hiểm thương mại

là lợi nhuận còn mục tiêu hoạt động bảo hiểm xã hội tự nguyện là nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ Vì vậy hoạt động bảo hiểm xã hội tự nguyện là hoạt động phi lợi nhuận và nhằm mục đích an sinh xã hội

Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Hệ thống bảo hiểm xã hội lần đầu tiên trên thế giới được hình thành vào giữa thế kỷ XIX là công trình của Chính phủ Đức và sau đó được hoàn thiện năm 1883-1889 với chế độ bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm tuổi già, tàn tật

và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước

Kinh nghiệm về bảo hiểm xã hội của Đức,sau đó lan dần sang nhiều nước châu Âu (Anh 1991, Ý: 1919, Pháp 1918…)

Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Trung Quốc

Chương trình BHXH tự nguyện ở nông thôn được thực hiện như một

chương trình tiết kiệm cá nhân, trong đó có mức đóng hoặc tỷ lệ đóng do

Trang 19

người lao động tự chọn, các hợp tác xã ở nông thôn khuyến khích người lao động trong xã hội tham gia đóng quỹ với mức tương ứng của hợp tác xã

Đối tượng tham gia chương trình Bảo hiểm tự nguyện ở nông thôn là những lao động làm việc trong các hợp tác xã ở khu vực nông thôn

- Cơ chế đóng

+ Mức đóng quỹ: Mức đóng, tỷ lệ đóng quỹ là tự nguyện, hợp tác xã và người lao động có thể đóng cùng một mức, nhưng có thể đóng mức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của từng Hợp tác xã và người lao động

+ Phương thức đóng: Việc đóng của người lao động là tự nguyện, không hạn chế tuổi tác, có thể đóng một lần, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh riêng của người lao động

+ Mức đóng và phương thức hưởng:

Mức hưởng BHXH hàng tháng của người nghỉ hưu được xác định trên

cơ sở lấy tổng số tiền trên tài khoản cá nhân chia ra 216 tháng (18 năm), nếu người đóng quỹ quá ít, người lao động thường xin nhận một lần với toàn bộ

số tiền có trong tài khoản

Phương thức hưởng đối với người lao động là rất linh hoạt, người lao động có thể nhận tiền hàng tháng hoặc có thể được nhận một lần, trong quá trình đóng quỹ người lao động có thể nhận tiền đóng của mình trong các trường hợp như: phải di chuyển chỗ ở sang tỉnh khác, hay có lý do chính đáng khác nhưng chỉ được nhận lại số tiền do chính bản thân mình đóng góp còn phần đóng của Hợp tác xã thì người lao động không được nhận [8, tr.38]

- Điều kiện hưởng:

+ Người lao động tham gia quỹ và số tiền được hưởng trong tài khoản của cá nhân

+ Người lao động được nhận chế độ BHXH đối với nam đủ 60 tuổi và

nữ 55 tuổi trở lên

Trang 20

- Chính sách khuyến khích Thực hiện chính sách khuyến khích thông qua lãi suất tài khoản cá nhân với mức hiện nay là 2,5%, trong khi đó lãi suất tiết kiệm 1 năm là 1,9% và lãi suất được tính gộp (tức là lãi suất được tính vào vốn), đây là chính sách được khuyến khích mạnh mẽ người lao động tham gia đóng quỹ

Người lao động phải trừ chi phí quản lý 30% trong năm đầu đóng quỹ, từ năm thứ hai không phải trừ một loại chi phí nào khác, trong trường hợp thiếu chi phí quản lý được bổ sung từ ngân sách địa phương (Bùi Sỹ Lợi, 2012)

Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Ba Lan

Tại Ba Lan do số lao động nông thôn và nông dân khá lớn, Chính phủ

Ba Lan đã triển khai các hoạt động xã hội cho nông dân ở Ba Lan được thực hiện trên cơ sở tự nguyện từng khu vực (không phụ thuộc vào biên giới hành chính mà phụ thuộc vào điều kiện canh tác) có thể thương lượng và lập ra quỹ BHXH (chủ yếu là chương trình hưu trí)

Đối tượng tham gia vào chương trình BHXH tự nguyện ở nông thôn là những người lao động làm nhiệm vụ trong các trang trại tư nhân và người lao động ở nông thôn (không phải nông dân cũng có quyền tham gia)

- Cơ chế đóng hưởng

+ Mức đóng vào quỹ: Mức đóng hay tỷ lệ đóng quỹ là tự nguyện ban quản lý quỹ thông qua các mức đóng – hưởng khác nhau và được chính quyền chấp nhận, tùy thuộc vào điều kiện của từng khu vực và người lao động

+ Phương thức đóng: Có thể một lần hay nhiều lần

+ Khi đủ tuổi nghỉ hưu như quy định chung của hệ thống BHXH quốc gia người lao động có quyền hưởng lương hưu không phụ thuộc vào người đó

có làm việc hay không Nhà nước (chính quyền Trung ương và địa phương)

có thể hỗ trợ trực tiếp cho quỹ một khoản hàng năm, tùy thuộc vào mức độ chi BHXH và khả năng của ngân sách, đồng thời bảo hộ cho các hoạt động đầu tư quỹ

Trang 21

- Quản lý quỹ: Quỹ BHXH này do đại diện nông dân bầu ra từ dưới lên và BHXH nông dân Trung ương có đại diện từ các quỹ địa phương, quỹ được quản

lý theo cơ chế tự quản, có sự bảo hộ và giám sát của các cơ quan Nhà nước

Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Pháp

Hệ thống an sinh xã hội (ASXH) được hình thành từ năm 1945 mô

hình An sinh xã hội cùng áp dụng chủ yếu từ mô hình Bismarc Pháp là nước điển hình kiên trì hỗ trợ chăm sóc trẻ em trước độ tuổi đến trường, trong đó phụ nữ được hưởng trợ cấp an sinh rất cao trong thời kỳ có con nhỏ

Các chương trình ASXH Pháp hiện nay bao gồm Bảo hiểm hưu trí và trợ cấp tuổi già, bảo hiểm thương tật khi làm việc, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp gia đình và mỗi chương trình này đều có luật riêng điều chỉnh (Đức Cường và cs, 2010)

Trong hệ thống bảo hiểm tuổi già ở Pháp có hệ thống bảo hiểm cho nông dân, bảo hiểm cho nông dân Pháp có những điều đáng chú ý sau:

Về mặt tài chính có đặc điểm thu nhập của người nông thôn, nên để tính toán mức đóng góp người ta định ra “số điểm” mỗi “điểm” ứng với số tiền nào đó tại thời điểm đóng góp Ví dụ 100f 1 điểm Như vậy giá trị của mỗi điểm có thể khác nhau tùy thuộc vào giá trị của đồng tiền tại thời điểm đóng góp và tổng lượng tiền dự kiến cơ quan BHXH có thể thu được trong năm, cách làm này khá tiện lợi để người lao động nông nghiệp có thể tùy thu nhập của mình mà đóng góp, tuy nhiên Nhà nước cũng xác định số điểm tối thiểu để đóng góp trong một kỳ (tháng, quý, năm) đóng góp Đối với những người nông dân quá nghèo, họ khuyến cáo không nên tham gia vào hệ thống BHXH mà là đối tượng của những chính sách trợ giúp xã hội khác

Trong hệ thống ASXH, ngoài ra để xác định giá trị của “điểm” có thể căn cứ vào tổng thu và tổng chi của năm trước, để điều chỉnh trên cơ sở tổng

số điểm của người lao động trong suốt quá trình đóng BHXH, để khuyến khích hưởng BHXH sẽ được tính trên giá trị thực tế của điểm tại thời điểm

Trang 22

thụ hưởng Như vậy mức hưởng BHXH hàng năm cũng sẽ khác nhau, tùy thuộc vào giá trị của từng thời điểm thụ hưởng Về mặt quản lý BHXH như đã nêu trên do tính chất sản xuất nông nghiệp và địa bàn cư trú, bảo hiểm xã hội cho nông dân Pháp không tổ chức theo mô hình tập trung như hệ thống bảo hiểm xã hội chung của Nhà nước, mà tổ chức theo mô hình tự quản

Theo mô hình này từ địa bàn, dân cư (vùng) tự bầu ra Hội đồng quản trị

cơ sở, tổ chức việc thực hiện BHXH, quản lý đối tượng ở địa bàn mình được bầu, đồng thời bầu ra Hội đồng quản trị Trung Ương Hội đồng quản trị Trung Ương đại diện cho ý chí của mọi người nông dân tham gia BHXH, quyết định mọi vấn đề trong hoạt động BHXH, trong khuôn khổ của pháp luật Nhà nước chỉ nên định hướng và tạo hành lang pháp lý cho hoạt động bảo hiểm có tính cộng đồng rộng lớn này

Một số gợi mở cho Việt Nam

Pháp luật về BHXH tự nguyện là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHXH tự nguyện

Pháp luật BHXH tự nguyện quy định chế độ, chính sách BHXH tự nguyện, đối tượng đóng, mức đóng, phương thức đóng, quyền, trách nhiệm của các bên liên quan đến việc thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện

Pháp luật BHXH tự nguyện là một bộ phận cấu thành cơ bản của chính sách an sinh xã hội, Nhà nước ta với bản chất nhân dân, có trách nhiệm tổ chức, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ, tôn trọng thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, người dân, các tổ chức của người dân trong Nhà nước pháp quyền, có quyền và bổn phận công dân trong việc kiểm tra, giám sát của nhân dân nói chung về thực hiện pháp luật của BHXH tự nguyện nói riêng [20, tr.18]

Trong Nhà nước pháp quyền các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật, đáp ứng những nguyên tắc cơ bản của quyền con người không được tùy tiện hoặc ngẫu nhiên mà phải tuân thủ theo tiêu chuẩn đã quy định

Trang 23

Căn cứ vào đặc điểm riêng của Việt Nam cũng như qua nghiên cứu mô hình triển khai BHXH tự nguyện của một số nước cho chúng ta một số bài học kinh nghiệm, từ đó làm cơ sở để xây dựng, hoàn thiện BHXH tự nguyện

ở Việt Nam; cũng không nằm ngoài chủ chương chính sách pháp luật của Nhà nước, do vậy cũng rút ra một số kinh nghiệm đó là:

- Bảo hiểm xã hội muốn thực sự phát triển chính sách bảo hiểm xã hội

tự nguyện phải tuân thủ theo đúng các quy luật phát triển khách quan của nó, không thể chủ quan duy ý chí hoặc áp đặt tuỳ tiện, nôn nóng đáp ứng ngay nhu cầu mong muốn của mọi người, trong khi mọi điều kiện cơ bản để hình thành, ổn định và phát triển nó chưa có hoặc chưa đầy đủ

- Chính sách BHXH tự nguyện chủ yếu hướng tới đối tượng là NLĐ làm việc tự do, buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ, lao động nông nghiệp, đó là những người dân sống ở vùng nông thôn, những NLĐ có việc làm không ổn định và theo thời vụ, người tham gia vào công việc nội trợ, giúp việc hoặc các công việc phụ khác không có hợp đồng lao động, do đó công tác lãnh đạo, phải chỉ đạo cho những ban ngành liên quan phối hợp để làm sao tuyên truyền đúng đối tượng theo các vùng, địa phương có đa số đối tượng có nhu cầu mong muốn được tham gia

- Chính sách BHXH tự nguyện phải thực hiện trên cơ sở phát triển kinh

tế trong nông nghiệp của nền kinh tế quốc dân nói chung

- Quản lý Quỹ BHXH tự nguyện đòi hỏi cơ quan bảo hiểm xã hội phải tuân thủ nguyên tắc quản lý theo quy định chung của Nhà nước Như vậy mới

đảm bảo cho quỹ được bảo toàn và phát triển

1.1.2 Vai trò của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXH trong đó có BHXH tự nguyện là trụ cột của hệ thống an sinh xã

hội, việc thực hiện hiệu quả pháp luật BHXH tự nguyện đóng vai trò vô cùng quan trọng, trong hệ thống chính sách pháp luật về xã hội, do đó việc hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện có vai trò quan trọng trong việc góp phần

Trang 24

làm cho xã hội ổn định Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ

XI, khẳng định: Bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống 29 BHXH, BHYT, BHTN trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ

bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong cuộc sống Nghị quyết số 21/NQ-TW của Bộ chính trị ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020 khẳng định

“BHXH, BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội bảo đảm

ổn định chính sách chính trị - xã hội và phát triển kinh tế xã hội” [14, tr.37]

Ở Việt Nam chính sách BHXH, trong đó BHXH tự nguyện là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế - xã hội trên phương diện quy mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và ổn định xã hội

Trong hoạt động BHXH nhà nước tiến hành xây dựng nhiều chính sách, chế độ, tổ chức triển khai, giám sát, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH tự nguyện mà không phải chính từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho lĩnh vực này BHXH tự nguyện là một nhu cầu khách quan trong

xã hội hiện đại Vai trò của thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện trong hệ thống chính sách và pháp luật về xã hội được thể hiện ở những nội dung sau:

- Thực hiện hiện tốt pháp luật BHXH tự nguyện góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động Với hình thức đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất và hưởng chế độ hưu trí khi

về già, đây là một bước tiến lớn trong thực hiện chính sách an sinh xã hội, không chỉ tham gia vào các quan hệ lao động mới được đóng BHXH mà lao động tự do cũng được hưởng lương hưu khi hết tuổi lao động

Trang 25

- Thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, đảm bảo sự bình đẳng, vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau thúc đẩy sản xuất phát triển

Pháp luật BHXH tự nguyện dựa trên nguyên tắc cơ bản là (đóng – hưởng) đã tạo ra bước đột phá quan trọng về bình đẳng của người lao động về chính sách BHXH, các ngành nghề, địa bàn khách nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia, thực hiện chính sách về BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện khi về hưu được cấp thẻ BHYT và được quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí khi đi khám chữa bệnh

- Thực hiện tốt BHXH tự nguyện góp phần xây dựng xã hội ổn định với phần lớn người lao động ở Việt Nam tham gia vào thị trường lao động phi chính thức Với nền kinh tế mà lao động tự do hơn 70% tổng số lao động, nếu lực lượng lao động này không được đóng BHXH và không có chế độ lương hưu khi về già thì nhà nước và xã hội sẽ gánh một sức nặng của chính sách bảo trợ xã hội

Thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện góp phần giảm chi phí cho ngân sách Nhà nước đảm bảo an sinh xã hội bên vững Người thực hiện chính sách BHXH là người tham gia đóng góp, nhà nước không phải tự bỏ ngân sách hoàn toàn nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu an sinh xã hội [17, tr.20]

1.2 Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Thứ nhất, pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện trên cơ

sở tự nguyện của người tham gia

Đây là nguyên tắc đặc trưng của bảo hiểm xã hội tự nguyện, khác với bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội người lao động và người sử dụng lao động phải bắt buộc tham gia theo quy định của pháp luật

Bảo hiểm xã hội tự nguyện thực hiện hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện của người lao động tham gia, họ được quyền tự quyết định tham gia loại hình này Người tham gia được lựa chọn tham gia hay không tham gia, lựa chọn

Trang 26

mức đóng bao nhiêu, đóng bằng phương thức nào phù hợp với điều kiện kinh

tế và nhu cầu của bản thân Chính nguyên tắc này tạo điều kiện cho mọi người lao động trong xã hội tham gia, dù giữa họ có sự chênh lệch về mức thu nhập Tuy nhiên, sự tự nguyện này còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố mệnh lệnh Nguyên tắc này được thể hiện ở việc Nhà nước ban hành xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các đạo luật, các luật, các văn bản pháp quy (Nghị định, quyết định…) và các văn bản dưới luật để thực hiện pháp luật bảo hiểm

xã hội tự nguyện thống nhất trong phạm vi quốc gia Khác với bảo hiểm thương mại, Nhà nước chỉ ban hành những điều, những nội dung cơ bản nhất còn các chính sách, chiến lược cụ thể là do các công ty bảo hiểm thực hiện, đối với bảo hiểm xã hội, Nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật rất cụ thể

và chặt chẽ các nội dung của chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, các cơ quan bảo hiểm xã hội không được tự ý đặt ra bất kỳ chế độ, bất kỳ quy định nào [15, tr.29]

Thứ hai, các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện phải linh

hoạt nhưng trong giới hạn nhất định để đảm bảo cân đối, hài hòa lợi ích của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thường là những người nông dân, người lao động có đời sống và thu nhập bấp bênh Vì vậy, để tạo điều kiện cho tất cả mọi thành phần lao động có tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì các quy định về bảo hiểm xã hội phải linh hoạt Sự linh hoạt thể hiện ở mức đóng, phương thức đóng và mức hưởng bảo hiểm Người lao động

có thể lựa chọn phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng, hàng quý hoặc sáu tháng một lần Người tham gia bảo hiểm xã hội thường có quan hệ lao động không ổn định vì vậy, mức đóng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức thu nhập đó Trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm

xã hội mà người lao động sẽ có mức hưởng bảo hiểm tương xứng Tuy nhiên, ngoài việc quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện một cách linh hoạt, cũng

Trang 27

cần có giới hạn nhất định để đảm bảo cân đối, hài hòa lợi ích của các chủ thể Quy định này nhằm mục đích đảm bảo sự bình đẳng giữa những người tham gia bảo hiểm, tránh sự chênh lệch quá lớn về đời sống của những người cùng hưởng bảo hiểm, tránh gây xáo trộn cho quỹ bảo hiểm xã hội khi phải chi trả bảo hiểm theo mức thu nhập quá cao của người tham gia, nhằm đảm bảo tính khả thi cho việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện

Thứ ba, pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện phải đảm bảo sự liên

thông giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện

Nguyên tắc này nhằm để đảm bảo quyền lợi của người lao động, khi quan hệ lao động luôn luôn có sự thay đổi không ngừng trong điều kiện kinh

tế có nhiều biến chuyển Sự chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ sẽ kéo theo sự chuyển dịch của các thành phần lao động, các khu vực lao động Dưới tác động của nền kinh tế thị trường mà quan hệ lao động nói riêng và các quan

hệ kinh tế khác nói chung luôn có sự thay đổi không ngừng Đồng thời, yêu cầu càng cao về trình độ lao động kỹ thuật có thể làm người lao động ở khu vực phi chính thức chuyển sang khu vực chính thức và ngược lại Người lao động có quyền tham gia bảo hiểm xã hội theo đúng loại hình dù ở bất kỳ khu vực lao động nào, đồng thời đảm bảo sự liên tục thông suốt trong quá trình

đóng bảo hiểm xã hội của người lao động [11, tr.23]

1.2.2 Nội dung pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Pháp luật BHXH tự nguyện thường bao gồm những nội dung sau:

- Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện:

Nhìn chung các nước đều quy định đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là người tự nguyện tham gia BHXH và họ không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

- Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Tùy thuộc điều kiện cụ thể từng nước mà các chế độ BHXH tự nguyện

là khác nhau Ví dụ, ở Việt Nam hiện nay, người tham gia BHXH tự nguyện

Trang 28

sẽ được hưởng 02 chế độ: Hưu trí và tử tuất (khoản 2 Điều 4 Luật Bảo hiểm

xã hội 2014) Nhưng BHXH tự nguyện ở Pháp bao gồm Bảo hiểm hưu trí và trợ cấp tuổi già, bảo hiểm thương tật khi làm việc, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp gia đình

- Mức đóng, mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Pháp luật các nước có các quy định khác biệt nhất định về mức đóng và mức hưởng tùy thuộc đặc điểm nền an sinh xã hội mỗi nước nhưng đều trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro và công bằng giữa đóng và hưởng

- Phương thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Nhìn chung các nước đều quy định nhiều phương thức tham gia BHXH

tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia có thể lựa chọn: Đóng hàng tháng; Đóng 03 tháng một lần; Đóng 06 tháng một lần; Đóng 12 tháng một lần; Đóng một lần cho nhiều năm (có thể có giới hạn tối đa thời gian); Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người đã đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng thời gian đóng còn thiếu (có thề có giới hạn tối đa thời gian)

- Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quỹ BHXH tự nguyện là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của các bên tham gia

và các nguồn thu khác, được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH Quỹ BHXH là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống BHXH Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ BHXH, theo nghĩa rộng: quỹ BHXH

là tập hợp những phương tiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu phát sinh về BHXH trên cơ sở sự đóng góp của những người tham gia BHXH

Cụ thể là các khoản dự trữ về tài chính và các phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho quỹ BHXH Theo nghĩa hẹp, quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của người tham gia BHXH, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho người được hưởng BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Như

Trang 29

vậy, có thể hiểu quỹ BHXH tự nguyện là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH tự nguyện và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được sử dụng để chi trả cho những người được BHXH tự nguyện và gia đình họ khi họ bị giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết Quỹ BHXH tự nguyện vừa là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ

hệ thống BHXH tồn tại và phát triển

Quỹ BHXH tự nguyện hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro xã hội của tất cả những người tham gia BHXH, giúp cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho NSDLĐ, tiết kiệm chi cho

ngân sách nhà nước và ngân sách gia đình

Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện là một quỹ tập trung tiền tệ được hình thành từ sự đóng góp của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện,

sự hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn khác, được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp cho những trường hợp được bảo hiểm xã hội tự nguyện quy định [22, tr.13]

- Thanh tra, xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội tự nguyện

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội tự nguyện

- Giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Do điều kiện nghiên cứu hạn chế, luận văn không nghiên cứu về thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp về bảo

hiểm xã hội tự nguyện

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.3.1 Yếu tố hệ thống pháp luật

Sở dĩ là vì chất lượng của các văn bản pháp luật BHXH tự nguyện có tác động rất lớn đến ý thức và hành vi thực hiện pháp luật về BHXH tự

Trang 30

nguyện của cá nhân người dân, các tổ chức kinh tế, văn hóa xã hội, các cơ quan cán bộ công chức Nhà nước

Sự tác động tích cực nếu quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch, hợp lý về quyền và nghĩa vụ, chế tài thì hiệu quả thực hiện pháp luật sẽ cao, ngược lại quy định pháp luật bất cập có nhiều kẽ hở, hay chồng chéo, mâu thuẫn thì sẽ bị lợi dụng

và rất khó khăn cho việc thực hiện pháp luật đối với cá nhân, tổ chức có liên quan Tính khả thi của hệ thống pháp luật là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo thực hiện pháp luật nói chung và về pháp luật BHXH tự nguyện nói riêng

Một trong những điều kiện để đảm bảo thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về nội dung, thủ tục và quy trình cũng như cơ chế thực hiện pháp luật, pháp luật về BHXH tự nguyện luôn được thực hiện tốt, phải đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, nhất quán, đơn giản, dễ hiểu, minh bạch, tạo ra một khung pháp lý đầy đủ, ổn định Hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật còn hạn chế, đảm bảo thi hành pháp luật còn thiếu và yếu

Các tiêu chí về hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH tự nguyện là tính trách nhiệm, đồng bộ, tính phù hợp, hài hòa, lợi ích, tính minh bạch công khai

Tính toàn diện, hệ thống pháp luật BHXH tự nguyện thể hiện ở việc phải đầy đủ các chế định pháp luật các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực BHXH tự nguyện, tính đồng bộ đòi hỏi các quy phạm pháp luật về BHXH tự nguyện, phải thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo và không trái với hiến pháp, phù hợp giữa nội dung và hình thức văn bản, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi, đảm bảo ổn định tương đối khi sử dụng

Tính phù hợp của pháp luật BHXH tự nguyện yêu cầu phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, đạo đức với nhu cầu lợi ích của người tham gia và điều kiện các địa phương

Chất lượng, sự hoàn thiện của pháp luật BHXH tự nguyện thể hiện ở tính toàn diện, tính phù hợp, tính đồng bộ về hình thức, kỹ thuật pháp lý và cả

Trang 31

về nội dung, chất lượng của hệ thống pháp luật về BHXH tự nguyện thể hiện hợp pháp, bảo đảm quyền, lợi ích của người tham gia BHXH tự nguyện và sự minh bạch về cơ chế, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức Đây là khung pháp lý quy định rõ đối tượng áp dụng, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia BHXH tự nguyện, nội dung các chế độ BHXH tự nguyện Một chính sách, chế độ không hợp lý, không đảm bảo công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của BHXH tự nguyện [19, tr.30]

1.3.2 Yếu tố tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Tổ chức thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện bao gồm các hoạt động như việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, cho các tổ chức kinh tế - xã hội, cho các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý về BHXH tự nguyện Nếu chỉ có một hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ nhưng thiếu sự phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, thiếu những nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện pháp luật không tương xứng với những quy định pháp luật thì cũng làm giảm hiệu quả điều chỉnh pháp luật Việc áp dụng pháp luật gặp khó khăn khi có sự chồng chéo, mâu thuẫn thiếu hụt của các văn bản pháp luật quy định

Việc quy định đầy đủ công khai minh bạch quy trình, thủ tục, hồ sơ, trách nhiệm và thời hạn giải quyết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng và

cơ quan BHXH thống nhất thực hiện Đồng thời áp dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt thời gian, tạo niềm tin cho người tham gia BHXH tự nguyện

1.3.3 Ý thức pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội

tự nguyện

Thực hiện pháp luật phụ thuộc vào ý thức tôn trọng, tôn trọng pháp luật của các chủ thể pháp luật, khi người dân hiểu được ý nghĩa của BHXH tự nguyện thì họ sẽ tự giác tham gia và thực hiện Đây là yếu tố vừa mang tính chủ quan của các chủ thể pháp luật, đồng thời cũng có tính khách quan, bởi vì phụ thuộc vào các yếu tố khách quan của xã hội trong điều kiện còn khó khăn

Trang 32

và nhận thức còn hạn chế của nhiều người dân ở nước ta, nhất là vùng nông thôn thì cần phải quan tâm, tổ chức giáo dục cho người dân về ý nghĩa của việc tham gia BHXH tự nguyện

Trách nhiệm từ phía nhà nước thông qua các hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, kiểm tra, xử lý vi phạm một cách kịp thời, minh bạch, công khai, đảm bảo công bằng, bình đẳng trước pháp luật

Ý thức pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện

là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hành vi thực hiện pháp luật trong thực tế Theo lý luận pháp luật giữa ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật có mối liên hệ mật thiết, trong đó ý thức pháp luật còn là tiêu đề tư tưởng trực tiếp cho việc xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật

Ý thức pháp luật còn có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn và áp dụng pháp luật, đối với người áp dụng pháp luật và cả người bị áp dụng, đối với người quản lý và người bị quản lý Việc giáo dục cho người dân cần phù hợp với từng đối tượng và điều kiện cụ thể của các địa phương, trường học, doanh nghiệp, không chỉ đối với người dân mà đặc biệt là đối với cán bộ làm công tác BHXH tự nguyện để họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng và bảo đảm quyền, lợi ích của người tham gia BHXH tự nguyện

1.3.4 Yếu tố về cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, nguồn lực, trong thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Đây là một trong những điều kiện vừa đảm bảo thuận tiện, tiết kiệm cho người dân vừa là chính sách để kiểm soát phát hiện vi phạm pháp luật ở tất cả các công đoạn của quy trình áp dụng pháp luật về BHXH tự nguyện

Cơ sở vật chất kỹ thuật, gồm: Cơ sở hạ tầng trong thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ của các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý BHXH tự nguyện, cải cách thủ tục hành chính những năm qua đã được thực hiện theo hướng minh bạch, đơn giản, tiết kiệm

Trang 33

Nguồn nhân lực phục vụ cho thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện có tầm quan trọng đặc biệt của việc thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện, đội ngũ công nhân, cán bộ làm công tác BHXH tự nguyện ở các cấp, các cơ sở cần đào tạo về nghiệp vụ, kiến thức pháp luật và đạo đức nghề nghiệp Trình

độ năng lực quản lý và phẩm chất chính trị đạo đức của đội ngũ cán bộ BHXH tự nguyện là một trong những yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả thực hiện pháp luật

Đạo đức là gốc, là cơ sở, điều kiện căn bản đảm bảo thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện, đối với cá nhân, người dân và cán bộ công chức nhà nước hiện nay Khi chủ thể pháp luật có đạo đức, trách nhiệm về hành vi của mình đối với người khác thì họ sẽ không làm những việc trái với đạo đức gây tổn hại cho con người, năng lực, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ công chức BHXH, BHXH tự nguyện, sự thân thiện, tín nhiệm, lịch sự trong cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người được phục vụ là những tiêu chí quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính chung, góp phần nâng cao chất lượng BHXH tự nguyện

Trang 34

Tiểu kết chương 1

BHXH đặc biệt là BHXH tự nguyện được coi là bộ phận lớn nhất trong

hệ thống an sinh xã hội, là trụ cột cơ bản của an sinh xã hội Có thể nói, không có BHXH tự nguyện thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ở mỗi quốc gia, tùy theo hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm hệ thống pháp luật, trình độ kinh tế - xã hội khác nhau mà xây dựng một hệ thống BHXH tự nguyện có phạm vi đối tượng tham gia, các chế độ và mức đóng, hưởng khác nhau

Pháp luật về BHXH tự nguyện thường gồm những nội dung như: Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện; Mức đóng, mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện; Phương thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện; Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM

XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo quy định Điều 2, Nghị định 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên

và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại khoản

4, điều 2 của Luật BHXH

Người dân có thể đến tại các đại lý thu BHXH tự nguyện, tại bưu điện văn hóa xã, huyện (thành phố), các đại lý thu BHXH tự nguyện tại các xã phường để mua BHXH tự nguyện hoặc đến BHXH các huyện, thành phố để hướng dẫn chi tiết

2.1.2 Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện

- Chế độ hưu trí

+ Mức hưởng lương hưu hàng tháng :

Mức lương hưu hàng tháng được tính theo tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH Sau đó cứ thêm một năm đóng bảo hiểm được tính thêm 2% đối với nam và 3 % đối với

nữ, mức tối đa là 75% Nữ nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018 trở đi tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm đóng BHXH thì tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75% Nam nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018 trở đi tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với số năm đóng BHXH theo bảng dưới đây Sau đó cứ cứ thêm một năm đóng BHXH được thêm 2% tối đa bằng 75%

Trang 36

+ Người đang hưởng lương hưu

+ Người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng trợ cấp tai nạn, bệnh nghề nghiệp hàng tháng đã nghỉ việc

* Bảo hiểm xã hội một lần

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội và Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động Mức hưởng: Một năm đóng BHXH tự nguyện được tính bằng 1,5 lần mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tự nguyện ( thời gian đóng từ 2015 trở về trước), 2 lần bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tự nguyện (Thời gian đóng từ 2016 trở về sau)

Trang 37

2.1.3 Mức đóng, mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện

a Mức đóng

Mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện chọn Mức thu nhập người tham gia BHXH tự nguyện chọn mức thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn tại thời điểm đóng và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng

Người tham gia BHXH tự nguyện theo phương thức đóng 3 tháng, 6 tháng, hoặc 12 tháng một lần, hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau, nhưng không quá 5 năm mà trong thời gian đó Chính phủ điều chỉnh mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn thì không phải điều chỉnh mức chênh lệch số tiền đã đóng Người tham gia BHXH tự nguyện đóng theo phương thức đóng 3 tháng, 6 tháng, hoặc 12 hoặc đóng một lần cho nhiều năm sau đó, nhưng không quá 5 năm mà trong thời gian đó thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ được hoàn trả một phần số tiền đã đóng trước đó

+ Thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc

+ Hưởng BHXH một lần

+ Bị chết hoặc tòa án tuyên bố đã chết

Hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho người tham gia

Từ năm 2018 trở đi Nhà nước sẽ có hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện cho người tham gia BHXH tự nguyện

Mức hỗ trợ tiền đóng hàng tháng cho người tham gia BHXH tự nguyện giai đoạn từ 2018 - 2020 là 46.200 đồng/tháng đối với người thuộc hộ nghèo, 38.500đ/tháng đối với gia đình thuộc hộ cận nghèo và 15.000đ/tháng đối với các đối tượng khác

Số tiền hỗ trợ đối với người tham gia BHXH tự nguyện đóng theo phương thức một lần cho những năm còn thiếu được Nhà nước chuyển toàn

bộ một lần vào quỹ hưu trí và tử tuất trong cùng năm đóng

Trang 38

- Tỷ lệ hưởng lương hưu:

Từ năm 2018, mức lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH và tương ứng với số năm như sau:

Lao động nam nghỉ hưu năm 2020 sẽ 18 năm, nghỉ hưu năm 2021 là 19 năm và 20 năm đối với người nghỉ hưu từ năm 2022

Trong khi đó, đối với lao động nữ là 15 năm

Sau đó cứ mỗi năm, được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%

- Mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH: Bằng bình quân các mức thu nhập tháng đã đóng BHXH của toàn bộ thời gian đóng

Người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng BHXH một lần theo quy định tại Khoản 1 Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội, Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết

số 93/2015/QH13 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần đối với người lao động và Điều 7 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP

Mức hưởng BHXH một lần được thực hiện theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội, Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 93/2015/QH13 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần đối với người lao động

Mức hưởng BHXH một lần của người tham gia BHXH có thời gian đóng BHXH chưa đủ 01 năm (12 tháng) được tính bằng 22% của tổng các mức thu nhập tháng đã đóng BHXH, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH Trong đó, mức thu nhập tháng đã đóng BHXH để tính hưởng BHXH một lần được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP

Trang 39

Khi tính mức hưởng BHXH một lần trong trường hợp thời gian đóng BHXH có tháng lẻ thì từ 01-6 tháng được tính là nửa năm, từ 7-11 tháng được tính là một năm

Trường hợp có thời gian đóng BHXH cả trước và sau ngày 1/1/2014

mà thời gian đóng trước ngày 1/1/2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ ngày 1/1/2014 trở đi để làm căn cứ tính hưởng BHXH một lần

Mức hưởng BHXH một lần không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội Việc tính mức hưởng BHXH một lần được thực hiện theo quy định trên, sau đó trừ đi số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện

Số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện được tính bằng tổng số tiền Nhà nước hỗ trợ của từng tháng đã đóng BHXH tự nguyện

2.1.4 Phương thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Nếu như luật BHXH năm 2006 người tham gia BHXH tự nguyện chỉ được lựa chọn bốn phương thức đóng đó là đóng tháng, quý, 6 tháng hoặc 12 tháng Người tham gia BHXH tự nguyện theo luật BHXH năm 2014 được chọn 6 phương thức đóng đó là đóng hàng tháng, 3 tháng một lần, 6 tháng một lần, 12 tháng một lần Đặc biệt được đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH tự nguyện đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định, nhưng thời gian đóng chưa đủ 20 năm để hưởng lương hưu

Đây là phương thức đóng phù hợp cho người tham gia có tiền nhàn rỗi

họ đóng một lần cho nhiều năm Hơn nữa được đóng một lần cho những năm còn thiếu để được hưởng lương hưu (Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) nhưng thời gian đóng BHXH không quá 10 năm được đóng một lần cho đủ 20 năm

để hưởng lương hưu Điều này đã động viên người ở độ tuổi cao cũng có thể

Trang 40

tham gia BHXH tự nguyện Đây là điểm mới của Luật BHXH năm 2014 so với Luật BHXH năm 2006.

Người tham gia BHXH tự nguyện được một trong các phương thức đóng sau đây để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất

- Đóng hàng tháng

- Đóng 3 tháng 1 lần

- Đóng 6 tháng 1 lần

- Đóng 12 tháng 1 lần

- Đóng một lần cho nhiều năm sau đó (tối đa không quá 5 năm)

- Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH tự nguyện đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH tự nguyện còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu

Người tham gia BHXH tự nguyện đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định

mà thời gian đóng BHXH còn thiếu trên 10 năm, nếu có nguyện vọng thì tiếp tục đóng BHXH tự nguyện theo một trong các phương thức trên cho đến khi thời gian đóng BHXH tự nguyện còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu theo quy định

Người tham gia BHXH tự nguyện được thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện, sau khi thực hiện xong phương thức đóng đã chọn trước đó

2.1.5 Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo quy định của Luật BHXH 2014, quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai theo chế độ tài chính của nhà nước quản lý độc lập

và được Nhà nước bảo hộ quỹ BHXH được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của Chính Phủ Quỹ BHXH cần được hiểu dưới nghĩa là một tổ chức trong đó gồm các bên tham gia BHXH lập ra

để quản lý và điều hành việc thu nộp và chi trả các chế độ BHXH Với nghĩa

Ngày đăng: 12/01/2021, 20:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Xuân Thu (2006), “Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam”, Tạp chí luật học, (9), tr.49 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Thu
Năm: 2006
14. Mạc Văn Tiến (2010), “An sinh xã hội và Phúc lợi xã hội - các cách tiếp cận lý thuyết và thực tiễn”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (4B) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội và Phúc lợi xã hội - các cách tiếp cận lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Mạc Văn Tiến
Năm: 2010
17. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012), “20 năm thành lập Viện Dân số và các vấn đề xã hội”, Kỷ yếu khoa học, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm thành lập Viện Dân số và các vấn đề xã hội
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2012
18. Trường Đại học Luật (1999), “Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học
Tác giả: Trường Đại học Luật
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1999
19. Đinh Công Tuấn (2018), “Hệ thống An sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống An sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Đinh Công Tuấn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2018
22. Nguyễn Thị Anh Thơ (2019), “Sự cần thiết của chế tài hình sự trong xử lý vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (số 9A) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết của chế tài hình sự trong xử lý vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Thơ
Năm: 2019
23. Lê Thị Hoài Thu (2019), “Luật Bảo hiểm xã hội từ quy định đến thực tiễn áp dụng”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm xã hội từ quy định đến thực tiễn áp dụng
Tác giả: Lê Thị Hoài Thu
Năm: 2019
24. Trường đại học kinh tế quốc dân - Khoa bảo hiểm (2011), Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ trợ cấp thai sản trong pháp luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ trợ cấp thai sản trong pháp luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả: Trường đại học kinh tế quốc dân - Khoa bảo hiểm
Năm: 2011
25. Trường Đại học LĐTB&XH (2010), Giáo trình Bảo hiểm xã hội, Nxb.Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Trường Đại học LĐTB&XH
Nhà XB: Nxb.Lao động - xã hội
Năm: 2010
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật An sinh xã hội,Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật An sinh xã hội
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2014
30. Tạp chí điện tử Tài chính, Phát triển hiệu quả chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, http://tapchitaichinh.vn/bao-hiem/phat-trien-hieu-qua-chinh-sach-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-theo-tinh-than-nghi-quyet-so-28nqtw- Link
15. Hoàng Văn Toái (2014), Bảo hiểm xã hội tự nguyện - những vấn đề lý luận và phương hướng hoàn thiện, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Khác
16. Tổng cục Thống kê (2013), Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2012 của Tổng cục Thống kê, Hà Nội Khác
20. Nguyễn Hiền Phương (chủ biên) (2015), Bình luận khoa học một số quy định của luật BHXH năm 2014, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20/11/2014, Hà Nội Khác
27. Vụ Bảo hiểm xã hội (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ BHXH bắt buộc giai đoạn đến 2020, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Khác
28. Báo cáo tổng kết 5 năm về kết quả thực hiện chế độ tham gia BHXHTN trên địa bàn thị xã Sơn Tây (Giai đoạn 2011-2015) Khác
29. Báo cáo kết quả thực hiện chế độ tham gia BHXHTN trên địa bàn thị xã Sơn Tây (Giai đoạn 2011-2019) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ những năm tiếp theo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm