Nghiên cứu đã đề xuất được một số biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH tới sản xuất lúa nước tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, gồm: Sử dụng kiến thức bản địa (Nghiên cứu đã[r]
Trang 1NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TỚI SẢN XUẤT LÚA NƯỚC TẠI HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI,
GIAI ĐOẠN 2015 - 2019
Lưu Thị Cúc * , Hoàng Văn Hùng, Hoàng Thị Phương
Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Lào Cai
TÓM TẮT
Nghiên cứu tiến hành điều tra, phỏng vấn sâu 139 hộ với bước nhảy k = 4; Tổng hợp số liệu quan trắc môi trường 05 năm liên tiếp, từ 2015 – 2019 với các chỉ tiêu: nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết bất thường Từ đó, đánh giá diễn biến và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất lúa nước tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong 05 năm, nhiệt độ trung bình tại huyện Bắc Hà có xu hướng tăng lên, dao động từ 19,1 o C – 19,5 o C; Diễn biến nhiệt độ thay đổi thất thường; Số ngày rét đậm và rét hạn có xu hướng tăng lên; Lượng mưa trung bình năm thay đổi thất thường; Lượng mưa mùa mưa có xu hướng tăng; Ngược lại lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm dần; Các hiện tượng thời tiết bất thường diễn ra với tần suất và cường độ tăng dần qua các năm BĐKH tác động trực tiếp đến sản xuất lúa nước tại đây, hạn hán, mưa bão, rét đậm, rét hại,…khiến cho cây trồng thiếu nước tưới, cây sinh trưởng chậm, thậm chí là chết và đất có nguy cơ xói mòn, thoái hóa Để ứng phó với các tác động tiêu cực này, người dân địa phương đã sử dụng các kiến thức bản địa, bao gồm: giống lúa nước địa phương, một số kỹ thuật canh tác truyền thống, các kiến thức truyền đời về thời vụ gieo trồng và dự báo thời tiết khí hậu bất lợi,
Từ khóa: Biến đổi khí hậu; Bắc Hà; kiến thức bản địa; lúa nước; ứng phó
Ngày nhận bài: 30/11/2020; Ngày hoàn thiện: 19/12/2020; Ngày đăng: 21/12/2020
STUDY ON THE EFFECT OF CLIMATE CHANGE
ON WET RICE PRODUCTION IN BAC HA DISTRICT, LAO CAI PROVINCE,
IN THE PERIOD 2015 - 2019
Luu Thi Cuc * , Hoang Van Hung, Hoang Thi Phuong
Thai Nguyen University – Lao Cai Campus
ABSTRACT
The study conducted an in-depth survey and interview with 139 households with the jump k = 4, synthesizing environmental monitoring data for 05 consecutive years (2015 - 2019) with the criteria: temperature, rainfall and phenomena unusual weather From there, assess the changes and impacts of climate change on wet rice production in Bac Ha district, Lao Cai province Research results show that: In 05 years, the average temperature in Bac Ha district tends to increase, ranging from 19.1 o C – 19.5 o C; changes in temperature fluctuate erratically; The number of extremely cold and drought days tends to increase; Annual average rainfall changes erratically; Rainfall in the rainy season tends to increase; On the contrary, the rainfall in the dry season tends to decrease; The unusual weather phenomena take place with increasing frequency and intensity over the years Climate change directly affects the wet rice production here, droughts, storms, extreme cold, damaging cold, make plants lack irrigation water, plants grow slowly, even die and the soil is at risk of erosion In response to these negative impacts, local people have used indigenous knowledge, including: local wet rice varieties, some traditional farming techniques, and traditional knowledge about the seasons, cultivating and forecasting unfavorable weather,
Keywords: Climate Change; Bac Ha; indigenous knowledge; wet rice; response
Received: 30/11/2020; Revised: 19/12/2020; Published: 21/12/2020
* Corresponding author: Email: luuthicuc@tnu.edu.vn
Trang 21 Mở đầu
Bắc Hà là huyện vùng cao, khó khăn của tỉnh
Lào Cai với trên 70% dân số tham gia sản
xuất nông nghiệp (SXNN), là huyện nằm
trong khu vực dễ bị tổn thương do biến đổi
khí hậu (BĐKH) [1] Những năm gần đây,
biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp
đến đời sống, kinh tế - xã hội của huyện Bắc
Hà, tỉnh Lào Cai Do hiện tượng thời tiết cực
đoan, bất thường, như: mưa tuyết, băng giá,…
xảy ra với mật độ, tần suất ngày càng cao, từ
đó tác động trực tiếp đến sản xuất nông
nghiệp, cụ thể là sản xuất lúa nước trên địa
bàn huyện
Kết quả nghiên cứu của bài báo sẽ góp phần
xác định được phạm vi và mức độ ảnh hưởng
của BĐKH tới SXNN, cụ thể là sản xuất lúa
nước tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Từ đó
đề xuất các biện pháp ứng phó nhằm giảm
thiểu các tác động tiêu cực, giảm chi phí sản
xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu
nhập của người dân, đặc biệt là bà con dân tộc
thiểu số nơi đây
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Các tài liệu liên quan trực tiếp gồm:
- Báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu phát triển
kinh tế năm 2019 huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2020 của huyện Bắc Hà; của xã Nậm Mòn,
huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Báo cáo Đánh giá khí hậu tỉnh Lào Cai;
- Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ: Kế hoạch thực
hiện thỏa thuận Paris về BĐKH tỉnh Lào Cai
của Sở TN&MT tỉnh Lào Cai năm 2019
- Báo cáo kết quả quan trắc khí tượng – thủy văn
huyện Bắc Hà trong 05 năm, từ 2015 – 2019
2.2 Phương pháp khảo sát xã hội học
2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Nghiên cứu tiến hành điều tra chọn mẫu bằng
bảng hỏi cấu trúc đối với các hộ gia đình có
sản xuất trồng lúa nước Hệ thống các câu hỏi
sẽ đề cập đến các nhóm vấn đề:
+ Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất qua trải nghiệm của người dân địa phương; + Các hình thức hoạt động sản xuất nhằm ứng phó biến đổi khí hậu;
+ Các nguồn lực huy động trong quá trình ứng phó,…
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
n= z 2 (p.q) / e 2 [2] (1)
Trong đó:
n = cỡ mẫu;
z = giá trị phân phối: với độ tin cậy lựa 95% thì giá trị z là 1,96 [2];
p = ước tính tỷ lệ % của tổng thể (giả định p = 0,1);
q = 1-p = 0,9;
e = sai số cho phép (+-5%)
Từ công thức (1) ta tính được cỡ mẫu là: 138,4, làm tròn lên 139 đối tượng được điều tra, tương ứng 139 hộ
Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu qua 02 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ 18 xã của huyện Bắc Hà, qua tham vấn ý kiến chuyên gia (cán bộ nông nghiệp huyện), chọn xã đại diện là: xã Nậm Mòn (có diện tích trồng lúa nước lớn nhất)
- Giai đoạn 2: Từ xã này lập danh sách mẫu của xã
Xã Nậm Mòn có 639 hộ, gồm 8 thôn bản: Lèng Phàng Làng Mương, Nậm Mòn, Cốc Cài Thượng, Nậm Làn Cốc Cài, Cốc Dề Chải, Bản Ngồ Thượng, Sử Chù Chải, và Ngải Số Các hộ lựa chọn dựa trên bước nhảy:
k = N/n (2)
Trong đó:
+ k: Bước nhảy;
+ N: Số hộ gia đình;
+ n: Cỡ mẫu
Từ công thức (2) ta tính được giá trị bước nhảy: k = (639/139) = 4
Tức là, cứ cách 4 hộ trong danh sách lại chọn 1
hộ nghiên cứu cho đến khi đủ dung lượng mẫu
Trang 32.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Các phỏng vấn sâu được tiến hành đối với các
nhóm khách thể khác nhau, gồm:
- Cán bộ huyện, xã: Cán bộ phòng TN&MT
huyện Bắc Hà (2 chuyên viên, 1 cán bộ quản
lý), Cán bộ phòng NN&PTNT huyện Bắc Hà
(2 chuyên viên, 1 cán bộ quản lý), cán bộ địa
chính xã Nậm Mòn (01), cán bộ Trạm khí
tượng huyện Bắc Hà (01) Tổng: 08
- Hộ gia đình trồng lúa nước, bị ảnh hưởng
bởi BĐKH: 131 hộ
Nội dung phỏng vấn sâu bao gồm:
- Đối với cán bộ phòng TN&MT và phòng
NN&PTNT huyện Bắc Hà: Phỏng vấn các
cán bộ chủ chốt nhằm khai thác thông tin về
chủ chương, chính sách của huyện trong việc
ứng phó với BĐKH và đảm bảo sản xuất cho
người dân?
- Đối với cán bộ địa chính xã và cán bộ Trạm
khí tượng: Nội dung phỏng vấn tập trung vào
các biểu hiện, mức độ của BĐKH diễn ra tại
địa phương? Tác động của BĐKH đến sản
xuất lúa nước của người dân? Các cách thức
ứng phó?
- Đối với hộ gia đình: Những ảnh hưởng của
BĐKH, đặc biệt trong sản xuất lúa nước? Các
cách thức thích ứng? Dựa vào đâu để lựa
chọn? Vai trò của cộng đồng trong việc hỗ trợ
trong các hoạt động thích ứng với BĐKH?
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Thông tin được thu thập bằng bảng hỏi và xử
lý với phần mềm Excel
3 Kết quả và bàn luận
3.1 Diễn biến BĐKH tại huyện Bắc Hà, tỉnh
Lào Cai, giai đoạn 2015 – 2019
Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên địa bàn
nghiên cứu được đánh giá cụ thể thông qua:
sự thay đổi nền nhiệt độ, lượng mưa, tần suất
và mức độ của các hiện tượng thời tiết bất
thường như: hạn hán, lũ lụt, rét đậm, rét hại,
sương mù, băng tuyết
3.1.1 Nhiệt độ
Số liệu thống kê trong 5 năm, từ 2015 – 2019,
tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai cho thấy:
Nhiệt độ trung bình tại đây có xu hướng tăng, dao động từ 19,1oC – 19,5oC; diễn biến nhiệt
độ thay đổi thất thường; Số ngày rét đậm và rét hạn có xu hướng tăng lên
Bảng 1 Diễn biến nhiệt độ trung bình năm tại
trạm Bắc Hà giai đoạn 2015 – 2019
TB (oC)
Số ngày rét đậm
Số ngày rét hại
3.1.2 Lượng mưa
Kết quả đo lượng mưa thu được tại Trạm khí tượng Bắc Hà trong 5 năm cho thấy: Có sự thay đổi thất thường lượng mưa trung bình năm; lượng mưa mùa mưa có xu hướng tăng; ngược lại lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm dần
Bảng 2 Lượng mưa trung bình năm, mùa mưa và
mùa khô đo tại trạm khí tượng Bắc Hà giai đoạn
2015 – 2019 (mm)
Năm Lượng mưa TB năm Lượng mưa TB mùa mưa Lượng mưa TB
mùa khô
2015 1312
T6 T7 T8 T12 T1 T2
240 393 360 106 101 112
2016 1845
202 620 567 132 213 111
2017 2060
451 561 400 223 112 114
2018 1749
414 614 433 196 106 86
2019 1755
472 484 545 185 97 87
3.1.3 Hiện tượng thời tiết bất thường a) Hạn hán
Theo thống kê của phòng TN&MT, phòng NN&PTNT huyện Bắc Hà từ 2015 – 2019, chưa có đợt hạn hán nghiêm trọng nào xảy ra, tuy nhiên hiện tượng khô hạn cục bộ tại một
Trang 4số địa điểm là có, với nguy cơ ngày càng cao,
gây thiệt hại lớn, cụ thể: nắng nóng kéo dài,
không đủ nước làm đất làm mất gần 78 ha lúa
hè thu (2018), 80 ha (2019)
b) Bão, ngập lụt
Từ 2015 – 2019, chưa có trận bão lớn xảy ra
trên địa bàn, tuy nhiên hiện tượng mưa lớn
khiến nhiều điểm thuộc Tỉnh lộ 153 và Quốc
lộ 4 sạt lở, sụt lún, gây cản trở và nguy hiểm
cho các phương tiện tham gia giao thông thì
năm nào cũng xảy ra Tuy chưa ghi nhận thiệt
hại lớn về người và tài sản nhưng cũng tiềm
ẩn nhiều nguy cơ, cần phải có biện pháp ứng
phó kịp thời
c) Rét đậm, rét hại
Rét đậm, rét hại và sương mù là hiện tượng
diễn ra hàng năm tại Bắc Hà, đa phần vào
mùa đông, đầu xuân (từ tháng 11 - tháng 3
năm sau) Nền nhiệt độ rét đậm, rét hại tại đây
có xu hướng ngày càng thấp, cụ thể: 11,9oC
(2015); 11,8oC (2016); 11,9oC (2017); 11,7oC
(2018); 11,6oC (2019)
3.2 Ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết
bất thường đến sản xuất lúa nước tại huyện
Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015 – 2019
3.2.1 Ảnh hưởng của nắng nóng, hạn hán
đến sản xuất lúa nước
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ
sinh trưởng của cây lúa Trong phạm vi 20 –
30oC, nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển
càng mạnh Nhiệt độ trên 40oC hoặc dưới
17oC, cây lúa tăng trưởng chậm lại Dưới
13oC cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài
1 tuần, một số giống lúa có thể chết Đối với
lúa nước, cả nhiệt độ không khí lẫn nhiệt độ
nước đều có ảnh hưởng trên sinh trưởng và phát triển của cây lúa [3]
Tại địa bàn điều tra, nắng nóng gây ra nhiều ảnh hưởng đến cây trồng, nắng nóng kéo dài với nền nhiệt cao không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả lao động, tiến độ thu hoạch lúa xuân, gieo cấy lúa mùa, đây còn là điều kiện phát sinh một số loại sâu, bệnh gây hại trên cây trồng
3.2.2 Ảnh hưởng do bão đến sản xuất lúa nước
Ảnh hưởng nặng nề nhất đến năng suất cây trồng phải kể tới là do bão Cụ thể, theo kết quả điều tra, bão làm nhiều ruộng bị mất trắng (chiếm 83,45%), làm cây trồng bị chết (59%), làm giảm năng suất cây trồng (54,7%), một số
ý kiến còn cho rằng bão cũng gây giảm diện tích, đất đai xói mòn và gia tăng dịch bệnh Bởi bão thường đi kèm với mưa lớn và gây ngập lụt, do đó, sau bão tình hình dịch bệnh trên cây trồng cũng diễn ra căng thẳng hơn
Hình 1 Ảnh hưởng của bão đến sản xuất lúa nước Bảng 3 Kết quả điều tra về ảnh hưởng của nắng nóng đến sản xuất lúa nước
Nội dung
Kết quả điều tra Giảm
năng
suất
Cây sinh trưởng chậm
Thiếu nước tưới
Đất đai xói mòn, thoái hóa
Gia tăng dịch bệnh
Cây trồng
bị chết
Mất trắng
Không ảnh hưởng gì
Làm giảm năng suất
Cây sinh trưởng chậm Thiếu nước tưới Đất đai xói mòn, thoái hóa Gia tăng dịch bệnh
Cây trồng bị chết
Có ruộng bị mất trắng
Không gây ảnh hưởng gì
Trang 5Bảng 4 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về ảnh hưởng của rét đậm, rét hại, sương mù và bang tuyết
đến sản xuất lúa nước
Phương án Nội dung
Cây
trồng
bị chết
Cây sinh trưởng chậm
Năng suất giảm
Có ruộng
bị mất trắng
Gia tăng dịch bệnh
Thiếu nước tưới
Diện tích canh tác giảm
Không gây ảnh hưởng gì
Cơ cấu
3.2.3 Ảnh hưởng của ngập, lụt đến sản xuất lúa nước
Ngập lụt gây nên nhiều ảnh hưởng xấu đến
cây trồng Những ảnh hưởng do ngập lụt trên
đều được ghi nhận trong các hộ điều tra
Hình 2 Ảnh hưởng của ngập lụt đến sản xuất lúa nước
Kết quả điều tra cho thấy, ảnh hưởng nhiều
nhất từ ngập lụt đối với sản xuất lúa nước là
làm cây sinh trưởng chậm (68,3%), một số
ruộng bị mất trắng (64,7%), giảm khả năng
chống chịu của cây, khiến cho cây trồng bị
chết (62,6%), giảm năng suất cây trồng
(50,36%)
3.2.4 Ảnh hưởng của rét đậm, rét hại, sương
mù và băng tuyết đến sản xuất lúa nước
Kết quả khảo sát cho thấy rét đậm, rét hại có
ảnh hưởng nhiều đến sản xuất lúa nước
Trong 139 hộ tham gia điều tra, có 100% trả
lời rét đậm, rét hại làm năng suất lúa bị
giảm, 79,14% làm cây trồng bị chết và cây
sinh trưởng chậm 21,58% và gia tăng nhiều
dịch bệnh 17,99% Những ảnh hưởng khác
của rét đậm rét hại đến trồng trọt như: có
ruộng bị mất trắng, thiếu nước tưới, diện tích
canh tác giảm,… cũng được ghi nhận nhưng
xảy ra ít hơn
3.3 Đề xuất biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH tới sản xuất lúa nước tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
3.3.1 Sử dụng kiến thức bản địa ứng phó với BĐKH trong sản xuất lúa nước tại huyện Bắc
Hà, tỉnh Lào Cai
a Kinh nghiệm của người dân trong việc dự đoán thời tiết và xác định lịch thời vụ
Ngày nay, người dân nơi đây vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên nên những kinh nghiệm trong dự báo thời tiết có vai trò quan trọng Người dân thường thông qua quan sát các hiện tượng tự nhiên từ cây
cỏ, động vật, các loại côn trùng, các hiện tượng biến đổi của sắc trời, mây, gió và một
số hiện tượng thiên nhiên khác để đưa ra các
dự báo thời tiết phục vụ cho đời sống và sản xuất như: Kiến bò về tổ, ong di tản chỗ ở, chuồn chuồn bay thấp hay chớp đằng Đông
là những biểu hiện trời sắp mưa
Xác định thời vụ gieo cấy là vô cùng quan trọng [4] Bố trí thời vụ hợp lí để tránh mùa bão lũ, né rầy Một yếu tố quan trọng để xác định thời vụ là bố trí thời gian trồng thích hợp
để thời kì lúa trỗ thời tiết thuận lợi nhất Thời
kỳ trỗ bông, làm hạt là thời kỳ cây lúa mẫn cảm nhất với điều kiện ngoại cảnh, nhất là nhiệt độ
Tại địa bàn khảo sát, sự thay đổi về thời tiết khí hậu trong những năm qua đã gây xáo trộn tới mùa vụ Để hạn chế bớt những thiệt hại, lịch thời vụ đã được chính quyền và người dân thay đổi so với trước kia
Làm giảm năng suất Cây sinh trưởng chậm Thiếu nước tưới Đất đai xói mòn, thoái hóa Gia tăng dịch bệnh
Cây trồng bị chết
Có ruộng bị mất trắng
Trang 6Bảng 5 Lịch thời vụ của cây lúa nước năm 2019 tại huyện Bắc Hà
Cây trồng Thời vụ gieo trồng Thời gian sinh trưởng (ngày) Mật độ, khoảng
cách Vùng thượng huyện Vùng trung huyện Vùng hạ huyện
Lúa
Vụ xuân
Gieo mạ từ ngày25/1- 25/2 115 -
135
45 - 48 khóm/m 2 Cấy từ ngày 20/2
- 25/3
Vụ mùa
Gieo mạ từ ngày
01/4- 20/4
Gieo mạ từ ngày 25/4 -05/5
Gieo mạ từ ngày 15/6 -30/6
100 - 125 42 - 45
khóm/m 2
Cấy từ ngày 20/4-10/5;
TH 10/8-30/8
Cấy từ ngày 20/5
- 5/6;
TH 10/9-30/9
Cấy từ ngày 10/7
- 25/7; TH 15-30/10
(Nguồn: Lịch thời vụ cây lúa năm 2019 trên địa bàn huyện Bắc Hà)
b Kinh nghiệm của người dân trong chọn giống
Chọn giống lúa là một trong những yếu tố
quan trọng hàng đầu trong sản xuất Muốn có
cây lúa khoẻ thì chắc chắn phải có hạt giống
tốt và khoẻ mạnh Gieo trồng hạt giống khoẻ,
có chất lượng cao là điều kiện cần thiết để có
một vụ mùa bội thu, cây lúa khoẻ sẽ chịu
đựng được điều kiện bất lợi của môi trường
[5] Một số giống lúa nước được người dân tại
đây sử dụng phổ biến như: Bản liền hạt tròn
(giống cũ) và Thiên ưu (giống mới) Trong
đó, giống Bản liền hạt tròn được sử dụng phổ
biến nhất với 134/139 hộ điều tra sử dụng
Tại địa bàn nghiên cứu, đa số các hộ đều đưa
ra yêu cầu để lựa chọn giống lúa trước khi
gieo sạ như sau:
1 Hạt giống phải thuần, đúng giống, phải
đồng nhất về kích cỡ, giống không bị lẫn
những giống khác, hạt cỏ và tạp chất Hạt
giống phải sáng mẩy, không hoặc có rất ít hạt
lem bị lẫn trong hạt giống
2 Tỷ lệ nẩy mầm cao và cây mạ có sức sống mạnh
3 Hạt giống không bị côn trùng phá hoại (sâu mọt)
Bảng 6 Cơ cấu sử dụng giống lúa bản địa trong
ứng phó biến đổi khí hậu của các hộ được điều tra
Giống lúa Bản Liền hạt tròn Thiên ưu
Kết quả điều tra cho thấy, phương án trồng 1
vụ giống cũ, 1 vụ giống mới được lựa chọn
nhiều nhất (86,3%) Số hộ dân sử dụng hoàn
toàn giống lúa mới có năng suất cao chiếm 11,51%, chỉ có 2,15% số hộ dân canh tác hoàn toàn bằng giống cũ
c Kinh nghiệm của người dân trong chăm sóc
Người dân khu vực điều tra ứng dụng nhiều kinh nghiệm truyền đời vào chăm sóc, bón phân cho lúa để ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu như hạn hán, lũ lụt, rét đậm, rét hại,… Kết quả điều tra, phỏng vấn của đề tài ghi nhận một số kỹ thuật truyền thống trong canh tác lúa nước sau:
1 Bón lót cho lúa: Sử dụng phân chuồng và phân lân, phân đạm, Kali, tiến hành ủ hoai mục trước mùa vụ khoảng 1 tháng (mùa hè) hoặc 3 tháng (mùa đông) để phân kịp phân hủy, hoai mục hoàn toàn do thời tiết nơi đây thay đổi thất thường, đặc biệt có mùa đông lạnh, số ngày rét đậm và rét hạn đang có xu hướng tăng lên Phân được rải đều lên mặt ruộng sau đó lấp một lớp đất mỏng thay vì để không như nhiều nơi khác, nhằm tránh sự rửa trôi, xói mòn khi có mưa, kết hợp với địa hình dốc đặc trưng tại địa bàn nghiên cứu
2 Bón thúc giúp cây lúa đẻ nhánh bằng phân đạm kết hợp với phân lân, tỉ lệ 2:1
3 Bón thúc đòng
- Sử dụng phân đạm và phân kali
- Do đặc thù giống địa phương là Bản liền hạt tròn và Thiên ưu (đẻ ít nhánh nhưng bông to
và nặng hạt) nên người dân địa phương chú trọng nhiều đến bón đón đòng và nuôi hạt nhằm giúp cho bông lúa to hơn, hạt chắc hơn
để tăng năng suất
Trang 74 Bón nuôi hạt: Tiến hành phun phân bón lá
từ 1 đến 2 lần giúp tăng số hạt chắc
5 Sử dụng kỹ thuật cấy mạ thay vì gieo xạ để
giảm ảnh hưởng tiêu cực (nắng nóng, rét hại)
của biến đổi khí hậu lên cây trồng và tăng tỷ
lệ cây sống
3.3.2 Biện pháp thông tin, truyền thông
Hình 3 Nguồn thông tin người dân biết được về
BĐKH
Tại địa bàn nghiên cứu, việc truyền thông về
biến đổi khí hậu qua các kênh truyền thông
đại chúng (tivi, đài phát thanh,…) và từ các tổ
chức đoàn thể là đạt được hiệu quả cao nhất
với 80% người được điều tra trả lời đã biết
đến BĐKH thông qua đây
Tuy nhiên, việc hiểu về các vấn đề của
BÐKH của người dân chưa thật sự đầy đủ và
toàn diện Trong 139 hộ được điều tra, phỏng
vấn, số hộ đã được nghe đến BĐKH, nhưng
hiểu lơ mơ, chỉ biết BĐKH là ảnh hưởng của
thời tiết bất thường chiếm 50,3%; số hộ cũng
đã nghe đến BĐKH nhưng không hiểu gì về
nó chiếm 28,7%
Ðể nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác
truyền thông BÐKH, tôi đề nghị chính quyền
địa phương cần cung cấp kịp thời thông tin về
BÐKH cho các cơ quan truyền thông Công
tác truyền thông cần tập trung tuyên truyền
các mô hình, cách làm hay trong chủ động
thích ứng BÐKH như: Các phương án, cách
thức thay đổi tập quán sản xuất, tổ chức đời
sống của người dân để thích nghi với điều kiện BÐKH Ngoài ra, cần đào tạo, tập huấn kiến thức, kỹ năng cho người làm công tác truyền thông về BÐKH
3.3.3 Biện pháp giáo dục
Trình độ văn hóa tỉ lệ thuận với mức độ hiểu biết về BĐKH, việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân đóng vai trò
vô cùng quan trọng Tại khu vực nghiên cứu, trong 139 hộ được phỏng vấn, số người dân có chỉ học đến cấp 2 chiếm phần lớn (59%), trình
độ 12/12 chiếm 35,26%, trình độ từ trung cấp trở lên chiếm 5,74% Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục về ứng phó với BĐKH trong sản xuất lúa nước cần:
- Chuyển đổi cơ cấu việc làm gắn liền với phát triển dạy nghề
- Phát triển giáo dục cho cả nam và nữ
- Tổ chức hội thảo, hội nghị, tập huấn nâng cao kiến thức, kĩ năng cho người học, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cha mẹ học sinh và cộng đồng dân cư về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai
- Đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ trong phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, ứng phó và giảm nhẹ tác động tiêu cực do BĐKH trong lĩnh vực trồng lúa nước trên địa bàn
4 Kết luận
Biểu hiện và ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất lúa nước tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai được đánh giá cụ thể thông qua sự thay đổi nền nhiệt độ, lượng mưa, tần suất và mức độ của các hiện tượng thời tiết bất thường như: hạn hán, lũ lụt, rét đậm, rét hại, sương mù, băng tuyết trong giai đoạn 5 năm (2015 – 2019) Kết quả điều tra 139 hộ cho thấy các biểu hiện của BĐKH như: hạn hán, bão, ngập lụt, rét đậm rét hại, sương mù, băng tuyết đã gây
ra nhiều tác động bất lợi đến sản xuất lúa nước theo các mức độ khác nhau Những ảnh hưởng này nhìn chung đều gây khó khăn cho sản xuất, ảnh hưởng đến năng suất, sự sinh trưởng và làm giảm sản lượng cây lúa
Nghe trên truyền thông đại chúng (Tivi, Radio,…) Người dân nói với nhau
Từ chính quyền địa phương ( Huyện, xã,…) Các tổ chức, đoàn thể (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ,…)
Tự quan sát và cảm nhận thấy trên thực tế
Trang 8Nghiên cứu đã đề xuất được một số biện pháp
giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH tới
sản xuất lúa nước tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào
Cai, gồm: Sử dụng kiến thức bản địa (Nghiên
cứu đã định dạng được các kiến thức bản địa
mà người dân sử dụng và hiệu quả của nó
trong việc ứng phó với BĐKH, cụ thể trong
sản xuất lúa nước như: Kinh nghiệm trong dự
đoán thời tiết, lịch thời vụ, kỹ thuật bón phân
và chọn giống lúa…); Biện pháp thông tin
truyền thông và biện pháp giáo dục
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1] Department of Natural Resources and
Environment of Lao Cai Province, Synthesis
report: Mission Implementation plan of the
Paris agreement on climate change in Lao
Cai province in 2019, 2019
[2] T T H Dang, “The impact of climate change
on the rice farming sector in Lao Cai province and proposing solutions,” Master Thesis, Hanoi National University, Hanoi, 2013 [3] T M Ha, T M Nguyen, H T T Khuat, and
L H Nguyen, “The impact of climate change
on agriculture and adaptation to climate change
in Van Ban district, Lao Cai province,” TNU Journal of science and technology, vol 201,
no 03, pp 115-120, 2019
[4] M D Nguyen, T K H To, et al.,
Textbook of Applied Statistics, Economic
Publishing House, 2016
[5] D V Tran, S N Ho, and G T T Luu,
“Indigenous Knowledge and Climate Change Adaptation Issues of Ethnic Minorities in Northern Uplands of Vietnam”, International workshop “Sustainable development and poverty reduction for ethnic minorities in the Northern Mountainous Provinces”, Thai Nguyen, 2014.