Mỗi vùng đất, mỗi địa phương đều có những sắc thái văn hóa riêng, những sắc thái văn hóa riêng ấy hòa quyện với nhau trong dòng chảy qua thời gian, bồi đắp nên những diện mạo văn hóa, tạ[r]
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI-BĐ
ĐỀ THI HỌC KỲ II (NĂM HỌC 2016 – 2017) MÔN: NGỮ VĂN 11
Thời gian làm bài: 90 phút
I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1- 4.
Mỗi vùng đất, mỗi địa phương đều có những sắc thái văn hóa riêng, những sắc thái văn hóa riêng ấy hòa quyện với nhau trong dòng chảy qua thời gian, bồi đắp nên những diện mạo văn hóa, tạo ra những cánh đồng, làng bản, quê hương văn học nghệ thuật Đằm sâu trong sắc thái văn hóa mỗi vùng miền là sự thể hiện, quan tâm, bồi dưỡng, chăm sóc những tài năng văn học nghệ thuật của mỗi miền quê, vùng đất Cái đằm sâu ấy nó chảy êm đềm, bồi lắng với những lấp lánh phù sa… Có thể nói, truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc luôn luôn là điểm tựa cho đội ngũ văn nghệ sĩ trẻ sáng tạo Qua nhiều bước thăng trầm của cuộc sống, nhân dân
ta đã hình thành nên một nền văn học nghệ thuật trường tồn cùng dân tộc Tất cả những điều đó
đã kết tinh thành văn hóa và văn hóa ấy đã lan truyền, tỏa hương cho mỗi vùng đất, con người quê hương, xứ sở.
(Bình Nguyên - Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 259 - 8/2016, tr 56)
1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn (0,5 điểm)
2 Đoạn văn bản trên đề cập đến vấn đề gì? (0,5 điểm)
3 Tìm và nêu hiệu quả của phép liên kết chính được sử dụng trong đoạn trích (1,0điểm)
4 Tại sao tác giả lại viết: Văn hóa ấy đã lan truyền, tỏa hương cho mỗi vùng đất, con người quê hương, xứ sở? (1,0điểm)
II LÀM VĂN (7,0 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm):
Từ vấn đề nêu lên trong đoạn trích ở phần Đọc - hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (từ
10 đến 12 câu) trình bày trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của quê hương, xứ sở
Câu 2 (5,0 điểm):
Bàn về Tràng giang của Huy Cận, nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn nhận định: Bài thơ
là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển, vừa được cảm nhận bằng tâm thế
cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho Thơ mới.
(Tinh hoa Thơ mới - Thẩm bình và suy ngẫm, NXB Giáo dục, 2003, tr.77)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau để làm sáng tỏ nhận định trên:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(SGK Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam - 2016, tr.29)
.Hết………
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI-BĐ
HƯỚNG DẪN CHẤM THI HỌC KỲ II
NĂM HỌC 2016 – 2017 MÔN: NGỮ VĂN 11
(gồm 04 trang)
Câu 2 Nêu được vấn đề cơ bản: Nét đặc sắc văn hóa của mỗi vùng miền là mạch
nguồn nuôi dưỡng và khơi gợi sự sáng tạo nghệ thuật cho các nhà văn trẻ
0,5 điểm
Câu 3 - Phép liên kết chính được sử dụng trong đoạn văn: Phép lặp (sắc thái văn hóa
riêng, đằm sâu, văn hóa, văn học nghệ thuật…)
- Hiệu quả: Nhằm nhấn mạnh, khắc sâu chủ đề và tạo sự liên kết, liền mạch cho đoạn văn
1,0 điểm
Câu 4 Hiểu đúng nội dung và ý nghĩa của câu văn: văn hóa ấy đã lan truyền, tỏa
hương cho mỗi vùng đất, con người quê hương, xứ sở
Khẳng định vẻ đẹp truyền thống văn hóa và sức lan tỏa mạnh mẽ tạo nên nét
riêng cho mỗi vùng miền
Đó là niềm tự hào và cũng là lời nhắn nhủ mỗi chúng ta hãy biết yêu mến,
trân trọng, giữ gìn, phát huy những nét đẹp văn hóa của quê hương, xứ sở
1,0 điểm
Câu 1 Cần đạt được những yêu cầu sau:
- Yêu cầu về hình thức:
+ Viết đoạn văn nghị luận xã hội (từ 10 đến 12 câu) + Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt…
- Yêu cầu về nội dung: Bám sát trọng tâm đề, đảm bảo kiến thức đời sống xã hội và có quan điểm rõ ràng
2,0 điểm
* Thân đoạn:
- Giải thích:
+ Văn hóa là gì? (Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử)
+ Hiểu thế nào về bản sắc văn hóa? (Bản sắc văn hóa là những đặc trưng cơ bản nhất, độc đáo nhất của nền văn hóa)
+ Vì sao phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của quê hương, xứ sở?
(Vì đó là nét đẹp riêng, là truyền thống, là mạch nguồn để tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần bền vững cho mỗi miền quê và cho đất nước.)
0,5 điểm
Phân tích, chứng minh: Lấy dẫn chứng trong cuộc sống, trong học tập và rèn luyện
VD: Văn hóa ứng xử, nét thanh lịch văn minh của HS Thủ đô, các ngày truyền thống, lễ hội của Hà Nội…
0,5 điểm
- Bình luận: Bàn bạc, nhận xét đánh giá và trình bày quan điểm về trách nhiệm
của mỗi người trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của quê hương, xứ sở.
0,25 điểm
Trang 3- Bài học và liên hệ bản thân (Bản thân đã có những hành động cụ thể, thiết
thực như thế nào để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Hà Nội?) 0,25 điểm
Câu 2 Cần đạt được những yêu cầu sau:
- Yêu cầu về hình thức:
+ Viết bài văn nghị luận văn học
+ Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn
đạt…
- Yêu cầu về nội dung: Bám sát trọng tâm đề, đảm bảo chuẩn kiến thức về văn
học
5,0 điểm
a Mở bài:
- Giới thiệu về Thơ mới, giới thiệu tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang
- Dẫn dắt và trích dẫn nhận định trong đề bài
0,25 điểm
- Bài thơ là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển: Hình
ảnh, sự vật quen thuộc, truyền thống; đề tài, cảm hứng, bút pháp… thường gặp
trong thơ Trung đại Việt Nam và thơ Đường Trung Quốc
- … được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc
trưng cho Thơ mới: Đó là nỗi buồn, là sự cô đơn, lẻ loi, bơ vơ, đáng thương,
tội nghiệp của nhân vật trữ tình Đồng thời cũng là nỗi lòng chung của tầng lớp
thanh niên, của các nhà thơ lãng mạn trong thời điểm hiện tại là những năm 30
của thế kỉ XX, vừa chân thực vừa sâu lắng, thiết tha
* Phân tích đoạn thơ và chứng minh nhận định 3,25 điểm
- Giới thiệu và tóm lược ý của hai khổ thơ đầu (có thể giới thiệu kết hợp với
nhan đề và lời đề từ)
0,25 điểm
- Bốn câu thơ đầu đoạn trích:
+ Sự vật quen thuộc được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển: dòng sông,
cánh bèo, bờ bãi…
+ Hình ảnh: Bèo dạt về đâu: gợi thân phận trôi nổi vô định, không nơi nương
tựa, không thể làm chủ cuộc đời Câu thơ mang nghĩa nghi vấn, hỏi nhưng ko
có câu trả lời, hỏi để khơi sâu cảm giác bơ vơ, đáng thương, tội nghiệp
Chuyến đò ngang và cầu nối đôi bờ là phương tiện liên kết ->Biểu tượng cho
sự giao lưu, kết nối giữa người với người Nhưng tất cả đều là không - lặp lại 2
lần nhằm nhấn mạnh và làm nổi bật sự trống vắng, cách li, cô độc (Ẩn sâu
trong cảm giác trống vắng ấy là niềm khao khát được giao lưu, khao khát tình
thân mến nhưng vô vọng)
Con người như bị nhấn chìm trong sự mênh mông của sông nước, chỉ có bờ
xanh tiếp bãi vàng trong lặng lẽ Đó là màu sắc đặc trưng của bờ bãi ven sông,
đẹp thơ mộng nhưng hoang vắng, đìu hiu Không gian không một bóng người,
không một âm thanh, không sự kết nối, không tình thân mến
=>Tất cả đều trống trải, cô đơn đến tận cùng (Cái tôi đáng thương) Huy Cận
nói riêng và các nhà Thơ mới nói chung đã mang tâm trạng buồn và cô đơn của
1,5 điểm
Trang 4mình phủ lên cảnh sắc thiên nhiên, nên thiên nhiên thường mênh mông, rợn
ngợp hoặc xa vắng, hiu quạnh Đó là không gian được cảm nhận bằng tâm thế
cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho Thơ mới
-Bốn câu thơ cuối:
+ Lời thơ gợi lên không gian và hình ảnh quen thuộc mang màu sắc cổ điển
thường gặp trong thơ Trung đại: bầu trời, mây núi, cánh chim, bóng chiều,
sông nước -> không gian hùng vĩ, tráng lệ (bình từ lớp lớp, đùn)
(Trích dẫn một số câu thơ trong văn học Trung đại có những sự vật, hình ảnh
trên để làm minh chứng)
VD: Chim hôm thoi thót về rừng
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
(Chiều hôm nhớ nhà - Bà Huyện Thanh Quan)
Hai câu thơ cuối, tác giả mượn tứ thơ của Thôi Hiệu đời Đường:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)
+ Mặc dù Huy Cận sử dụng hình ảnh quen thuộc trong thơ Trung đại và mượn
tứ của thơ Đường nhưng khổ thơ vẫn mang đậm cảm xúc, tâm thế cô đơn của
một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho Thơ mới:
Trước không gian vũ trụ mênh mông, con người cảm thấy nhỏ bé, yếu ớt,
đáng thương như cánh chim chiều mỏi mệt bị sức nặng của bóng chiều đè
xuống đôi cánh rã rời
Thôi Hiệu mượn khói sóng trên sông mà gửi nỗi lòng nhớ quê hương, còn
Huy Cận không cần mượn cớ mà nỗi lòng cứ dâng trào lên mạnh mẽ, liên tục
và lan ra sông nước mênh mang Nhà thơ nhớ quê hương ngay khi đang đứng
giữa quê hương –> Đó là nỗi lòng chung của những người dân mất nước trong
những năm 30 của thế kỉ XX (lòng yêu nước thầm kín – “Tràng giang là một
bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ
quốc” - Xuân Diệu)
1,5 điểm
* Bình luận:
- Khẳng định sự đánh giá đúng đắn và sâu sắc của nhà phê bình văn học Chu
Văn Sơn
- Giá trị chung về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Đóng góp của Huy Cận
trong phong trào Thơ mới và trong nền văn học dân tộc
0,5 điểm
* Liên hệ: Bài học thực tiễn và liên hệ bản thân: Tình yêu quê hương đất nước
(Ý này có thể đan xen trong quá trình phân tích đoạn thơ)
0,25 điểm
c Kết bài:
- Chốt lại vấn đề
- Cảm nhận sâu sắc nhất của bản thân
0,25 điểm
- Dựa và các mức điểm trên, giáo viên chấm thi cho các mức điểm còn lại lẻ đến 0,25
Trang 5- Điểm toàn bài là điểm của các phần cộng lại.
* Học sinh có thể trình bày các cách khác nhau nhưng phải đảm bảo được nội dung và kỹ năng làm văn.
.Hết………