1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Đề thi KSCL Ngữ Văn 11 lần 2 năm 2019 - 2020 trường THPT Yên Lạc 2 - Vĩnh Phúc - THI247.com

5 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 278,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Cái đẹp không thể tách rời cái chân cái thiện, người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại nhưng đó không phải là thứ nghệ thuật cao siêu mà phả[r]

Trang 1

SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2

-

KỲ KSCL KHỐI 11 LẦN 2 NĂM HỌC 2019 - 2020

ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài 120 phút, không kể thời gian giao đề

(Đề thi gồm 01 trang)

———————

I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích dưới đây:

Chưa bao giờ thói a dua của chúng ta lại rộ lên và trầm trọng như thời đại facebook và nhiễu loạn truyền thông này

A dua là thói hùa theo kẻ mạnh (tất nhiên, chỉ nhắm mắt chạy theo thì mới là hùa theo, và hùa theo cái tiêu cực thì mới gọi là a dua) Cụ thể là hùa theo suy nghĩ, phát ngôn, hành động của đám đông và những cá nhân có ảnh hưởng Thói tật này có thể làm con người đánh mất mình nhanh chóng và ngọt ngào nhất Nghĩa là con người tức khắc đánh rơi mất cái đầu của mình cùng lòng tự trọng, ý thức tự tôn Và, mất mà cứ đinh ninh là mình đang được

A dua, xét đến cùng là căn bệnh của kẻ yếu Yếu về phẩm chất và năng lực Vì thế mà thiếu tự tin, thiếu bản lĩnh Cho nên nó lệ thuộc vào kẻ mạnh, bị kẻ mạnh thao túng mà không tự biết, vì bao giờ cũng xem kẻ mạnh là chân lí, là lẽ phải Dần dần nó mất khả năng và nhu cầu suy xét, nhất nhất hùa theo kẻ mạnh, bất luận đúng- sai, hay- dở

(Chu Văn Sơn - Thói a dua, nguồn facebook, ngày 12.12.2018)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 Nêu khái niệm về thói a dua mà tác giả trình bày trong đoạn trích

Câu 2 Chỉ ra tác hại của thói a dua được nêu trong đoạn trích

Câu 3 Tại sao tác giả cho rằng thói a dua khiến cho con người mất mà cứ đinh ninh là mình đang

được?

Câu 4 Anh/chị có cho rằng: A dua, xét đến cùng là căn bệnh của kẻ yếu hay không? Vì sao?

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ ý nghĩa của đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình

bày suy nghĩ về điều bản thân cần phải làm để tránh được thói a dua

Câu 2 (5,0 điểm)

Cảm nhận về nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích hồi V vở kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng Từ đó, anh/chị có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa

người nghệ sĩ với con người, với cuộc đời mà nhà văn đề cập đến trong tác phẩm

-Hết -

Thí sinh không sử dụng tài liệu

Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm

Họ và tên thí sinh:……… … ….……….Số báo danh:………

Trang 2

1

1 - A dua là thói hùa theo kẻ mạnh Cụ thể là hùa theo suy nghĩ, phát ngôn, hành động của đám đông và những cá nhân có ảnh hưởng 0.5

2 - Tác hại của thói a dua: làm cho con người đánh mất mình một cách

3 - Thói a dua khiến cho con người “Mất mà cứ đinh ninh là mình đang được” vì: người theo thói a dua thường không ý thức được hành động của của mình, không có chính kiến riêng mà chỉ “bám” theo suy nghĩ và hành động của người khác -> chiến thắng ảo

1.0

4 - HS nêu quan điểm: đồng tình; không đồng tình…

- Kiến giải hợp lí, thuyết phục về quan điểm của mình 1.0

1 Từ ý nghĩa của đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về điều bản thân cần phải làm để

tránh được thói a dua

2.0

a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: Thí sinh có thể trình bày đoạn

văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song

hành

0.25

b Xác định đúng vấn đề nghị luận: Điều bản thân cần làm để tránh thói a

c Triển khai vấn đề nghị luận: Trên cơ sở những hiểu biết về đoạn trích ở

phần Đọc hiểu, HS có thể trình bày suy nghĩ theo nhiều cách nhưng phải

hợp lí, có sức thuyết phục Có thể theo hướng sau:

* Giải thích khái niệm: thói a dua; tác hại của căn bệnh này…

* Bằng cách nào để tránh được thói a dua:

– Bằng nỗ lực cá nhân thể hiện ở việc học tập, rèn luyện

– Bằng cách suy nghĩ thấu đáo, đa diện trước một vấn đề của cuộc sống

– Tạo ra những sản phẩm vật chất mang dấu ấn cá tính

– Bằng bản lĩnh, sự tự tin, dám chấp nhận đánh giá của người khác, đi ngược lại với quan điểm số đông

– Dám đấu tranh để bảo vệ công lí

* Phản biện: Không nên hiểu theo quan điểm và hành động theo số đông

là a dua, mà chỉ hùa theo cái tiêu cực thì mới là a dua Trong quá trình đánh giá xem xét sự việc cần lắng nghe, tham khảo tư duy số đông

* Liên hệ: Trong xã hội hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ giới trẻ

luôn chạy theo tư duy đám đông, a dua, dễ dãi đánh mất mình…

(Đánh giá cao những bài viết có phản biện và liên hệ thực tế)

1.0

d Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt 0.25

SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2

-

KỲ KSCL KHỐI 11 LẦN 2 NĂM HỌC 2019 - 2020 HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN

(Hướng dẫn chấm gồm: 04 trang)

Trang 3

2

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ

2 Cảm nhận về nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu

Trùng Đài (trích hồi V vở kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng

Từ đó anh/chị có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với

con người, với cuộc đời mà nhà văn đề cập đến trong tác phẩm

5.0

a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái

b Xác định đúng vấn đề nghị luận

- Cảm nhận về nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (trích hồi V vở kịch “Vũ Như Tô”) của Nguyễn Huy Tưởng

- Suy nghĩ về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với con người, với cuộc đời

mà nhà văn đề cập đến trong tác phẩm

0.5

c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, yêu cầu của đề

- Giới thiệu vở kịch “Vũ Như Tô” và đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng

- Giới thiệu khái quát nhân vật Vũ Như Tô, mối quan hệ giữa người nghệ

sĩ với con người, với cuộc đời

0.5

* Cảm nhận về nhân vật Vũ Như Tô

- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài

+ Ông là một kiến trúc sư “ngàn năm chưa dễ có một”

+ Tài năng của ông được thể hiện: “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện lên trên mảnh lụa thần tình, biến hóa như cảnh hóa công ”; “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây

mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”…

+ Tài năng ấy một lần nữa được thể hiện qua lời Đan Thiềm trong đoạn

trích: “Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai tô điểm nữa” và

bà khuyên Vũ Như Tô hãy trốn đi để không phí “tài trời” ban cho ông

⇒ Vũ Như Tô là hiện thân cho niềm say mê và sáng tạo cái đẹp Tài năng của ông là sự trác tuyệt, siêu phàm, được người đời trọng vọng, ngưỡng

mộ, tôn vinh

- Vũ Như Tô là người nghệ sĩ có nhân cách lớn, hoài bão lớn, có lí tưởng nghệ thuật cao cả

+ Mong muốn và hoài bão của ông chính là xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại, “bền như trăng sao” để “dân ta nghìn thu còn hãnh diện” Đó là khát vọng đem tài năng của mình cống hiến cho đất nước

+ Là người có nhân cách cao đẹp, người nghệ sĩ chân chính không màng danh lợi, không sợ cường quyền, có tinh thần dân tộc

Ban đầu, dù vua Lê Tương Dực doạ giết, Vũ Như Tô vẫn kiên quyết

từ chối xây Cửu Trùng Đài

Nhưng sau những lời khuyên của cung nữ Đan Thiềm, Vũ Như Tô

chấp nhận xây Cửu Trùng Đài bởi ông muốn tô điểm cho đất nước, bởi

ông là một nghệ sĩ sống chết vì cái đẹp

Khi đã xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô dồn hết tâm sức: “để ta xây

0.5

0.5

Trang 4

3

một Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn thành, cao cả huy hoàng” Lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô cao cả đến mức, bản thân ông còn tự thấy đời ông “không quý bằng Cửu Trùng Đài”

Vũ Như Tô là người không hám lợi (mọi thứ vua ban thưởng ông đem

chia hết cho thợ)

Nhân cách cao đẹp của ông còn thể hiện trong câu nói khẳng khái:

“người quân tử không bao giờ sợ chết” Ông ngẩng cao đầu đón nhận cái chết vì cho rằng việc mình làm là “chính đại, quang minh”

- Vũ Như Tô là con người bi kịch + Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài năng, là người nghệ sĩ có khát vọng,

hoài bão và nhân cách cao đẹp Nhưng khát vọng của Vũ Như Tô đối lập với thực tế phũ phàng, ngang trái của xã hội:

Mục đích và bản chất của tầng lớp vua quan: Lê Tương Dực cũng

khao khát xây Cửu Trùng Đài song không phải là để tạo cho đất nước một công trình nghệ thuật mà đơn giản là để làm nơi vui chơi, hưởng lạc Đài Cửu Trùng trong mục đích của Lê Tương Dực chính là hiện thân của cuộc sống xa hoa đầy lạc thú Nó sẽ tiêu tốn tiền công khố, bòn rút mồ hôi xương máu của nhân dân

Cuộc sống của nhân dân khi Cửu Trùng Đài được xây dựng: vô cùng

lầm than khổ cực Tình cảnh khốn khổ ấy tất sẽ sinh biến loạn: khi quân phản nghịch nổi lên, thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân địch

+ Bi kịch của Vũ Như Tô:

Bi kịch bị hiểu lầm và kết tội: Vì mượn tay Lê Tương Dực để thực

hiện khát vọng nghệ thuật của mình nên Vũ Như Tô bị đánh đồng với kẻ

xa hoa tàn ác, với tên hôn quân bạo chúa, bị coi là kẻ gây tội ác: “Ai cũng cho ông là thủ phạm…” Trong hoàn cảnh ấy, cả Vũ Như Tô và Cửu Trùng Đài đã trở thành mục tiêu của sự oán giận, trở thành đối tượng để nhân dân và quân phiến loạn tàn phá, hủy hoại

Bị vỡ mộng: Cho đến phút cuối cùng, Vũ Như Tô cũng không thể

hiểu và không thể tin rằng việc mình làm là trái với quyền lợi của nhân dân, vẫn một mực khẳng định mình không có tội và không thể hiểu vì sao dân chúng lại nổi lên phá Cửu Trùng Đài, không hiểu vì sao xây Cửu Trùng Đài lại là việc làm hại nước, hại dân Khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy cũng là lúc Vũ Như Tô vỡ mộng, bừng tỉnh, đau đớn đến tuyệt vọng:

“Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài”

+ Nguyên nhân bi kịch:

Mâu thuẫn giữa khát vọng cao cả của người nghệ sĩ với cách thực

hiện khát vọng ấy: Mục đích của Vũ Như Tô là chân chính nhưng con đường thực hiện lại sai lầm khi ông lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu thuần tuý của muôn

đời với lợi ích thiết thực, trực tiếp của quần chúng nhân dân: Niềm khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng đã đẩy Vũ Như

Tô đến vị thế đối nghịch với nhân dân Hoàn cảnh xã hội chưa cho phép người nghệ sĩ thực hiện khát khao sáng tạo cái đẹp của mình Trong hoàn

0.75

Trang 5

4

cảnh không thích hợp, cái đẹp thành ra phù phiếm, cao siêu

- Nghệ thuật khắc họa nhân vật Vũ Như Tô:

+ Tình huống kịch căng thẳng khi xung đột được đẩy đến đỉnh điểm, cao trào

+ Tính cách của Vũ Như Tô được thể hiện rõ qua hành động, cử chỉ và ngôn ngữ của nhân vật

+ Đoạn trích có tiết tấu nhanh, nhịp điệu bão tố, tính hành động, biểu cảm cao

+ Lời chỉ dẫn sân khấu cũng góp phần không nhỏ tạo dựng không khí, khắc sâu tính cách và bi kịch của nhân vật

0.5

* Mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với con người, với cuộc đời mà nhà văn đề cập đến trong tác phẩm

- Nguyễn Huy Tưởng giúp người đọc nhận ra một chân lí trong sáng tạo nghệ thuật: Nghệ thuật phải gắn bó chặt chẽ với lợi ích của nhân dân và vận mệnh dân tộc Nghệ thuật mà xa rời tực tế sẽ bị yểu mệnh, người nghệ

sĩ mà quay lưng với quần chúng nhân dân thì sẽ rơi vào bi kịch đau thương

- Thương cảm người nghệ sĩ có tài, có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp, nhưng xa rời thực tế mà phải trả giá bằng sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật của đời mình

- Cái đẹp không thể tách rời cái chân cái thiện, người nghệ sĩ phải có hoài

bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại nhưng đó không phải là thứ nghệ thuật cao siêu mà phải có mục đích rõ ràng dựa trên lợi ích chung của cộng đồng, phải phục vụ nhân dân

- Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý trọng, nâng niu những sản phẩm nghệ thuật đích thực

0.75

d Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt 0.25

e Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ 0.5

- Hết -

Ngày đăng: 12/01/2021, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w