1.Phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty?2.Phân tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo qui định của Luật Thương mại. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại?3.Nêu khái niệm và phân tích đặc điểm của Hợp đồng mua bán? Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực.4.Hãy so sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại? Nêu một số ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này với người tiêu dùng hiện nay ở nước ta5.Hãy nêu và phân tích đặc điểm của tranh chấp thương mại và nêu khái quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại.6.Hãy nêu và phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại (chủ thể, đại diện, đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm giao kết, nội dung cơ bản cần thỏa thuận7.Hãy nêu khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với quan hệ hàng đổi hàng, quan hệ tặng cho hàng hóa, quan hệ cho thuê hàng hóa.8.Hãy phân tích các điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.9.Phân biệt pháp nhân và thể nhân, trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn:10.So sánh công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần 11.So sánh công ty TNHH 1 thành viên và doanh nghiệp tư nhân12. So sánh giữa phá sản với giải thể doanh nghiệp13.Nêu và phân tích vai trò, ý nghĩa của Luật phá sản14.So sánh giữa chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại:15.Nêu các trường hợp được miễn, giảm trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng1 16.Hợp đồng vô hiệu và cách thức xử lý hợp đồng vô hiệu. So sánh hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng phần.17.Phân tích khái niệm và đặc điểm của hoạt động đại diện cho thương nhân.18.Trình bày về: Khái niệm gia công hàng hóa trong thương mại, quyền và những nghĩa vụ cơ bản của mỗi bên trong quan hệ gia công hàng hóa.19.Trình bày về khái niệm cho thuê hàng hóa, hình thức và những nội dung cơ bản của hợp đồng cho thuê hàng hóa.20.Phân tích các điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại21.Trình bày khái niệm về gia công hàng hóa trong thương mại. Phân biệt hợp đồng gia công với hợp đồng hợp tác kinh doanh.22.Phân tích đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của 2 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại: Thương lượng và hòa giải.23.Phân tích đặc điểm của trọng tài thương mại thường trực. Phân biệt trọng tài thương mại thường trực và trọng tài kinh tế nhà nước trước đây.24.Khái niệm, đặc điểm của trung tâm trọng tài thương mại thường trực. Hãy làm rõ bản chất phi chính phủ của tổ chức trọng tài thường trực25.So sánh với các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của tòa án26.Phân tích khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thương mại (đối với trọng tài thường trực)27.Phân tích nội dung, thời điểm và hình thức của thỏa thuận trọng tài.28.Hãy nêu khái niệm và phân tích đặc điểm của Hợp đồng mua bán.29.Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực.30.Phân tích các căn cứ để áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng.BÀI TẬP TÌNH HUỐNGTình huống số 12 Người mua Việt Nam (NM) và người bán Hàn Quốc (NB) kí kết hợp đồng muabán:•Tên hàng: Thép Thanh•Số lượng: 80.000 tấn•Giá: 350USDtấn chưa bao gồm cước vận chuyển•Thời gian giao hàng: từ ngày 1562016 đến 15122016•Quyền mua đặc biệt: Bên mua có quyền mua đế 160.000 tấn với giá như trong hợp đồng nhưng phải thông báo cho bên bán trước ngày 15102016Diễn biến sự việc:Ngày 1102016, NM thông báo cho người bán thực hiện quyền mua đặc biệt, nâng số hàng muốn mua lên 160.000 tấn. Vào thời điểm này giá thép trên thế giới tăng đáng kể nên NB đã yêu cầu NM thương lượng về giá cả của số thép mua them so với hợp đồng. NM đã kiên quyết từ chối yêu cầu tăng giá của NB và đề nghị người bán thực hiện giao hàng đúng như giá thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 15122016, NB không giao hàng, NM gửi thông báo nhấn mạng NB đã vi phạm hợp đồng và gia hạn cho NB đến 30122016. Ngày 512017, NM đã mua thép từ Nhật Bản với giá 380USDtấn (đã bao gồm cước vận chuyển là 5USDtấn) để phục vụ sản xuất cho kịp tiến độ và yêu cầu NB thanh toán số tiền chênh lệch 2.400.000 USD. NB không đồng ý với các lý do sau:•Hành động mua thép của NM từ Nhật Bản không được coi là hành động mua hàng thay thế do NM đã không thông báo ý định cho NB•Khi NM đàm phán về việc tăng giá bán théo, NB đã đưa ra mức giá 376USDtấn, thấp hơn giá NM đã mua hàng thay thế. Việc NM không mua thép của NB là một điều vô lý.Tình huống số 2Công ty tôi đại diện chủ đầu tư để làm hợp đồng cho thuê Văn phòng. Vào thời điểm ngày 142015, Chúng tôi bàn giao mặt bằng thuê cho khách thuê, lúc đó Công ty có tên là Công ty A. (Các biên bản bàn giao đều đại diện là Công ty A) Đến ngày 152015 chúng tôi đổi tên thành Công ty B.Tình huống số 3.3 Công ty A (NB) và công ty B (NM) ký kết hợp đồng mua bán quặng Niken vào 1112013 quy định ngày giao hàng chậm nhất là 1522014, tại cả của nước NM, NB là người thuê tàu và có nghĩa vị thông báo thời gian tàu cập bến. Trước đó ngày 112013, chính phủ nước NM đưa ra dự thảo danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu trong đó có quặng Niken.Diễn biến sự việc:Ngày 1222014, tàu cập cảng, NB thống bao cho NM để NM nhận hàng.Ngày 112014, chính phủ nước NM ra lệnh cấm nhập khẩu quặng Niken.NM đã không nhận hàng từ phía NB, khiến NB phải lưu khoang hàng hóa đến ngày 2522014 và sau đó phải bán lại lô hàng trên cho công ty C tại nước lân cận nước NM với giá thấp hơn.NB kiện NM ra tòa trọng tài ICC và yêu cầu NM bồi thường thiệt hại bao gồm:•Chi phí lưu khoang 13 ngày•Chi phí chuyển tải và vận chuyển hàng hóa đến cảng nước công ty C•Chênh lệch giá bán giữa hợp đồng với giá bán cho công ty C.NM cho rằng mình không thể nhận hàng là bất khả kháng do lệnh cấm nhập khẩu của chính phủ đưa ra sau khi kí kết hợp đồng, và yêu cầu được miễn trách trong trường hợp này.ICC đã tiếp nhận đơn kiện của NB, tuy nhiên trong quá trình xét xử, công ty NM phá sản và tuyên bố giải thể, tên của công ty sau đó bị xóa khỏi Sổ đăng ký kinh doanh.Trường hợp này NM có được miễn trách hay không? Việc pháp nhân (NM) không còn tồn tại có giải phóng các nghĩa vụ của người mua đối với phán quyết của trọng tài hay không? Kết quả của bản án như thế nào? Giải thích?Tình huống số 4.Ngày 381997, Công ty A (Việt Nam) và công ty B (Hàn Quốc) ký hợp đồng mua bán theo đó A mua của B hai máy thuê trị giá 136.000USD theo điều kiện CIF Tân Cảng Thành phố Hồ Chí Minh, bảo hành 12 tháng sau khi hoàn thành lắp đặt.Thực hiện hợp đồng, ngày 1681997, B đã giao hai máy thêu cho A, máy đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng, máy có nhiều hỏng hóc, B đã cử chuyên gia sang Việt Nam sửa chữa nhưng không thành công, B cam kết sẽ sửa chữa4 xong vào ngày 441998 và sẽ bồi thường 29.202USD cho 40 ngày máy dừng hoạt động nhưng sau đó B chỉ bồi thường 4.302USD và không tiếp tục sửa chữa máy nữa.A đã trường cầu SGS Việt Nam để giám định tình trạng hai máy thêu. Biên bản giám định ngày 191998 của SGS ghi “hai máy không thể sản xuất ra sản phẩm theo yêu cầu của nguyên đơn”.Do máy ngừng hoạt động, A đòi B đổi hai máy mới và bồi thường thiệt hại phát sinh cho A. Ngày 1841999, B thông báo với A việc tái giám định sẽ được tiến hành ngày 22 đến 28 tháng 4 năm 1999 bởi Vinacontrol có sự chứng kiến của luật sư đại diện bên B. A không phản đối.Ngày 2841999, Vinacontrol cấp biên bản giám định số 0951999G, trong đó kết luận máy bị hỏng hóc, tình trạng lắp ráp, căn chỉnh hai máy chưa hoàn tất, vào thời điểm giám định, cả hai máy đều không thể vận hành được, B chấp nhận đổi máy cho A. Ngày 451999, A kiện B ra trọng tài đòi:1.Trả lại hai máy thêu, lấy lại tiền.2.Bồi thường thiệt hại gồm:•Chi phí nhân công trong thời gian máy dừng hoạt động•Lãi suất trên số tiền hàng 136000USD kể từ ngày thanh toán đến ngày trọng tài xétxử.•Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam•Thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thầnTình huống số 5Công ty A (Singapore) và công ty B (Việt Nam) là hai đối tác quen thuộc trong một cuộc điện đàm đại diện về pháp lý của hai bên vào ngày 1012017 đã trao đổi với nhau một nội dung như sau:A:Chúng tôi hiện đang có một lô hàng 1000 tấn nhớt FO phẩm cấp loại 1, giá 850USDtấn giao tại cảng SingaporeB:Chúng tôi cũng đang cần số lượng nhớt như vậy nhưng giá 850USD là quá cao, chúng tôi khó có thể mua được với giá trên 750USDtấn.A:Vậy chúng tôi sẽ để cho các anh giá 800USDtấnB:Chúng tôi sẽ mở LC cho các canh trong tháng này và rất mong anh sẽ giao hàng cho chúng tôi vào trung tuần tháng tới.5 A: Chúng tôi đồng ý.Trung tuần tháng sau, giá nhớt trên thị trường giảm xuống còn 650USDtấn, A gửi thông bác giao hàng cho bên B, bên B không có ý kiến gì. A tiến hành gửi hàng nhưng B đã không đưa tàu đến nhận hàng, A phải lưu hàng tại cảng, khoản tiền theo LC do đó cũng không được thanh toán. A đã kiện B ra tòa trọng tài ICC, yêu cầu bên B nhận hàng và bồi thường cho bên A:•Chi phí lưu kho do B đã không nhận hàng đúng thời hạn•Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan mà A đã đóng•Số tiền lãi theo giá trị của đơn hang tính từ khi A giao hàng đến khi B thực thanh toán, với lãi suất là lãi suất của đồng USD tại ngân hàng của A•Do không nhận được tiền hàng A không thể thanh toán tiền mua nguyên vật liệu cho công ty C nên bị công ty C từ chối các đơn hàng sau đó. A yêu cầu B bồi thường về thiệt hại uy tín và những khoản lợi kinh doanh dự tính vì không thực hiện được hợp đồng với C.Bên B kháng cáo và đưa ra lập luận của mình: Theo các hợp đồng đã ký kết trước đây giữa 2 bên, hai bên luôn thỏa thuận với nhau nếu xảy ra tranh chấp thì luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là luật của nước người mua. Và theo luật của Việt Nam thì hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong trường hợp này, hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói nên hợp đồng vô hiệu ngay từ khi xác lập và không ràng buộc trách nhiệm các bên. Bên B không có nghĩa vụ phải nhận hàng.Tình huống số 6Ngày 1062013, giữa người bán Singapore (NB) và người mua Việt Nam (NM) ký hợp đồng 9623INUT13, the đó NB bán cho NM 9937kg Cà phê và bột kèm theo điều kiện CIF cảng HCM, thanh toán bằng chuyển tiền vào tài khoản của NB tại Singapore trong vòng 7 ngày sau khi NM nhận được chứng từ vận tải gốc, người hưởng lợi là NB.Thực hiện hiowj đồng, NB đã giao hàng cho người mua ngày 2162013. Sau khi giao hàng, NB đã chuyển giao cho NM vận đơn góc và hóa đơn thương mai số 05913 đề ngày 2162013 đòi tiền hàng, nhưng cuối cùng NB vẫn không nhận được tiền hàng.Qua nhiều lân đòi mà không được trả tiền, NB đã khởi kiện NM ra trọng tài đòi NM phải trả các khoản tiên sau:•Tiền hàng•Tiền lãi của ngân hàng từ ngày 2162013 đến ngày nhận được tiền thanh toán.6 •Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax. Trong văn thư phản bác đơn kiện, NM đã trình bày:Ngày 1062013, NM đã ký hợp đồng số 9623INUT13 với NB để nhập khẩu ủy thác cho cửa hàng A. Theo biên bản thỏa thuận riêng (không đề cập trong hợp đồng) ngày 1062013 giữa ba bên (NM, NB, cửa hàng A) thì trách nhiệm thanh toàn tiền hàng cho NB là cửa hàng A, cho nên NB không có quyền kiện NM trả tiền hàng.Tình huốngsố 7Tình huống số 8Ngày 0152012, Công ty TNHH Gia Hân gửi đơn chào hàng cho công ty TNHH Kim Dan B để mua 100 chiếc nệm Kim Dan loại 1 tất của công ty Kim Dan với thời hạn trả lời vào ngày với thời hạn trả lời vào ngày 1552012 và yêu cầu giao hàng 52012, công ty Kim Dan nhận được đơn chào hàng của công ty Gia Hân và đã gửi công văn đồng ý nhưng thông báo kho hàng chỉ còn 80 nệm loại 1 tất và còn 20 chiếc còn lại sẽ thay bằng loại nệm 1,5 tất với mức giá cao hơn so với nệm 1 tất là 50%. Công ty Gia Hân nhận được thông báo này từ công ty Kim Dan nhưng không có phản hồi. Ngày 2052012, công ty Kim Dan cho người giao hàng tới thì công ty Gia Hân không nhận. Công ty Kim Dan cho rằng công ty Gia Hân đã vi phạm hợp đồng và yêu cầu công ty Gia Hân nhận hàng và trả chi phí vận chuyển hàng hóa. Với những kiến thức đã học, anh (chị) hãy giải quyết tình huống trên?Tình huống số 9Người mua A kí kết hợp đồng mua 150.000 đôi giày nam với người bán B, yêu cầu người bán B cung cấp giày do Hãng C sản xuất. Ngay sau khi kí kết hợp đồng người bán B đã kí kết hợp đồng mua 150.000 đôi giày của hang C. Đến ngày giao hàng của người bán B, công ty C chỉ giao được 90.000 đôi giày do không kịp nhập nguyên liệu sản xuất. Do vậy người bán B cũng chỉ giao được 90.000 đôi giày nam cho người mua A. Bên A kiện B ra trọng tài thương mại, yêu cầu B nộp phạt vi phạm 2% trị giá hàng giao chậm như đã thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời yêu cầu bên B bồi thường về việc uy tín thương mại bị giảm sút, với lý do, bên B giao thiếu hàng nên bên A đã không thể giao hàng cho khách của mình. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của đối tác A do mặt hàng giày là mặt hàng có tính thời vụ. Bên B kháng cáo và lập luận rằng, do bên A yêu cầu cụ thể trong hợp đồng là mua giày của hang C sản xuất nên bên B không thể tìm được nguồn hàng khác thay thế. Vì vậy, việc B không thể giao hàng dù là bất khả kháng và B được miễn trách nhiệm trong trường hơp này. Hỏi phán quyết của Trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?Tình huống số 107 Một người làm chủ một doanh nghiệp tư nhân sau một thời gian thì bị mất năng lực hành vi dân sự. Do không có người quản lý nên người nhà muốn bán doanh nghiệp này đi, vậy ai là người có quyền đứng ra bán doanh nghiệp đó?Tình huống số 11Công ty Trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên góp vốn gồm: Ông A có vốn góp là 90% và hiện là chủ tịch hội đồng thành viên đồng thời là người đại diện pháp luật của Cty. Bà B là thành viên công ty có vốn góp là 10%; cô C là Phó Giám đốc công ty. Nay ông A muốn chuyển quyền đại diện pháp luật cho cô C, nhưng ông A vẫn là chủ tịch hội đồng thành viên.Hỏi:a)Cô C có được đứng tên đại diện pháp luật của công ty TNHH không? Tại sao?b)Nếu được thì thủ tục chuyển đổi gồm những gì?Tình huống số 12Bình, TP HCM, do Nguyễn Văn Quang là chủ DN. Ngày 20062017, doanh nghiệp An Phú ký hợp đồng mua 5 chiếc xe ô tô của Công ty TNHH Toàn Thắng có trụ sở tại quận Lê Chân, TP Hải Phòng. Khi thực hiện hợp đồng Công ty Toàn Thắng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán vì vậy DN An Phú quyết định khởi kiện tại Toà án. Hỏi Toà án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên? Nêu căn cứ pháp lý để giải quyết vụ việc trên.Tình huống số 13Công ty Trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên góp vốn gồm: Ông A có vốn góp là 90% và hiện là chủ tịch hội đồng thành viên đồng thời là người đại diện pháp luật của Cty. Bà B là thành viên công ty có vốn góp là 10%; cô C là Phó Giám đốc công ty. Nay ông A muốn chuyển quyền đại diện pháp luật cho cô C, nhưng ông A vẫn là chủ tịch hội đồng thành viên. Vậy tôi xin hỏi:a)Cô C có được đứng tên đại diện pháp luật của công ty TNHH không? Tại sao?b)Nếu được thì thủ tục chuyển đổi gồm những gì?Tình huống số 14Tháng 82015, bà Nguyễn Ngọc Lan đứng ra kêu gọi đầu tư thành lập công ty TNHH Phương Dung có trụ sở tại đường Quang Trung, quận Hà Đông, TP Hà Nội. khi kêu gọi đầu tư, công ty đã được thành lập bao gồm 4 thành viên: Bà Lan góp 35% vốn điều lệ, Bà Phương đóng góp 20% vốn điều lệ, ông Hưng đóng góp 15% vốn điều lệ, Bà8 Thương đóng góp 30% vốn điều lệ của công ty. Điều lệ của công ty hoàn toàn phù hợp với Luật doanh nghiệp năm 2014. Sở kế hoạch đầu tư đã cấp giấy chứng nhận ĐKKD. Theo thỏa thuận, bà Lan sẽ là chủ tịch hội đồng thành viên, ông Hưng là giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của công ty. Để thay đổi điều lệ của công ty, bà Lan triệu tập hội đồng thành viên vào ngày 10102015 theo đúng trình tự thủ tục. tuy nhiên phiên họp chỉ có bà Lan và ông Hưng tham dự. quyết định cũng chỉ được bà Lan và Ông Hưng biểu quyết thông qua.Hỏi:1.Quyết định sửa đổi điều lệ của công ty đã hợp lệ hay chưa? Vì sao?2.Sau khi có con dấu của công ty, công ty muốn làm thêm một con dấu nữa cho các chức danh chủ chốt trong công ty thì có được ko? Thủ tục như thế nào?3.Giả sử, công ty kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử, ngày 192015 công ty Phương Dung có bán cho công ty Khúc Quyên 200 cái máy giặt hiệu Toshiba – MT5, trong hợp đồng mà 2 bên kí kết, công ty Khúc Quyên sẽ trả tiền thành 2 lần, lần 1 tương ứng với 50 cái, lần 2 sẽ thanh toán hết số tiền vào ngày 1102016. Tuy nhiên, đã quá thời hạn 4 tháng mà bên Khúc Quyên vẫn chưa thanh toán hết số tiền lần 2, hỏi nếu bên Phương Dung khởi kiện ra tòa án thì bên Khúc Quyên phải thanh toán số tiền tổng cộng cả gốc cả lãi là bao nhiêu, biết máy giặt có đơn giá là 4,5tr1 cái và lãi suất là 2%tháng, tòa án nào có thẩm quyền giải quyết?4.Vì công ty tiếp tục làm ăn không có lãi trong nhiều năm sau đó, không thể thanh toán được các khoản nợ. các thành viên muốn tuyên bố giải thể công ty, vậy ai là người có thể thay mặt các thành viên thực hiện cv đó?5.Sau khi công ty tuyên bố giải thể được 1 tháng, ông Hưng muốn đứng ra thành lập công ty riêng thì có được không?Tình huống số 15Công ty trách nhiệm hữu hạn M có trụ sở tại Nam Từ Liêm Hà Nội. M gồm bốn thành viên A, B, C, D. Theo điều lệ công ty A là chủ tịch hội đồng thành viên C là giám đốc công ty và là người đại diện pháp luật. Ngày mồng 10 tháng 2 năm 2018 A đã đại diện cho công ty M mua 100 tấn cát của công ty trách nhiệm hữu hạn N có trụ sở tại huyện Hoài Đức mà không có sự ủy quyền của C.Yêu cầu tòa án nào có quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trên.9 Tình huống số 16 Công ty cổ phần M trụ sở tại quận Nam Từ Liêm Hà Nội ký hợp đồng mua cà phê xaycủa công ty cổ phần N trụ sở tại thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk tổng giá trị Hợp đồng là 2 tỷ. Hai bên thỏa thuận bằng lời nói nếu có tranh chấp phát sinh sẽ đưa ra giải quyết tại trung tâm trọng tài Thương mại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên N giao hàng cho M không đúng chất lượng làm thiệt hại cho M 1 tỷ do đó phát sinh tranh chấp.Yêu cầu: Trung tâm trọng tài thành phố Hồ Chí Minh có giải quyết vụ tranh chấp trên không?Giả sử vụ tranh chấp trên được giải quyết bằng tòa án thì tòa án nào có thẩm quyền giải quyết?Tình huống số 17Công ty trách nhiệm hữu hạn A chuyên sản xuất đồ gỗ có trụ sở chính tại Bắc Ninh. Ngày mùng 2 tháng 11 năm 2018 đã ký hợp đồng cung cấp gỗ với công ty B có trụ sở chính tại Nghệ An. Theo hợp đồng đã ký kết B có trách nhiệm cung cấp gỗ cho A thành 2 đợt với tổng giá trị hợp đồng là 2 tỷ đồng thời hai bên đã có thỏa thuận bằng văn bản về việc giải quyết tranh chấp xảy ra giữa hai bên (nếu có) tại trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam Nam. Tuy nhiên trong đợt giao hàng thứ hai B không thể giao hàng cho A đúng hạn do một số lý do khách quan thiệt hại kinh tế phát sinh cho A là 500.000.000₫.Yêu cầu:(1)A gửi đơn kiện tới tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để được giải quyết tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh có được thụ lý đơn và giải quyết tranh chấp không?(2)Trường hợp nào thỏa thuận trọng tài của hai của hai công ty bị coi là vô hiệu?Tình huống số 18Theo thỏa thuận trong hợp đồng của hai bên: mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng được giải quyết từ trung tâm Trọng tài thương mại do bên bị vi phạm lựa chọn theo thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại luật TTTM 2010. Tuy nhiên tranh chấp xảy ra, bên A gửi đơn kiện đến trung tâm TTTM, và phán quyết bên B bị buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại cho bên A một số tiền. Bên B làm đơn yêu cầu TAND thành phố HN tuyên bố hủy quyết định của trọng tài vì trong hợp đồng không có thỏa thuận việc bồi thường nếu có vi phạm xảy ra. TAND HN đã thụ lý đơn nhưng khi xét xử ko ra quyết
Trang 1CÂU HỎI LÝ THUYẾT DẠNG ĐỀ MỞ
MÔN LUẬT KINH TẾ
1 Phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty?
Khái niệm chủ sở hữu công ty được Luật Doanh nghiệp 2014 dùng cho chủ sởhữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Quyền của chủ sở hữu công ty được quy định tại Điều 75 Luật Doanh nghiệp
2014 như sau:
- Quyền chung của chủ sở hữu là tổ chức và cá nhân:
Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn
bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác;
Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và cácnghĩa vụ tài chính khác của công ty;
Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thểhoặc phá sản;
Quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Quyền riêng của chủ sở hữu công ty là tổ chức :
Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của côngty;
Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệmngười quản lý công ty;
Quyết định dự án đầu tư phát triển;
Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công tyquy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản đượcghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trịkhác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sảnđược ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giátrị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác;
Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty;
- Quyền riêng của Chủ sở hữu công ty là cá nhân :
Trang 2 Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ công ty, trừ trường hợp Điều
lệ công ty có quy định khác;
Nghĩa vụ của Chủ sở hữu công ty không phân biệt chủ sở hữu là tổ chức hay
cá nhân được quy định tại Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2014 như sau:
Góp đầy đủ và đúng hạn vốn điều lệ công ty
Tuân thủ Điều lệ công ty
Phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của công
ty Chủ sở hữu công ty là cá nhân phải tách biệt các chi tiêu của cá nhân và giađình mình với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặcTổng giám đốc
Tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng và pháp luật có liênquan trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê và các giao dịch khácgiữa công ty và chủ sở hữu công ty
Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng mộtphần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp rútmột phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khácthì chủ sở hữu và cá nhân, tổ chức có liên quan phải liên đới chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty
Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủcác khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn
Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
2 Phân tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo quy định của Luật Thương mại Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại?
2.1 Đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại
Theo quy định của Luật thương mại 2005, môi giới thương mại là hoạtđộng thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới)cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới)trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được
hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới (Điều 150 Môi giới thương mại)
Căn cứ theo các quy định của Luật Thương mại 2005 thì có thể nhận thấymôi giới thương mại có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Đây là hoạt động thương mại, một loại dịch vụ thương mại, một hình thức trung gian thương mại, theo đó một thương nhân làm một công việc cho thương nhân khác để hưởng thù lao Bên môi giới thực hiện hoạt động môi
giới nhằm mục đích lợi nhuận bằng việc nhận thù lao của bên thuê dịch vụ Vìthế, kết quả hoạt động kinh doanh của bên môi giới sẽ phụ thuộc vào khả năng vàhiệu quả của hoạt động môi giới Trong hoạt động môi giới, bên môi giới nhândanh chính mình, với tư cách là người môi giới tham gia vào giao dịch, trong cácgiao dịch với các bên
Thứ hai: Chủ thể trong quan hệ môi giới thương mại gồm có bên môi giới
và bên được môi giới Theo quy định của Luật Thương mại 2005 thì bên môi giới
Trang 3bắt buộc phải là thương nhân, phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề môi giớithương mại Tuy nhiên, đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ môi giới trongcác lĩnh vực nhất định thì còn phải đáp ứng được các điều kiện khác do pháp luậtquy định chẳng hạn như điều kiện để kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản,môi giới chứng khoán, môi giới tàu biển… được quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật chuyên ngành Bên được môi giới có thể là hoặc không là thươngnhân.
Thứ ba: Nội dung và phạm vi của công việc môi giới khá rộng bao gồm tất cả các công việc làm trung gian cho các bên mua bán trong quan hệ mua bán hàng hóa, hay cung ứng và sử dụng dịch vụ trong hoạt động cung ứng dịch vụ với mục đích cho các bên này giao kết được hợp đồng với nhau Luật Thương
mại 2005 chỉ quy định bên môi giới “làm trung gian” cho các bên mà không quyđịnh cụ thể các việc mà bên môi giới phải làm Tuy nhiên, căn cứ theo quy địnhcủa Luật Thương mại 2005 thì bên môi giới có thể tiếp nhận các thông tin, hàngmẫu, tài liệu của bên thuê dịch vụ để tiến hành việc tìm kiếm, thúc đẩy các bên
có cung và bên có cầu đạt được thỏa thuận mua bán hay cung ứng dịch vụ vớinhau Bên môi giới có thể phải làm nhiều việc cụ thể như tìm kiếm, tiếp xúc, traođổi, giới thiệu, thuyết phục các bên liên quan
Thứ tư, quan hệ môi giới thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồng môi giới Theo quy định tại Điều 150 Luật Thương mại 2005 thì quan hệ môi
giới, các quyền và nghĩa vụ giữa bên môi giới và bên được môi giới, phải thểhiện trên hợp đồng môi giới
2.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại
+ Quyền và nghĩa vụ của bên môi giới
Quyền của bên môi giới
Thứ nhất, quyền được hưởng thù lao môi giới là một quyền quan trọng của
bên môi giới, đây cũng chính là mục đích trực tiếp mà bên môi giới mongmuốn đạt được khi giao kết hợp đồng môi giới
Về nguyên tắc, bên môi giới được hưởng thù lao môi giới từ thời điểm cácbên được môi giới đã giao kết được hợp đồng với nhau, chứ không phải ở thờiđiểm bên môi giới giới thiệu các bên gặp nhau hay khi các bên thực hiện xonghợp đồng mua bán hay cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, nhằm đảm bảo quyền tự
do thỏa thuận của các bên, LTM 2005 cho phép các bên trong hợp đồng môigiới có quyền thỏa thuận thời điểm phát sinh quyền hưởng thù lao khác vớinguyên tắc ở trên
Thứ hai, bên cạnh thù lao môi giới, bên môi giới được quyền yêu cầu bên
được môi giới thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến việc môigiới, kể cả khi việc môi giới không mang lại kết quả cho bên được môi giới, trừtrường hợp các bên có thỏa thuận khác
Thứ ba, bên môi giới còn có các quyền khác theo quy định của pháp luật
và theo thỏa thuận
Nghĩa vụ của bên môi giới
Trang 4Điều 151 LTM 2005 quy định một loạt các nghĩa vụ của bên môi giới,theo đó trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên môi giới có các nghĩa
vụ sau đây:
- Trong trường hợp bên được môi giới giao cho bên môi giới các mẫu hànghóa, tài liệu đề thực hiện việc môi giới thì bên môi giới có nghĩa vụ bảoquản và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành việc môigiới;
- Bên môi giới không được tiết lộ, không được cung cấp thông tin có được từviệc thực hiện công việc môi giới cho các tổ chức, cá nhân làm phương hạiđến lợi ích của bên được môi giới
- Với bản chất của quan hệ môi giới, bên môi giới không được tham gia thựchiện hợp đồng giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp bên môi giới có
sự ủy quyền của bên được môi giới đề tham gia thực hiện hợp đồng
- Khi thực hiện công việc môi giới, bên môi giới phải đảm bảo và chịu tráchnhiệm về tư cách chủ thể hợp pháp của các bên mà mình môi giới, giớithiệu họ đàm phán, giao dịch, ký kết hợp đồng với nhau Các bên được môigiới đã không biết nhau trước khi được môi giới qua hoạt động của ngườimôi giới, vì thế việc quy định bên môi giới phải chịu trách nhiệm về tư cáchpháp lý của các bên được môi giới là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, bên môigiới không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán, khả năng thực hiệnhợp đồng và các yếu tổ khác liên quan đến các bên được môi giới; các bênphải tự tìm hiểu và quyết định khi đàm phán, giao kết hợp đồng
+ Quyền và nghĩa vụ của bên được môi giới
Quyền của bên được môi giới
Mặc dù LTM 2005 không có một điều luật riêng quy định về quyền củabên được môi giới nhưng có thể hiểu rằng, bên được môi giới có quyền yêu cầubên môi giới phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình, chẳng hạn như phảibảo quản các mẫu hàng hóa, tài liệu được giao đề thực biện việc môi giới; yêucầu bên môi giới không được tiết lộ thông tin làm ảnh hưởng đến lợi ích củabên được môi giới Các quyền này bao gồm những quyền theo thỏa thuậntrong hợp đồng và quyền yêu cầu bên môi giới thực hiện những nghĩa vụ màpháp luật quy định
Nghĩa vụ của bên được môi giới
Nghĩa vụ của bên được môi giới được quy định tại Điều 152 LTM 2005.Nếu giữa bên môi giới và bên được môi giới không có thỏa thuận khác thì bênđược môi giới có các nghĩa vụ sau đây: Phải cung cấp thông tin, tài liệu,phương tiện cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà cần nhờ bên môi giớigiao dịch; Phải thanh toán thù lao cho bên môi giới theo thỏa thuận, nếu không
có thỏa thuận cụ thể về thù lao môi giới thì mức thù lao này sẽ căn cứ vào quyđịnh tại Điều 86 LTM 2005 Bên cạnh đó bên được môi giới còn phải trả chobên môi giới những chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến công việc môi giới
3 Nêu khái niệm và phân tích đặc điểm của Hợp đồng mua bán? Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực.
Trang 53.1 Khái niệm
Xét về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa – hình thức pháp lý của quan hệmua bán hàng hóa – mang tính chất cơ bản của một hợp đồng, là sự thỏa thuận giữacác bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợpđồng mua bán hàng hóa Nền tảng của hợp đồng mua bán hàng hóa trên sự thỏathuận giữa các chủ thể của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luậtthương mại nhằm thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa
Theo cách hiểu này, dựa trên quy định của LTM 2005 về hoạt động mua bán
hàng hóa, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.
3.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại thuộc về bản chất,được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân, vậy nên hợp đồng muabán hàng hóa với tính chất là sự thỏa thuận của các bên để thực hiện hoạt động muabán hàng hóa có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập giữa
(i) các chủ thể là thương nhân hoặc giữa
(ii) thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa khi các chủthể đó chọn áp dụng LTM 2005 các chủ thể này là một bên trong giaodịch với thương nhân, thực hiện hoạt động mua bán không nhằm mụcđích sinh lợi trên lãnh thổ nước Việt Nam và chọn áp dụng LTM 2005
để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa của các bên
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời
nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, đối với nhữngloại hợp đồng mà pháp luật quy định phải được giao kết bằng văn bản thì phải tuântheo quy định đó
Thứ ba, về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa.
Theo LTM 2005, hàng hóa bao gồm
(i) tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; (ii) những vật gắn liền với đất đai
Theo quy định của pháp luật, động sản là những tài sản không phải là bấtđộng sản; còn bất động sản là các tài sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựnggắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; cáctài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định Như vậy,LTM 2005 chỉ điều chỉnh các hợp đồng mua bán có đối tượng hàng hóa là (i) độngsản đã tồn tại vào thời điểm xác lập hợp đồng hoặc sẽ hình thành trong tương lai và(ii) những vật gắn liền với đất đai (mà không bao gồm đất đai)
Theo cách hiểu này, quyền sử dụng đất là đối tượng trong các giao dịchchuyển nhượng quyền sử dụng đất thì không phải là hàng hóa theo quy định của
Trang 6LTM 2005 nhưng nhà, công trình xây dựng tồn tại trên đất lại là hàng hóa thuộcphạm vi điều chỉnh của Luật này
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải không thuộcdanh mục hàng hóa cấm kinh doanh; trường hợp hàng hóa thuộc danh mục hạn chếkinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì để có thể lưu thông hợp pháp phải đápứng các điều kiện này theo quy định của pháp luật
3.3 Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực
LTM 2005 không quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạtđộng thương mại, vì vậy các vấn đề pháp lý liên quan đến xác định điều kiện đểhợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực phải tuân theo quy định của BLDS 2015 vềđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa
có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng phải có năng lực chủ thể
để ký kết hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân, chủ thể này
có nghĩa vụ phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thuơng mại.Thương nhân giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích sinh lợi với điềukiện có đăng ký kinh doanh đối với hàng hóa mua bán Đối với thương nhân là tổchức kinh tế, việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được thực hiện thông quangười đại diện hợp pháp của mình, bao gồm người đại diện theo pháp luật và ngườiđại diện theo ủy quyền Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xácđịnh căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (hoặc giấy chứng nhận cógiá trị tương đương) và phạm vi quyền hạn của người đại diện theo pháp luật đượcxác định căn cứ vào điều lệ của doanh nghiệp và pháp luật doanh nghiệp Như vậy,
để hợp đồng mua bán hàng hóa của thương nhân có hiệu lực thì chủ thể tham giahợp đồng phải đáp ứng yêu cầu về đăng ký kinh doanh và yêu cầu về thầm quyểncủa người ký kết hợp đồng
Thứ hai, mục đích và nội dung của hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Những hợp đồng mua bán có mục đích và nội dung vi phạm điều kiện này bị
vô hiệu và vì vậy, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Thứ ba, hợp đồng phải được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện
Đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật trong giao kết hợp đồng, bởi lẽhợp đồng phải là sự thống nhất ý chí của các bên và các bên phải tự nguyện trongviệc xác lập và thể hiện ý chí của mình, mọi trường hợp giao kết hợp đồng trên cơ
sở lừa đối, đe dọa là căn cứ dẫn đến hậu quả hợp đồng bị vô hiệu
Thứ tư, hợp đồng phải đáp ứng quy định của pháp luật về hình thức
Hình thức của hợp đồng mua bán là phương thức thể hiện ý chí của các bêntham gia quan hệ mua bán hàng hóa, sự thỏa thuận của các bên về nội dung của hợpđồng phải được thể hiện bằng những hình thức đáp ứng quy định của pháp luật.Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợppháp luật có quy định Các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có thể xác lập hợp
Trang 7đồng bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, chỉ những hợp đồng nàopháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Trường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lựccủa hợp đồng mà các bên không tuân theo thì heo yêu cầu của một hoặc các bên,Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiệnquy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà khôngthực hiện thì hợp đồng vô hiệu.
4 Hãy so sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại? Nêu một số ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này với người tiêu dùng hiện nay ở nước ta
4.1 So sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại
- Điểm giống nhau:
Đều là hoạt động xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm xúc tiếnviệc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Có thể do thương nhân tự tiến hành hoặc thuê dịch vụ quảng cáo, khuyến mạidựa trên hợp đồng
về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Điều 102 Luật Thương mại 2005)
Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (Điều 88 Luật Thương mại 2005)
Chủ thể
Thường có nhiều chủ thể tham gia:
người thuê quảng cáo, người phát hành quảng cáo, người cho thuê phương tiện quảng cáo (bởi quảng cáo cần phải thông qua các phương tiện truyền thông)
Chủ thể thường không đa dạng bằng thường chỉ là thương nhân thực hiện khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại
Cách thức
xúc tiến
thương mại
Sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin
về hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng: hình ảnh, tiếng nói được truyền tải tới công chúng qua truyềnhình, truyền thanh, ấn phẩm…
Dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, các lợi ích mà khách hàng nhận được có thể là các lợi ích vật chất, nhưng cũng có thể là các lợi ích tỉnh thần, nhưng đối với thương nhân khuyến mại bao giờ cũng có thể quy
về giá trị vật chất
Mục đích
Giới thiệu hàng hoá, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận cuả thương nhân thông qua nhấn mạnh đặc điểm, lợi ích của hàng hóahoặc so sánh tính ưu việt với sản phầm cùng loại
Xúc tiến bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua các đợt khuyến mại lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới nhằm giúp tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 8Tiêu chí Quảng cáo thương mại Khuyến mại
Thủ tục Không phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Phải đăng ký hoặc thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền4.2Ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này tời người tiêu dùng:
- Về kinh tế: Tăng sự lãng phí, tiêu thụ không cần thiết (giá rẻ - mua nhiều hơn mứccần thiết) Ngoài ra khách hàng cần thời gian tìm kiếm, so sánh các chương trìnhkhuyến mại, quảng cáo của sản phẩm (nhằm tìm ra chương trình tốt nhất) hay thậmchí không mua hàng khi có nhu cầu thực sự mà cố đợi đến đợt khuyến mại
Xét ở góc độ kinh tế, quảng cáo thương mại được xem công cụ marketing hữu hiệu
để quảng bá hình ảnh của thương nhân, hàng hóa, dịch vụ của thương nhân Mặc đùmỗi quảng cáo đều có đối tượng tác động riêng (khách hàng mục tiêu), nhưng khiquảng cáo được phát hành trên cáo phương tiện quảng cáo như phương tiện thôngtin đại chúng, xuất bản phẩm thì thông thường quảng cáo đó không chỉ tác độngđến nhóm đối tượng mục tiêu, mà đến công chúng nói chung Bởi vậy, một quảngcáo cụ thể có thể có các hiệu ứng xã hội không mong muốn Mặt khác, là công cụmarketing quảng cáo cũng đồng thời là phương tiện cạnh tranh Với mục đíchquảng bá hình ảnh, hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, quảng cáo thương mại cóthể có các hiệu ứng cạnh tranh không lành mạnh Bởi vậy, một trong những nhiệm
vụ chính của pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo thương mại là một mặt tạođiều kiện để thương nhân sử dụng quyền quảng cáo của mình một cách hiệu quả,nhưng đồng thời ngăn chặn được các quảng cáo xâm phạm đến trật tự, lợi íchchung của xã hội
- Về thông tin lên nhận thức:
Giá cả: Khách hàng dần có xu hướng cho rằng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụchính là giá khuyến mại nên đối với họ mức giá thông thường của hàng hóa, dịch
vụ khi chưa có khuyến mại là cao, không chấp nhận được
Chất lượng: Đối với khuyến mại, khách hàng cho rằng hàng hóa, dịch vụ đượckhuyến mại có chất lượng thấp hơn hàng hóa, dịch vụ cùng loại của nhà sản xuấtkhác, thậm chí là thấp hơn hàng hóa, dịch vụ đó khi chưa có khuyến mại
- Về tác động cảm xúc: Quảng cáo, khuyến mại có thể làm cho khách hàng đánh giásai về chất lượng hàng hóa, dịch vụ tạo cảm giác thất vọng cho khách hàng khi chấtlượng, giá cả trên thực tế không như những gì mà doanh nghiệp hứa hẹn
5 Hãy nêu và phân tích đặc điểm của tranh chấp thương mại và nêu khái
quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại.
5.1 Khái niệm tranh chấp thương mại:
Điều 3 LTM 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằmmục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiếnthương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”
Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại của các thươngnhân được gọi là tranh chấp thương mại Là một hiện tượng kinh tế - xã hội tấtyếu xuất hiện trong điều kiện kinh tế thị trường, hiểu một cách khái quát, tranhchấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa
Trang 9vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại Dưới tácđộng của quy luật cạnh tranh và sự tự do hóa thương mại, tranh chấp thương mại
có xu hướng ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loai, phức tạp về nội dung.5.2 Đặc điểm
Thứ nhất, về chủ thể, chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là
thương nhân Quan hệ thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân vớinhau hoặc giữa thương nhân với bên không phải là thương nhân Một tranh chấpđược coi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân Ngoài racũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể củatranh chấp thương mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấpgiữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợpnhất, giải thể, chia, tách…công ty;
Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp
đồng hoặc vi phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mạiphát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiêncũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phátsinh tranh chấp
Thứ ba, về nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột về
quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại Các quan hệthương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấp thươngliên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên
5.3 Khái quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại
5.3.1 Hình thức thương lượng (khoản 1 Điều 317 LTM 2005)
Thương lượng được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc cácbên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồngphát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba; quá trình thương lượngkhông chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc pháp lý; việc thực thi kết quảthương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp màkhông có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận củacác bên trong quá trình thương lượng
Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại có thể đượcthực hiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp
cả hai Việc lựa chọn cách thức thương lượng nào phụ thuộc vào điều kiện, hoàncảnh của các bên
5.3.2 Hình thức hòa giải (khoản 2 Điều 317 LTM 2005)
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bênthứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìmkiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh
Phương thức hòa giải khác thương lượng ở chỗ có sự tham gia của nhân
tố trung gian Người trung gian này không có vai trò quyết định trong việc giảiquyết tranh chấp mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ cho các bên trong việc tìm ragiải pháp tốt nhất để giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp vẫn là
do các bên quyết định Hòa giải cũng không chịu sự chi phối của bất kỳ một thủ
Trang 10tục tố tụng pháp lý nào mà do các bên tranh chấp tự quyết định Kết quả của quátrình hòa giải thành cũng chỉ là sự thỏa thuận của các bên có tranh chấp và việcthực hiện thỏa thuận này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của cácbên mà không có bất kỳ một quyết định pháp lý nào.
5.3.3 Hình thức giải quyết tại Tòa án (khoản 3 Điều 317 LTM 2005)
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danhquyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ
và bản án hay quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyệntuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.Việcgiải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án không những phải tuân thủ các quyđịnh về thẩm quyền khá rắc rối mà còn phải tuân theo một thủ tục rất nghiêmngặt của luật tố tụng Việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tạitòa án bao gồm nhiều quy định khác nhau Khi có tranh chấp, người có quyền vàlợi ích hợp pháp bị xâm phạm nếu muốn tòa án bảo vệ quyền và lợi ích chomình thì phải gửi đơn kiện đến đúng cấp tòa án có thẩm quyền Tòa án sẽ xemxét vụ việc và xét xử theo thủ tục sơ thẩm và ra bản án sơ thẩm Nếu các bênkhông đồng ý với bản án sơ thẩm thì có quyền kháng cáo yêu cầu tòa án cấp trênxét xử theo thủ tục phúc thẩm Việc giải quyết tại tòa án còn có thể được xemxét lại theo thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm Việc thi hành án có tính chấtcưỡng chế nếu các bên không tự nguyện thi hành
5.3.4 Hình thức giải quyết tại Trọng tài (khoản 3 Điều 317 LTM 2005)
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phichính phủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thươngmại Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra đểgiúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảoquyền tự định đoạt của các bên Cũng giống như thương lượng và hòa giải,phương thức trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tựnguyện Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết các bên phải có thoả thuậntrọng tài Sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đưa ra phán quyết có giá trịcưỡng chế thi hành đối với các bên Nhằm khuyến khích các bên sử dụng Trọngtài trọng giải quyết các tranh chấp thương mại và các tranh chấp khác, nhà nước
đã ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại - Luật Trọng tài thươngmại để thay thế Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 trên cơ sở kế thừa nhữngchế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn
6 Hãy nêu và phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại (chủ thể, đại diện, đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm giao kết, nội dung cơ bản cần thỏa thuận
Các vấn đề pháp lý cơ bản của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trongthương mại:
6.1 Chủ thể
Hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập giữa
(i) các chủ thể là thương nhân hoặc giữa
Trang 11(ii) thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa khi các chủ thể
đó chọn áp dụng LTM 2005 các chủ thể này là một bên trong giao dịchvới thương nhân, thực hiện hoạt động mua bán không nhằm mục đíchsinh lợi trên lãnh thổ nước Việt Nam và chọn áp dụng LTM 2005 để điềuchỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa của các bên
6.2 Đại diện
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể do bên đại diện giao kết (đại diệntheo pháp luật hoặc theo ủy quyền) - đại diện đúng thẩm quyền Giao kết hợpđồng không đúng thẩm quyền không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cácbên trừ trường hợp người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp nhận.6.3 Đề nghị giao kết hợp đồng
Trên cơ sở quy định của BLDS 2015, có thể hiểu đề nghị giao kết hợp đồng muabán hàng hóa là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đềnghị này của bên để nghị đi với bên đã được xác định cụ thể Đề nghị giao kết hợpđồng có thể được thực hiện một cách trực tiếp (như bằng lời nói) hoặc được thực hiệnbằng hình thức gián tiếp (như thông qua thư, điện tín) Đề nghị giao kết hợp đồng muabán phải được gửi đến bên đã được xác định cụ thể, vì vậy mà thông báo về đề nghịgiao kết hợp đồng với tính chất là những chào hàng hoặc những đề nghị mua hàngkhông được gửi đến bên đã được xác định cụ thể thì không phải là đề nghị giao kết hợpđồng
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực với ý nghĩa là thời điểm bắtđầu xác định sự ràng buộc của bên đề nghị với đề nghị của mình do bên đề nghị ấn địnhhoặc trong trường hợp bên để nghị không ấn định thì thời điểm này bắt đầu từ khi bênđược đề nghị nhận được đề nghị đó Bên được đề nghị được coi là đã nhận được đềnghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa khi i) đề nghị được chuyển đến nơi cư trúhoặc trụ sở của bên được đề nghị tùy thuộc vào loại chủ thể được đề nghị; (ii) đề nghịđược nhập vào hệ thống thông tin chính thức của bên được để nghị (trong trường hợpthông điệp dữ liệu); (iii) bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thôngqua các phương thức khác
Trong đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị có thể ấn định thời hạn trả lời vàviệc ấn định thời hạn này cũng đồng thời ràng buộc trách nhiệm của bên đề nghị giaokết hợp đồng trong thời hạn đó Theo đó, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với bênthứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bênđược đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh
Bên đề nghị giao kết hợp đồng, tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể theo quy địnhcủa pháp luật, có quyền thay đổi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng Theo
đó, bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đối, rút lại để nghị giao kết hợp đốngtrơng các trường hợp sau: i) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổihoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; ii) Điều kiệnthay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việcđược thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Trong trường hợp bên đềnghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền hủy bỏ đề nghị đó đã nêu rõ quyền này trong
đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khibên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đềnghị giao kết hợp đồng
Trang 12Bên đề nghị giao kết hợp đồng không còn bị rằng buộc trách nhiệm với bênđược đề nghị khi đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau: (i) bênnhận được đề nghị trả lời không chấp nhận; (ii) hết thời hạn trả lời chấp nhận; (iii) khithông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực; (iv) khi thông bảo về việchủy bỏ đề nghị có hiệu lực; (v) theo thỏa thuận của bên để nghị và bên nhận được đềnghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời
6.3 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Theo quy định tại Điều 393 BLDS 2015, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là
sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị Khibên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi
đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới (Điều 392 BLDS 2015)
Theo quy định tại Điều 394 BLDS 2005, thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợpđồng được xác định như sau: (i) khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trảlời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghịgiao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này đượccoi là đề nghị mới của bên chậm trả lời Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợpđồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do kháchquan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợpbên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị; (ii) khicác bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc quaphương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấpnhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời Bên được đề nghị giaokết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo vềviệc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng (Điều 397 BLDS 2005)
6.3 Thời điểm giao kết hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết vào thời điểm xác nhận sự thốngnhất ý chí của các bên Thời điểm này khác nhau tùy thuộc vào hình thức giao kết hợpđồng Theo quy định tại Điều 400 BLDS 2015, thời điểm giao kết hợp đồng được xácđịnh như sau: (i) hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấpnhận giao kết, (ii) trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giaokết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùngcủa thời hạn đó; (iii) thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đãthỏa thuận về nội dung của hợp đồng; (iii) thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản làthời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thểhiện trên văn bản Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lậpbằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nộidung của hợp đồng
7 Hãy nêu khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với quan hệ hàng đổi hàng, quan hệ tặng cho hàng hóa, quan hệ cho thuê hàng hóa.
7.1 Khái niệm mua bán hàng hóa trong thương mại
Theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005, mua bán hàng hoá là hoạtđộng thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa
Trang 13cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng
và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận
7.2 Đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại
a Hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa
Theo LTM 2005, hàng hóa bao gồm
(i) tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
(ii) những vật gắn liền với đất đai
Theo quy định của pháp luật, động sản là những tài sản không phải là bất động sản;còn bất động sản là các tài sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đấtđai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liềnvới đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định Như vậy, LTM 2005 chỉ điều chỉnh cáchợp đồng mua bán có đối tượng hàng hóa là (i) động sản đã tồn tại vào thời điểm xác lậphợp đồng hoặc sẽ hình thành trong tương lai và (ii) những vật gắn liền với đất đai (màkhông bao gồm đất đai)
Theo cách hiểu này, quyền sử dụng đất là đối tượng trong các giao dịch chuyểnnhượng quyền sử dụng đất thì không phải là hàng hóa theo quy định của LTM 2005 nhưngnhà, công trình xây dựng tồn tại trên đất lại là hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luậtnày
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải không thuộc danh mụchàng hóa cấm kinh doanh; trường hợp hàng hóa thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặckinh doanh có điều kiện thì để có thể lưu thông hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện nàytheo quy định của pháp luật
b Chủ thể mua bán hàng hóa
Hoạt động mua bán được thực hiện giữa:
(i) các chủ thể là thương nhân hoặc giữa
(ii) thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa khi các chủ thể đó
chọn áp dụng LTM 2005 các chủ thể này là một bên trong giao dịch vớithương nhân, thực hiện hoạt động mua bán không nhằm mục đích sinh lợitrên lãnh thổ nước Việt Nam và chọn áp dụng LTM 2005 để điều chỉnh quan
hệ hợp đồng mua bán hàng hóa của các bên
c Hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa
Hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hànghóa Hợp đồng mua bán hàng hóa chính là sự thể hiện thỏa thuận giữa các bên vềquan hệ mua bán hàng hóa và là cơ sở pháp lý cho các bên để xác định các quyền vànghĩa vụ của mình trong hoạt động
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặcđược xác lập bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, đối với những loại hợp đồng mà phápluật quy định phải được giao kết bằng văn bản thì phải tuân theo quy định đó
7.3 Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với quan hệ hàng đổihàng, quan hệ tặng cho hàng hóa, quan hệ cho thuê hàng hóa
Mua bán hàng Hàng đổi hàng Tặng cho hàng Cho thuê hàng
Trang 14hóa hóa hóa
Quan hệ Là hoạt động
thương mại
Là giao dịch dânsự
Là giao dịch dân sự
Có thể là hoạt động thương mại hoặc giao dịch dân sự
Là chủ thể của quan hệ pháp luậtnói chung, gồm:
bên tặng & bên đuợc tặng
Nếu là hoạt động thương mại thì bên thuê phải là thương nhân, gồm: bên thuê & bên cho thuê
Bên tặng chuyển quyền sở hữu chobên được tặng;
bên được tặng không có nghĩa
vụ gì với bên tặng
Không chuyển quyền sở hữu
mà người thuê chỉ có quyền sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và trả tiền thuê cho bên chothuê
Kinh doanh thu lợi nhuận
8 Hãy phân tích các điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, quyền
và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.
8.1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại được quy định tại Điều 256, Điều 257 Luật Thương mại 2005, theo đó
Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải có đủ các điều kiện sau đây:
Trang 15- Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Các thương nhânkhác không phải là doanh nghiệp (như: tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể) sẽkhông được kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa.
- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhdịch vụ giám định thương mại
- Có giám định viên đủ tiêu chuẩn như: (i) có trình độ đại học hoặc cao đẳng phùhợp với yêu cầu của lĩnh vực giám định; ii) Có chứng chỉ chuyên môn về lĩnhvực giám định trong trường hợp pháp luật quy định phải có chứng chỉ chuyênmôn; iii) có ít nhất ba năm công tác trong lĩnh vực giám định hàng hoá, dịch vụ.Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụgiám định công nhận giám định viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật vềquyết định của mình
- Có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hoá, dịch vụtheo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụngmột cách phổ biến trong giám định hàng hoá, dịch vụ đó
Như vậy, kinh doanh dịch vụ giám định là loại hình kinh doanh có điều kiện,một thương nhân muốn hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định phải được Sở Kếhoạch Đầu tư của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép Thươngnhân là người nước ngoài chỉ được thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá tại ViệtNam hoặc được thành lập chi nhánh tại Việt Nam khi được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền cho phép, phù hợp với Luật Thương mại và Luật Đầu tư nước ngoài Cácthương nhân có quyền cung cấp dịch vụ giám định cho khách hàng theo đúng quyđịnh trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyềncấp
8.2 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại
Theo quy định tại khoản 1 Điều 263 LTM 2005, thương nhân kinh doanh dịch
vụ giám định có các quyên như:
(i) Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các tài liệu cần
thiết để thực hiện việc giám định theo nội dung đã thỏa thuận;
(ii) Nhận thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác
Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 263 LTM 2005 thì thương nhânkinh doanh dịch vụ giám định có các nghĩa vụ như:
(i) Chấp hành các tiêu chuẩn và các quy định khác của pháp luật có liên
quan đến dịch vụ giám định;
(ii) Bảo đảm việc giám định hàng hóa trung thực, độc lập, khách quan, kịp
thời, đúng quy trình, phương pháp giám định;
(iii) Cấp chứng thư giám định và chịu trách nhiệm về nội dung của chứng thư
giám định;
(iv) Chịu trách nhiệm vật chất trong trường hợp giám định sai
Tuy nhiên để có quyền yêu cầu bên giám định chịu trách nhiệm về kết quả giámđịnh trong trường hợp này, khách hàng có nghĩa vụ chứng minh kết quả giám định sai
và lỗi của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định
Trang 169 Phân biệt pháp nhân và thể nhân, trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn:
9.1 Phân biệt pháp nhân và thể nhân
Khái niệm pháp nhân được quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2015, pháp luật dân
sự Việt Nam không sử dụng khái niệm “thể nhân” Trong khoa học pháp lý, có khái niệm “thể nhân” thường được dùng đồng nghĩa với khái niệm cá nhân, nhưng cũng
có lúc được sử dụng không đồng nghĩa
- Tư cách thể nhân là đương nhân là đương
nhiên và vô điều kiện:
+ Mọi người đều là thể nhân từ khi sinh
ra đến chết
+ Một người đã chết (mất tích) nếu sau
đó xuất hiện thì Tòa án phải phục hồi tất
cả quyền cơ bản của người đó
- Thể nhân không có tính chuyên nghiệp:
có sự thay đổi nghề một cách linh hoạt
- Tư cách pháp lý bình đẳng với các thể
nhân khác, có quyền và nghĩa vụ như
nhau
- Trách nhiệm hình sự: phải chịu trách
nhiệm hình sự khi có hành vi phạm tội
theo quy định của BLHS
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản của mình;
+ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
- Pháp nhân mang tính chuyên nghiệp, có ngành nghề cụ thể, phải đăng ký rõ ràng
- Tư cách pháp lý bất bình đẳng giữa 2 loại:
+ Pháp nhân hoạt động vì công ích+ Pháp nhân hoạt động vì lợi ích của mình
- Trách nhiệm hình sự: chỉ có pháp nhân thương mại có thể chịu trách nhiệm hình
sự và chỉ có các tội về tội xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế
9.1 Phân biệt trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn
Khái quát Là chế độ mà trong đó: doanh Là chế độ mà trong đó tồn tại giới
Trang 17nghiệp chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của chủ sở hữu đối với kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp
Loại doanh nghiệp này nếu kinh doanh bị thua lỗ dẫn đến phá sản doanh nghiệp thì không những phải chịu trách nhiệm tài sản về các khoản nợ trong phạm vi vốn, tài sản của doanh nghiệp mà còn là toàn bộ tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp,
kể cả các tài sản không đưa vào kinhdoanh Điều này bắt nguồn từ sự không tách bạch giữa tài sản của chủ
sở hữu doanh nghiệp với tài sản của doanh nghiệp
Các loại hình áp dụng chế độ chịu trách nhiệm vô hạn gồm: chủ doanh nghiệp tư nhân, những thành viên hợp danh của công ty hợp danh và chủ hộ kinh doanh cá thể
hạn về tài sản giữa một bên là tài sảnđem ra kinh doanh và một bên là tài sản dân sự Tức là chủ sở hữu doanhnghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi vốn, tài sản của doanh nghiệp mình (chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn điều lệ đăng kí với cơ quan nhà nước), mà không có nghĩa vụ đưa tài sản của mình (tài sản dân sự) để trả nợ cho doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ dẫn đến tình trạng phá sản
Các loại hình hình áp dụng chế độ này gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
Vốn
Xuất phát chủ yếu từ tài sản của một
cá nhân (gọi là vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp) hoặc vốn chung của một hộ gia đình Người bỏ vốn sẽ là chủ sở hữu doanh nghiệp và không
có sự phân biệt giữa tài sản của chủ
sở hữu doanh nghiệp và tài sản của doanh nghiệp
Vốn do các thành viên, cổ đông cùng đóng góp gọi là vốn điều lệ, có
sự phân định rõ ràng tài sản của doanh nghiệp và tài sản của các thành viên, cổ đông doanh nghiệp
Chủ sở hữu doanh nghiệp không thể chỉ dựa trên ý kiến bản thân để quản
lý doanh nghiệp mà phải thông qua
ý kiến của những thành viên khác
Phá sản,
giải thể
Khi phá sản, giải thể, chủ doanh nghiệp bắt buộc phải thanh toán hết tất cả các khoản nợ cũng như các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, nếu tài sản của doanh nghiệp không
đủ để thanh toán nợ hết thì chủ doanh nghiệp phải sử dụng “tiền túi – tài sản dân sự” của mình ra để trả nợ
Chủ doanh nghiệp chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp đã đăng kí kinh doanhvới nhà nước.(đó là giới hạn khả năng trả nợ của doanh nghiệp)
10 So sánh công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần
Trang 1810.1 Điểm giống nhau
- Đều là doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
- Đều có tư cách pháp nhân;
Góp vốn
Góp đủ và đúng loại tài sảnnhư đã cam kết trong thờihạn 90 ngày, kể từ ngàyđược cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp Chỉđược góp bằng tài sản khácnếu được sự tán thành của đa
số thành viên còn lại
Góp đủ số vốn đã đăng ký góp trongthời hạn 90 ngày kể từ ngày công tyđược cấp Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp Các cổ đông sáng lậpphải cùng nhau đăng ký mua ít nhất20% tổng số cổ phần phổ thôngđược quyền chào bán tại thời điểmđăng ký doanh nghiệp
Dễ dàng, tự do chuyển nhượng (trừtrong 03 năm đầu, cổ đông sáng lậpchỉ được chuyển nhượng cổ phầncho cổ đông sáng lập khác và chongười khác không phải là cổ đôngsáng lập khi được sự chấp thuận củaĐại hội đồng cổ đông)
Cơ cấu tổ
chức Có một mô hình:Hội đồng thành viên, Chủ
tịch Hội đồng thành viên,Giám đốc hoặc Tổng giámđốc, Ban kiểm soát (công ty
có ít hơn 11 thành viên
Có hai mô hình:
a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồngquản trị, Ban kiểm soát, Giám đốchoặc Tổng giám đốc (công ty códưới 11 cổ đông và các cổ đông là
tổ chức giữ dưới 50% tổng số cổ
Trang 19phần thì không bắt buộc phải cóBan kiểm soát);
b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồngquản trị, Giám đốc hoặc Tổng giámđốc (ít nhất 20% số thành viên Hộiđồng quản trị là thành viên độc lập
và có Ban kiểm toán nội bộ trựcthuộc Hội đồng quản trị)
11 So sánh công ty TNHH 1 thành viên và doanh nghiệp tư nhân
11.1 Điểm giống nhau
- Đều là doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
- Có một chủ sở hữu
- Không có quyền phát hành chứng khoán
11.2 Điểm khác nhau
Tiêu chí Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Doanh nghiệp tư nhân
- DNTN không được quyền gópvốn thành lập hoặc mua cổphần, phần vốn góp trong công
ty hợp danh, công ty TNHHhoặc công ty cổ phần
Vốn góp
- Công ty TNHH một thànhviên được quyền thay đổivốn điều lệ
- Tài sản của chủ sở hữu vàtài sản của công ty TNHHmột thành viên tách biệt
- Chủ DNTN có quyền tăng hoặcgiảm vốn đầu tư của mình tùyvào hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
- Không tách biệt tài sản của chủDNTN với tài sản của DNTN.Trách nhiệm Chịu trách nhiệm hữu hạn trong
phạm vi vốn góp của chủ sở hữuvới công ty TNHH một thành
Chịu trách nhiệm vô hạn
Trang 20Tư cách pháp
nhân Có tư cách pháp nhân kể từngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp Không có tư cách pháp nhân
Chủ sở hữu tự quản lý hoặc thuêngười quản lý
và thực hiện các nghĩa vụ tài chínhkhác theo quy định pháp luật.Phảichịu trách nhiệm về mọi hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
12 So sánh giữa phá sản với giải thể doanh nghiệp
Điểm giống nhau : Phá sản và giải thể đều dẫn đến sự chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp
nghiệp có thể bị giải thể là dokết thúc thời hạn hoạt động màkhông được gia hạn, công tykhông có đủ số lượng thành viêntối thiểu trong thời hạn sáutháng liên tục, do bị thu hồi giấyphép kinh doanh hay do quyếtđịnh của chủ sở hữu doanhnghiệp
Thủ tục giải
quyết
Thủ tục giải quyết một vụ phásản là thủ tục tư pháp, do Toà
án có thẩm quyền giải quyết
Thủ tục giải thể doanh nghiệp làthủ tục hành chính do chủ sởhữu doanh nghiệp tiến hànhThời gian giải
quyết
Thời gian giải quyết một vụphá sản thường kéo dài và tốnkém hơn so với việc giải thể
Thời gian tiến hành thủ tục giảithể thường ngắn hơn và ít tốnkém hơn so với phá sản doanh
Trang 21doanh nghiệp nghiệpthái độ của nhà
nước đối với
thường bị cấm làm công việc
tương tự trong một thời giannhất định
Người quản lý, điều hành doanh
nghiệp bị giải thể không bị cấm
làm công việc tương tự trongmột thời gian nhất định
13 Nêu và phân tích vai trò, ý nghĩa của Luật phá sản
Đảm bảo việc đòi nợ của các chủ nợ được công bằng, trật tự
Mục đích chính của pháp luật về phá sản là thay thế cơ chế xiết nợ theo kiểu “mạnh
ai nấy được” bằng một cơ chế đòi nợ tập thể công bằng và trật tự Tài sản củadoanh nghiệp mắc nợ sẽ được tối đa hóa và được đem thanh toán một cách côngbằng cho các chủ nợ Như vậy, thông qua pháp luật về phá sản, các chủ nợ sẽ đượctham gia vào quá trình thu hồi và phát mại tài sản của doanh nghiệp để tối đa hóatài sản phá sản của doanh nghiệp (đảm bảo tất cả các tài sản của doanh nghiệp đềuđược thu hồi và được phát mại với giá cao nhất) Tài sản phá sản này sẽ được đemphân chia một cách công bằng cho các chủ nợ tránh tình trạng chủ nợ đến đòi nợtrước được hưởng nhiều, chủ nợ đến sau hoặc không có mối quan hệ riêng với con
nợ thì không nhận được phần thanh toán của mình
Giải phóng con nợ và tạo cho con nợ có được sự khởi đầu mới
Việc giải quyết phá sản phải giải phóng con nợ khỏi những gánh nặng nợ nần mà
họ không thể trả nợ được và trên cơ sở đó, tạo điều kiện cho họ có được sự khởiđầu mới Con nợ chỉ được giải phóng khỏi các khoản nợ khi không có hành vi giantrá trong những nguyên nhân dẫn tới việc phá sản
Cùng với chế độ TNHH, pháp luật về phá sản tạo niềm tin và sự an toàn cho cácnhà đầu tư khi tham gia thị trường Tuy nhiên, Luật Phá sản 2014 không miễn trừnghĩa vụ trả nợ cho chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công tyhợp danh sau khi có tuyên bố phá sản doanh nghiệp (nghĩa là buộc các con nợ bịtuyên bố phá sản là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công tyhợp danh trả các món nợ còn thiếu sau khi đã bán toàn bộ tài sản hiện có của mình)được xem là một chế tài quá khắt khe và thiếu hợp lý Quy định tại điều 90 LuậtPhá sản 2004 này không tạo động lực cho các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệpchịu trách nhiệm vô hạn
Bảo vệ quyền lợi của người lao động
Người lao động là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất từ việc phá sản doanhnghiệp Họ bị mất việc làm và thậm chí không nhận được các khoản lương màdoanh nghiệp mắc nợ nợ họ Vì vậy, pháp luật về phá sản phải đảm bảo quyền yêucầu tuyên bố phá sản của người lao động, quyền tham gia các hoạt động phục hồi
và thanh lý tài sản cũng như quyền được ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ khác
14 So sánh giữa chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại:
14.1 Điểm giống nhau:
Đều là chế tài áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng
* Điểm khác nhau:
Trang 22Tiêu chí Phạt vi phạm Bồi thường thiệt hại
Khái niệm
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầubên vi phạm trả một khoản tiền phạt do viphạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏathuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm
Bồi thường thiệt hại là việcbên vi phạm bồi thườngnhững tổn thất do hành vi viphạm hợp đồng gây ra chobên bị vi phạm
Chức năng
Chế tài phạt vi phạm là một chế tài thỏathuận, có chức năng bổ sung thêm quyềnyêu cầu trả tiền phạt của bên bị vi phạm vàtương ứng là nghĩa vụ trả tiền phạt của bên
vi phạm và qua đó giúp tăng cường ý thứctuân thủ hợp đồng của các bên
Bồi thường thiệt hại với tưcách là chế tài trong thươngmại có chức năng bù đắp tổnthất vật chất cho bên bị viphạm, làm cho hành vi viphạm hợp đồng trở nên vôhại về mặt vật chất đối vớibên bị vi phạm
Điều kiện áp
dụng
Thỏa mãn 2 điều kiện sau:
Điều kiện 1: tồn tại thỏa thuận giữa các bênhợp đồng về việc một bên được yêu cầu bênkia trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợpđồng Thỏa thuận này phải tồn tại vào thờiđiểm một bên đưa ra yêu cầu phạt vi phạm;
nhưng nó không nhất thiết phải tổn tại trướckhi vi phạm xảy ra, mà có thể được các bênthỏa thuận sau khi vi phạm đã xảy ra
Điều kiện 2: đã xảy ra hành vi vi phạm màcác bên thỏa thuận là điều kiện để áp dụngchế tài phạt vi phạm Tuy nhiên, trong thỏathuận các bên không nhất thiết phải nêu rõloại hành vi hoặc hành vi vi phạm nhất địnhnào đó là điều kiện để áp dụng chế tài này
Mà các bên có thể thỏa thuận rằng, trườnghợp một bên vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nàotheo hợp đồng thì bên kia có quyền yêu cầuphạt vi phạm
Bồi thường thiệt hại phátsinh khi có đủ ba yếu tố, đó
là (i) hành vi vi phạm hợpđồng,
(ii) có thiệt hại thực tế và(iii) hành vi vi phạm hợpđồng là nguyên nhântrực tiếp gây ra thiệthại
Do quy định này không nêuyếu tố lỗi của chủ thể cóhành vi vi phạm, nên lỗikhông phải là một yếu tố bắtbuộc làm phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại
Trường hợp phạt vi phạm do vô ý giámđịnh sai Chế tài phạt vi phạm trongtrường hợp này là chế tài luật định, nghĩa
là khách hàng có quyền yêu cầu thươngnhân giám định trả một khoản tiền phạt do
vô ý giám định sai căn cứ quy định tại
Không khống chế mức tối
đa, giá trị bồi thường thiệthại bao gồm giá trị tốn thấtthực tế, trực tiếp mà bên bị
vi phạm phải chịu do bên viphạm gây ra và khoản lợitrực tiếp mà bên bị vi phạmđáng lẽ được hưởng nếukhông có hành vi vi phạm
Trang 23Khoản 1 Điều 266 LTM 2005 Mức phạt
vi phạm trong phạm vi tối đa bằng 10 lần
phí thù lao giám định
Trong trường hợp pháp luật chuyên
ngành có quy định khác đi về chế tài phạt
vi phạm thì áp đụng quy định của luật
chuyên ngành Ví đụ: đối với vi phạm hợp
đồng trong hoạt động xây dụng về công
trình xây dựng có nguồn vốn nhà nước thì
các bên có thể thỏa thuận phạt vi phạm
ra sự kiện bất khả kháng; (iii) hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bênkia; (iv) hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lýnhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợpđồng
15.1 Miễn trách nhiệm theo thỏa thuận
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 294 LTM 2005 thì bên vi phạm hợpđồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm
mà các bên đã thỏa thuận Điều kiện để miễn trách nhiệm theo quy định này là cóthỏa thuận giữa các bên về trường hợp miễn trách nhiệm
Trong trường hợp hợp đồng được giao kết bằng văn bản thì thỏa thuận nhưvậy có thể được ghi nhận trong văn bản hợp đồng, hay trong phụ lục hợp đồng với tưcách là bộ phận không tách rời của hợp đồng Thỏa thuận như vậy cũng có thể đượcghi nhận trong các văn bản được thiết lập giữa các bên trong quá trình thực hiện hợpđồng về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng
15.2 Miễn trách nhiệm, kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đông trong trườnghợp bất khả kháng
Sự kiện bất khả kháng là một căn cứ miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợpđồng Bên vi phạm được miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng (như khôngthực hiện nghĩa vụ hợp đồng) trong thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng Việcmiễn trách nhiệm được áp dụng đối với mọi chế tài trong thương mại
Mặt khác, do xuất phát rằng sự kiện bất khả kháng bao giờ cũng có điểm kếtthúc, nhưng có thể kéo dài làm các bên không thể đạt được mục đích hợp đồng, nênLTM 2005 có các quy định để giải quyết vấn đề này như sau: Theo quy định tạikhoản 1 Điều 296 thì trong trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thỏa thuận kéođài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng: nếu các bên không có thỏa thuận hoặckhông thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một
Trang 24thời gian bằng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý đểkhắc phục hậu quả, nhưng không được kéo dài quá các thời hạn sau đây: a) 05 thángđối với hàng hóa, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thỏa thuậnkhông quá 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng; b) 08 tháng đối với hàng hóa, dịch
vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thỏa thuận trên 12 tháng, kể từ khigiao kết hợp đồng Quy định này trước hết để cao tự do hợp đồng, đề cao tính tự chịutrách nhiệm của các bên bằng cách thừa nhận sự thỏa thuận (sửa đổi hợp đồng) củacác bên để đối phó với sự kiện bất khả kháng, nhưng mặt khác cũng đưa ra quy định
áp dụng cho trường hợp các bên không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được
Tuy nhiên, nếu sự kiện bắt khả kháng kéo dài quá thời hạn do các bên thỏathuận hoặc luật định thì theo quy định tại khoản 2 Điều 296 các bên có quyển từ chốithực hiện hợp đồng và không bên nào có quyển yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại
Từ chối thực hiện hợp đồng ở đây có ý nghĩa như yêu cầu chấm dứt hợp đồng và việc
từ chối hợp đồng làm hợp đồng chấm dứt mà không cần sự đồng ý của bên kia Quyđịnh này tính đến trường hợp một bên hoặc cả hai bên đều không thể đạt được mụcđích của hợp đồng do sự kiện bất khả kháng kéo dài
15.3 Miễn trách nhiệm đối với vi phạm do lỗi của bên bị vi phạm
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 294 LTM 2005 thì bên vi phạm hợpđồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp vi phạm do lỗi của bên bị vi phạm.Căn cứ miễn trách nhiệm này đòi hỏi nguyên nhân của hành vi vi phạm của bên viphạm hợp đồng là hành vi có lỗi của bên bị vi phạm Hành vi đó có thể là hành độnghoặc sự không hành động của bên bị vi phạm Hành vi đó cũng là hành vi vi phạmhợp đồng của bên bị vi phạm
Chẳng hạn, trong hợp đồng mua bán hàng hóa là động sản hình thành trongtương lai, bên mua (bên bị vi phạm) không thanh toán đúng hạn khoản tiền bằng 30%giá trị hợp đồng để bên bán (bên vi phạm) mua nguyên vật liệu và dẫn tới việc đìnhtrệ sản xuất là nguyên nhân của việc giao hàng chậm (hành vi vi phạm của bên bán).Trong mối quan hệ này, hành vi của bên bị vi phạm phải là hành vi có lỗi
Như vậy, nếu hành vi của bên bị vi phạm thuộc một trong ba trường hợp miễntrách nhiệm còn lại thì hành vi đó không bị coi là có lỗi, nên bên vi phạm sẽ khôngđược miễn trách nhiệm cho hành vi của chính mình
15.4 Miễn trách nhiệm đối với vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan nhànước
Trường hợp miễn trách nhiệm này được bồ sung vào LTM 2005 với tư cách làmột căn cứ miễn trách nhiệm độc lập Tuy nhiên, xét về bản chất thì đây cũng làtrường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng Nhưng với tư cách là mộtcăn cứ miễn trách nhiệm độc lập bên cạnh trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiệnbất khả kháng thì ở đây không cần phải xem xét tới tính khách quan, không thể lườngtrước được và không thể khắc phục được của quyết định của cơ quan nhà nước Điềukiện miễn trách này không đòi hỏi quyết định của cơ quan nhà nước phải là mộtquyết định hợp pháp Nhưng sự tồn tại một quyết định bất hợp pháp của cơ quan nhànước mà bất cứ một người có hiểu biết bình thường nào cũng có thể nhận thấy tínhbất hợp pháp của nó thì không thể được xem là điều kiện miễn trách Quyết định của
cơ quan nhà nước là điều kiện miễn trách phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên vi
Trang 25phạm phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định và việc tuân thủnghĩa vụ đó là nguyên nhân dẫn tới hành vi vi phạm hợp đồng
Trang 2616 Hợp đồng vô hiệu và cách thức xử lý hợp đồng vô hiệu So sánh hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng phần.
16.1 Khái niệm hợp đồng vô hiệu
Khi hợp đồng không đáp ứng các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quyđịnh thì hợp đồng vô hiệu Tùy theo tính chất của điều kiện bị vi phạm mà hợpđồng có thể đương nhiên vô hiệu hoặc cần phải được tòa án xem xét theo thủ tục
tư pháp trước khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu Hậu quả pháp lý của hợp đồng vôhiệu là làm cho hợp đồng không còn ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa cácbên Các lợi ích đã giao nhận trước đây giữa các bên tham gia hợp đồng thì được
xử lý theo quy định của pháp luật
Hợp đồng vô hiệu là những hợp đồng không tuân thủ các điều kiện cóhiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm làm phátsinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Thẩm quyền xem xét và tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thuộc về toà
án Còn quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, tuỳ trường hợp,
có thể là bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, hoặc người có quyền lợiliên quan, hoặc tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích họppháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước Việc tòa ántuyên bố hợp đồng vô hiệu là một thủ tục tư pháp thường được áp dụng để tuyên
bố huỷ bỏ hợp đồng vô hiệu tương đối theo yêu cầu của các bên, trừ nhữngtrường hợp hợp đồng vô hiệu tuyệt đổi thì không cần toà án phải tuyên bố vôhiệu, thì hợp đồng vẫn bị coi là vô hiệu
Sự tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo thủ tục tư pháp có sự khác biệt cơbản so với việc các bên tham gia hợp đồng tự huỷ bỏ hợp đồng theo ý chí đơnphương của mình
16.2 So sánh hợp đồng vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần
Dựa vào nội dung, phạm vi các điều khoản của hợp đồng bị vô hiệu mà
có thể phân chia hợp đồng vô hiệu thành hai loại là hợp đồng vô hiệu toàn bộ vàhợp đồng vô hiệu từng phần
* Hợp đồng vô hiệu toàn bộ
Hợp đồng vô hiệu toàn bộ là hợp đồng có toàn bộ nội dung vô hiệu,hoặc tuy chỉ có một phần nội dung vô hiệu, nhưng phần đó lại ảnh hưởng đếnhiệu lực của toàn bộ hợp đồng
Khi có những căn cứ cho là toàn bộ các điều khoản của hợp đồng vôhiệu, thì hợp đồng vô hiệu toàn bộ Căn cứ làm cho hợp dồng vô hiệu có thể xuấtphát từ sự vi phạm nội dung hợp đồng, nhưng cũng có thể là các căn cứ khác,như mục đích, năng lực giao kết hợp đồng, hợp đồng giả tạo Ví dụ; Khi hợpđồng có mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật, thì hợp đồng cũng vô hiệu
Trang 27toàn bộ, hoặc một bên giao kết hợp đồng không có chức năng kinh doanh trongmột lĩnh vực nào đó nhưng đã giao kết hợp đồng trong lĩnh vực này.
Hợp đồng cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ khi chỉ có một hoặc một sốđiều khoản bị vô hiệu nhưng điều khoản bị vô hiệu đó là điều khoản cơ bản vàkhông thể tách rời các nội dung khác của hợp đồng Ví dụ: Hợp đồng mua bán
có đối tượng là vũ khí hoặc/và thanh toán bằng ngoại tệ Trường hợp này vô hiệutoàn bộ vì có điều khoản đối tượng và điều khoản thanh toán vi phạm điều cấmcủa pháp luật Đôi khi một điều khoản vô hiệu (ví dụ: trong hợp đồng mang bầuthuê, có các điều khoản công việc mang bầu thuê, thù lao, chi phí và cách thứcbồi dưống thai phụ và thai nhi, thời hạn hợp đồng ), chỉ điều khoản công việc là
bị cấm, nhưng do đây là điều khoản cơ bản của hợp đồng, nên làm cho hợp đồng
vô hiệu toàn bộ
Có những hợp đồng vô hiệu toàn bộ, nhưng đối với một số điều khoảnđược các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng và có vai trò độc lập với hợp đồng,thì khi hợp đồng vô hiệu toàn bộ, thì điều khoản đó cũng có thể được công nhận
có hiệu lực, nếu đủ các điều kiện luật định mà không lệ thuộc vào hiệu lực củatoàn bộ hợp đồng Ví dụ: Các cam kết về chọn tòa án xét xử khi hợp đồng vôhiệu, hoặc điều khoản đặt cọc để bảo đảm giao kết và thực hiện hợp đồng có quyđịnh về trách nhiệm chịu phạt cọc khi các bên có lỗi làm cho hợp đồng khônggiao kết được hoặc làm hợp đồng vô hiệu
Hậu quả hợp đồng vô hiệu toàn bộ là hợp đồng không còn tồn tại, tất cáccác điều khoản trong hợp đồng đều không có giá trị pháp lý
* Hợp đồng vô hiệu từng phần (vô hiệu một phần)
Hợp đồng vô hiệu từng phần (một phần) là những hợp đồng được xáclập mà có một phần nội dung của nó không có giá trị pháp lý, nhưng không ảnhhưởng đến hiệu lực của các phần khác của hợp đồng đó
Thường thì các điều khoản tồn tại độc lập với các điều khoản khác tronghợp đồng, thì chỉ những điều khoản đó bị vô hiệu mà không làm ảnh hưởng gìđến các điều khoản khác của hợp đồng
Cũng được coi là hợp đồng bị vô hiệu một phần nếu chỉ một phần củađiều khoản nào đó bị vô hiệu Ví dụ: Điều khoản lãi suất trong hợp đồng vay tàisản vượt quá mức lãi suất tối đa được pháp luật cho phép, thì chỉ phần mức lãisuất vượt quá đó vô hiệu hoặc chỉ một phần của điều khoản phạt vi phạm tronghợp đồng thương mại là trái pháp luật, thì chỉ phần vượt quá đó bị vô hiệu, phầncòn lại của điều khoản phạt và các điều khác của hợp đồng thương mại vẫn cóthể có hiệu lực theo nguyên tắc chung
Như vậy cách phân loại hợp đồng vô hiệu toàn hộ hay một phần chủ yếuquan tâm đến hậu quả của sự vô hiệu liên quan đến mức độ vô hiệu về nội dungcủa hợp đồng
16.3 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu
Trang 28Một hợp đồng bị vô hiệu sẽ làm phát sinh nhiều hệ quả pháp lý khác nhau:giá trị hiệu lực của hợp đồng, các khoản lợi ích đã chuyển giao, thiệt hại thực tế
do hợp đồng vô hiệu gây ra cho các bên, các khoản lợi thu được từ hợp đồng vôhiệu
16.3.1 Về giá trị pháp lý của hợp đồng
Hợp đồng vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền vànghĩa vụ của các bên, và làm cho hợp đồng không có giá trị pháp lý kể từ thờiđiểm giao kết hợp đồng
Hợp đồng vô hiệu có hệ quả là: (i) không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của các bên, không ràng buộc hiệu lực giữa các bên; và (ii) làm cho hợp đồngtrở nên vô giá trị (không có giá trị pháp lý) hồi tố trở về thời điểm giao kết, cho
dù hợp đồng đã thực hiện trên thực tế hay chưa Một cách tất yếu, khi hợp đồng
vô hiệu, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hợp đồng cũng chấm dứt, cho
dù các bên có đang thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp đồng hay không
16.3.2 Về mặt lợi ích vật chất
Khi hợp đồng bị vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng banđầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vậtthì hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luậtquy định khác
Đây là hệ quả tất yếu của việc tiêu hủy hiệu lực hợp đồng Khi hợp đồng
vô hiệu, hệ quả là hợp đồng không có giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữacác bên từ khi giao kết Do đó, nếu trước khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, cácbên đã từng chuyển giao lợi ích cho nhau (giao vật, thanh toán tiền, làm mộtviệc ), thì các bên có nghĩa vụ hoàn lại cho nhau như tình trạng ban đầu Ví dụ;Hợp đồng mua bán nhà bị vô hiệu do việc mua bán đó là vô hiệu, thì bên bánnhà hoàn trả lại tiền cho bên mua, còn bên mua nhà trả lại nhà cho bên bán
Việc “hoàn nguyên” cũng không đồng nghĩa với việc hoàn trả hoàn toànmọi vật, lợi ích giống như việc giao nhận trên thực tế trước đây Dựa trênnguyên tắc công bằng, trong trường hợp đối tượng cùa hợp đồng không cònnguyên vẹn như ban đầu và nếu hoàn trả bằng hiện vật theo giá trị còn lại trênthực tế sẽ không bảo đảm sự công bằng đối với bên nhận lại hiện vật, thì có thểhoàn trả bằng hiện vật khác thay thế có cùng số lượng, giá trị, chủng loại Nếukhông thể hoàn trả được bằng hiện vật thì có thể hoàn trả bằng tiền
16.3.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu
Khi một hợp đồng bị vô hiệu, có thể sẽ làm cho các bên bị thiệt hại vềmặt vật chất hoặc tinh thần Thường thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại tronghợp đồng không bao gồm việc bồi thường các thiệt hại về tinh thần Việc bồithường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu không phải là một loại trách nhiệm bồithường thiệt hại trong hợp đồng, nên vấn đề bồi thường thiệt hại về tinh thần cóthể được xem xét
Trang 29Để có thể được bồi thường, bên bị thiệt hại phải chứng minh là họ đã bịthiệt hại thực tế do hành vi làm hợp đồng vô hiệu của bên kia gây ra Ngoài ra,việc bồi thường còn dựa trên yếu tố lỗi của các bên Theo đó, nếu các bên cùng
có lỗi thì trách nhiệm được xác định theo tỷ lệ lỗi của mỗi bên
17 Phân tích khái niệm và đặc điểm của hoạt động đại diện cho thương nhân.
17.1 Khái niệm
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 141 Luật thương mại 2005
Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đạidiện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thươngmại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việcđại diện
17.2 Đặc điểm của hoạt động đại diện cho thương nhân
Thứ nhất: Mục đích của việc thiết lập quan hệ đại diện thương mại là để nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của bên giao đại điện, cụ thể là tìm kiếm các cơ hội để xáclập các giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại với bên thứ ba, bằngviệc ủy quyền cho thương nhân khác làm đại diện cho mình trong việc thực hiện các hoạtđộng thương mại; cho dù, bên giao đại diện có thể không biết và không trực tiếp giaodịch với bên thứ ba Mặc dù LTM 2005 không quy định cụ thể về hoạt động thương mại
mà bên giao đại diện ủy nhiệm cho bên đại diện thực hiện nhưng có thể hiểu phạm trùhoạt động thương mại theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 của LTM, tức là các hoạt độngnhằm mục đích sinh lợi
Thứ hai: Chủ thể tham gia, gồm hai bên gọi là bên đại diện và bên giao đại diện.
Cả hai bên, bên giao đại diện và bên đại diện, đều phải là thương nhân Bên đạidiện phải thực hiện các hoạt động thương mại theo thỏa thuận với danh nghĩa của bêngiao đại diện, phải theo sự chỉ dẫn của bên giao đại diện Nếu người môi giới hay người
ủy thác phải nhân danh chính mình trong các giao dịch với bên thứ ba thì trong quan hệđại diện, bên làm đại diện phải giao dịch với bên thứ ba trên danh nghĩa của bên giao đạidiện
Bên đại diện phải hành động theo sự chỉ dẫn của bên giao đại diện Mặc dù LTM
2005 không quy định cụ thể về sự chỉ dẫn này bao gồm những chỉ dẫn, yêu cầu về vấn đề
gì, nhưng có thê hiểu rằng bên giao đại diện có quyền yêu câu bên đại diện phải thực hiệncác hoạt động thương mại theo đúng yêu cầu, đúng hướng dẫn của mình Vì bên đại diện
sẽ hành động trên danh nghĩa của bên giao đại diện cho nên việc bên đại diện thực hiệnkhông đúng chỉ dẫn và yêu cầu của bên giao đại điện có thể làm ảnh hưởng đến uy tín, lợiích, đến thương hiệu và hoạt động kinh doanh của bên giao đại diện
Thứ ba: Đại điện cho thương nhân là một đạng của quan hệ ủy quyền có thù lao
LTM 2005 không sử dụng cụm từ “nhận ủy quyền” mà sử dụng cụm từ “nhận ủynhiệm” Xét về bản chất, đây cũng là một dạng của quan hệ ủy quyền theo quy định củaBLDS 2015 Theo BLDS 2015 thì quan hệ đại diện có thể được xác lập theo pháp luậthoặc theo ủy quyền BLDS 2015 quy định về hợp đồng ủy quyển có khẳng định rõ việc
Trang 30bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủyquyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Theo LTM 2005 thì đại diện cho thương nhân tức là một thương nhân ủy quyền chomột thương nhân khác thực hiện một số hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt độngcủa mình, Điều 141 LTM 2005 cũng đã có sự phân biệt rõ việc thương nhân A thuêthương nhân B làm đại diện khác hoàn toàn với việc thương nhân A cử nhân viên củamình làm người đại diện trong giao dịch với bên thứ ba Nếu thương nhân A cử nhân viêncủa mình để làm đại diện cho mình thì đây không phải là quan hệ đại diện cho thươngnhân Khi đó, các quy định về ủy quyên sẽ được áp dụng và nhân viên của thương nhân A
sẽ tham gia giao dịch với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của thương nhân A vàthương nhân A chịu trách nhiệm về hành vi của người được ủy quyên theo quy định củapháp luật dân sự
Trong quan hệ đại diện, yếu tố đại diện chi phối tới các quyền và nghĩa vụ của bênđại diện, thương nhân làm đại diện phải hành động cho bên giao đại diện, nhân danh bêngiao đại diện và vì lợi ích của bên giao đại diện tức là bên đã ủy quyền cho mình, trongphạm vi đại diện Tuy nhiên, bên đại diện có thể nhân danh mình hoặc thương nhân kháctrong các hoạt động thương mại hợp pháp, không thuộc phạm vi đại diện theo hợp đồngđại diện
Thứ tư: Bên đại diện là một thương nhân độc lập, hoạt động kinh doanh, thương mại
độc lập với bên giao đại diện Đây là đặc điểm khác biệt hoàn toàn với việc văn phòngđại điện hay chi nhánh của thương nhân thực hiện các hoạt động thuộc phạm vi chứcnăng và nhiệm vụ của mình Thương nhân làm đại điện sẽ được hưởng thù lao do việclàm đại diện, mức thù lao và cách tính thù lao, thanh toán thù lao sẽ do hai bên thỏathuận Việc làm đại điện được coi như là một lĩnh vực kinh doanh của đương nhân làmđại diện, vì thế họ có thể có lợi nhuận, nhưng cũng có thể bị thua lỗ, điều nảy còn tùythuộc vào hoạt động kinh doanh của thương nhân làm đại diện
Về nguyên tắc, thương nhân làm đại điện có thể ký nhiều hợp đồng làm đại diện chocác thương nhân khác nhau nếu như phạm vi đại diện của các hợp đồng đại diện khôngmâu thuẫn với nhau Khác với người lao động của bên giao đại diện hay một đơn vị trựcthuộc của bên đó, bên đại diện độc lập và tự do trong hoạt động của mình
Thứ năm: Việc làm đại diện không mang tính vụ việc như việc môi giới mà được
thực hiện thường xuyên, liên tục trong suốt quãng thời gian làm đại diện theo thỏa thuậntrong hợp đồng Việc nhận ủy nhiệm thường xuyên để giao dịch cũng là một đặc điểmquan trọng để xác định tư cách pháp lý của đại điện thương mại, đây là một điểm khácbiệt quan trọng để phân biệt với quan hệ môi giới thương mại Theo LTM 2005 thì haibên có quyền thỏa thuận về thời hạn đại diện cho thương nhân Nếu các bên không cóthỏa thuận thì bất kỳ bên giao đại diện hay bên đại diện cũng có quyền thông báo cho bênkia về việc chấm dứt quan hệ đại diện (xem Điều 144 LTM 2005)
Thứ sáu: Về phạm vi đại diện: Điều 141 LTM 2005 khẳng định bên đại diện thực
hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa của bên giao đại diện mà không quy địnhgiới hạn cụ thể của việc làm đại diện Nhưng Điều 143 đã quy định rằng phạm vi đạidiện, nội dung của quan hệ đại diện có thể là một phần hoặc toàn bộ hoạt động thương
Trang 31mại của bên giao đại điện Theo quy định hiện hành thì hoạt động thương mại là một kháiniệm khá rộng, và quyền hoạt động thương mại của thương nhân cũng khá rộng, nếu đốivới các doanh nghiệp, hợp tác xã thì đây chính là các ngành nghề kinh đoanh của doanhnghiệp, hợp tác xã đó Như vậy, bên đại diện có thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ cáchoạt động thương mại của bên giao đại diện Phạm vi đại diện sẽ không thể vượt quáphạm vi hoạt động thương mại của bên giao đại diện, bên giao đại diện cũng không thể
ủy quyền cho bên đại diện thực hiện hoạt động thương mại vượt quá phạm vi hoạt độngthương mại của mình Mức độ phạm vi ủy quyền sẽ do hai bên thỏa thuận và tùy thuộcvào điều kiện cụ thể của mỗi bên trong giao dịch
Thứ bảy: Hình thức pháp lý của quan hệ đại diện cho thương nhân là hợp đồng đại
diện cho thương nhân Hợp đồng đại diện cho thương nhân chính là sự thể hiện thỏathuận giữa các bên về quan hệ đại diện và là cơ sở pháp lý cho các bên để xác định cácquyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động
18 Trình bày về: Khái niệm gia công hàng hóa trong thương mại, quyền và những nghĩa vụ cơ bản của mỗi bên trong quan hệ gia công hàng hóa.
18.1 Khái niệm gia công hàng hóa
Theo quy định tại Điều 178 LTM 2005 thì “gia công trong thương mại là hoạtđộng thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyênliệu, vật liệu của bên đặ gia công để thực hiện một hay nhiều công đoạn trong quá trìnhsản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao”
Đây là một định nghĩa có tính khái quát cao, bao hàm được các nội dung cơbản nhất của một quan hệ pháp luật, bao gồm chủ thể tham gia, đối tượng, mục đích vàphương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó
Tính khái quát cao của định nghĩa này cho phép nó bao hàm được các loạihoạt động gia công khác nhau trong thực tiễn hoạt động thương mại như gia công sảnxuất trong nước và gia công xuất khẩu hay gia công nhập khẩu
Xét về mặt cấu trúc pháp lý, quan hệ gia công trong thương mại là một dạngcủa quan hệ gia công được quy định tại Điều 547-558 BLDS 2005 Tuy nhiên, với tưcách là một hoạt động thương mại, gia công trong thương mại có một số đặc điểm riêngliên quan đến chủ thể tham gia, đối tượng, mục đích so với quan hệ gia công được quyđịnh tại BLDS 2005 Theo nguyên tắc áp dụng luật thì không được áp dụng các quyđịnh về gia công của BLDS 2005 đối với gia công trong thương mại, vì hoạt độngthương mại này đã được LTM 2005 quy định
18.2 Đặc điểm của gia công trong thương mại
Căn cứ định nghĩa khái niệm nêu trên đây và các quy định khác của pháp luậtthương mại có thể thấy hoạt động gia công trơng thương mại có các đặc điểm như sau:
Thứ nhất, trong quan hệ gia công trong thương mại, bên nhận gia công và bên
đặt gia công đêu là thương nhân Bởi vì bên nhận gia công thực hiện “một hay nhiềucông đoạn của quá trình sản xuất” với tư cách là hoạt động thương mại; còn bên đặt giacông thì chuyển “một hay nhiều công đoạn của quá trình sản xuất” đó của mình sang
Trang 32cho bên gia công Hoạt động gia công không chỉ được thực hiện ở phạm vi trong nước,
mà còn được thực hiện trên phạm vi quốc tế Thương nhân Việt Nam có thể đặt giacông ở nước ngoài mà cũng có thể nhận gia công từ thương nhân nước ngoài
Thứ bai, đối tượng của quan hệ gia công trong thương mại là thực hiện việc
gia công hàng hóa Bên nhận gia công thực hiện công việc gia công để tạo nên hànghóa theo yêu cầu của bên gia công Như vậy, có thể xem quan hệ gia công trong thươngmại là một loại quan hệ cung ứng dịch vụ, trong đó bên nhận gia công là bên cung ứngdịch vụ, còn bên đặt gia công là bên sử dụng dịch vụ
Thứ ba, hoạt động gia công trong thương mại đứng từ góc độ của hai bên chủ
thể tham gia đều nhằm mục đích sinh lợi Bên nhận gia công lấy việc gia công làmnghề nghiệp thương mại của mình để hưởng thù lao Còn bên đặt gia công chuyển “mộthoặc một số công đoạn của quá trình sản xuất của mình” sang cho bên gia công với kỳvọng chính là hạ được giá thành sản phẩm và qua đó tăng được tỉ lệ lợi nhuận trong giáhàng hóa sẽ bán ra
Thứ tư, trong hoạt động gia công trong thương mại thì bên đặt gia công luôn
chuyển một phần hoặc thậm chí toàn bộ nguyên, vật liệu cho bên nhận gia công để bênnày sản xuất ra hàng hóa theo yêu cầu của bên đặt gia công Đặc điểm này giúp phânbiệt gia công trong thương mại với mua bán hàng hóa là động sản hình thành trongtương lai Trong mua bán hàng hóa là động sản hình thành trong tương lai thì mặc dùbên mua đặt ra các yêu cầu về hàng hóa như số lượng, chất lượng, chỉ tiêu kỹ thuật,đóng gói, bao bì để bên bán tiễn hành sản xuất (hoặc mua sắm hàng hóa đó), nhưng bênmua không giao nguyên vật liệu cho bên bán Vì vậy, bên mua có nghĩa vụ thanh toántoàn bộ giá trị hàng hóa cho bên bán, trong khi đó bên đặt gia công chỉ phải thanh toáncho bên nhận gia công thù lao gia công là chỉ một phần của giá trị hàng hóa và chính làgiá trị công việc mà bên nhận gia công đã thực hiện
1.3 Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hoạt động gia công hàng hóa
Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công được quy định tại Điều 181 Luật Thương mại 2005 như sau:
- Giao một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu gia công theo đúng hợp đồnggia công hoặc giao tiền để mua vật liệu theo số lượng, chất lượng và mức giáthoả thuận
- Nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho mượn,nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý hợp đồng gia công, trừtrường hợp có thoả thuận khác
- Bán, tiêu huỷ, tặng biếu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuêhoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa, phế phẩm, phế liệu theothoả thuận và phù hợp với quy định của pháp luật
- Cử người đại diện để kiểm tra, giám sát việc gia công tại nơi nhận gia công, cửchuyên gia để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm giacông theo thoả thuận trong hợp đồng gia công