1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non tại Hà nội

18 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 444,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại hình trường mầm non, khác nhau về sự hình thành nhưng đều có chung tính chất, nội dung và mục đích hoạt động đều là những bộ phận hợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân[r]

Trang 1

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH

CHO GIÁO DỤC MẦM NON 1.1 Giáo dục mầm non và vấn đề huy động, sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non

1.1.1 Giáo dục mầm non - cấu phần hợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất

1.1.1.1 Khái niệm về giáo dục, giáo dục mầm non

Khái niệm về giáo dục

Trên góc độ giáo dục và đào tạo, xét về phương diện khái niệm đang có nhiều ý kiến, nhận định khác nhau Thực tế và lý thuyết cho thấy việc hiểu khác nhau về phạm trù giáo dục tất yếu sẽ có những nhận thức khác nhau về quản lý tài chính đối với sự nghiệp giáo dục

Theo một nghĩa rộng thì giáo dục là một phương thức để truyền đạt những kinh nghiệm trong cuộc sống con người

Bộ Luật Giáo dục đầu tiên của nước ta đã quy định: Mọi công dân đều

có quyền và nghĩa vụ giáo dục, học tập

1.1.1.2 Hệ thống tổ chức giáo dục quốc dân

Chương I điều 6 Luật giáo dục nước ta (1998) quy định hệ thống giáo dục quốc dân gồm:

Giáo dục mầm non gồm có nhà trẻ và mẫu giáo

1.1.1.3 Hệ thống tổ chức giáo dục mầm non

Điều 25 Luật giáo dục quy định cơ sở giáo dục mầm non gồm:

- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba đến ba tuổi

- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi

- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận

trẻ em từ ba tháng đến sáu tuổi

Trang 2

1.1.2 Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội đất nước và sự lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế

1.1.2.1 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế- xã hội

Giáo dục vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối quan hệ tác động qua lại với tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Phát triển giáo dục là phát triển chất lượng nguồn nhân lực, tăng trưởng và phát triển KT – XH, đầu tư tài chính, ngân sách là các thành tố của sự phát triển

Thứ nhất, theo quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là mục tiêu và là động lực phát triển kinh tế xã hội

Thứ hai, quan điểm coi giáo dục là công cụ của phát triển kinh tế xã hội

1.1.2.2 Vấn đề lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa giáo dục và kinh tế

Việc xem xét mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với phát triển KT- XH

Thứ nhất, giáo dục chuẩn bị và trang bị cho con người những kiến thức,

kĩ năng, phẩm chất và nhân cách cần thiết, mà không có chúng thì không thể

có bất cứ một hoạt động KT – XH nào

Thứ hai, giáo dục không những có trước mà còn tiềm ẩn bên trong

những kết cấu hạ tầng có tính vật chất cụ thể của đời sống xã hội

Như vậy, giáo dục cần được ưu tiên đi trước một bước để làm tiền đề cho sự phát triển KT –XH, và bởi vậy giáo dục cần được ưu tiên đầu tư thoả đáng, đặc biệt trong thế kỉ XXI

1.1.2.3 Về sự công bằng, bình đẳng trong giáo dục

Công bằng, bình đẳng trong giáo dục là một mục tiêu quan trọng trong chính sách phát triển GD – ĐT ở hầu hết các nước đang phát triển Vì vậy vấn

đề công bằng bình đẳng trong giáo dục được coi là một trong những mục tiêu trung tâm trong chính sách phát triển giáo dục của Nhà nước Việt Nam

1.1.3 Huy động và phân phối các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non

1.1.3.1.Các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non

- Nguồn tài chính từ Ngân sách Nhà nước

- Nguồn vốn ngoài ngân sách

Trang 3

- Nguồn thu từ học phí

- Nguồn đóng góp của người dân

- Nguồn viện trợ của các tổ chức xã hội

- Các nguồn vốn khác

1.1.3.2 Phân cấp quản lý sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non

Dựa trên cơ sở phân cấp quản lý của ngành từ trung ương đến địa phương, xác định rõ chức năng nhiệm vụ của mỗi cấp

Trong hệ thống giáo dục mầm non của nước ta do yêu cầu của xã hội hóa giáo dục, hiện tại tồn tại nhiều loại hình khác nhau: trường công lập, dân lập tư thục v.v Song, tựu chung lại có hai loại hình giáo dục mầm non là trường mầm non công lập và trường mầm non ngoài công lập

Các loại hình trường mầm non, khác nhau về sự hình thành nhưng đều

có chung tính chất, nội dung và mục đích hoạt động đều là những bộ phận hợp thành của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, chúng đều là những đơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính, đồng thời đều phải chấp hành các quy định và chế độ tài chính của nhà nước trong việc huy động và sử dụng các nguồn tài chính

1.2 Nội dung cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế đó

1.2.1 Nội dung của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính

Thứ nhất, đa dạng hoá về phương thức quản lý:

Thứ hai, kết hợp hài hoà giữa cơ chế quản lý của Nhà nước với cơ chế

tự vận động của giáo dục trong lĩnh vực tài chính:

Thứ ba, xây dựng và ban hành hệ thống đồng bộ các quy định, chế độ

tài chính và thực hiện thanh, kiểm tra của Nhà nước và sự giám sát cộng đồng đối với các hoạt động tài chính của cơ sở giáo dục đào tạo

1.2.2 Sự cần thiết hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non

Trang 4

- Một là, do yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo một cách toàn diện,

sâu sắc để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước -

- Hai là, các cơ sở giáo dục mầm non hoạt động trong nền kinh tế thị

trường là các đơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính cung cấp các dịch vụ đặc biệt là “trồng người” mang lại lợi ích lâu dài cho cá nhân và cả xã hội

Ba là: Do nhu cầu chuẩn hóa của hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục

mầm non là bậc tiền học đường ngày càng mở rộng về quy mô và tốc độ Cần phải ưu tiên đầu tư thỏa đáng về mọi mặt, chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho các cháu vào bậc phổ thông

Bốn là: Do bản thân sự vận động của cơ chế chính sách nói chung là

một quá trình từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

1.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục đào tạo và cơ chế huy động, sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục của một số quốc gia

1.3.1 Kinh nghiệm về phát triển giáo dục, đào tạo của một số nước (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc)

Thực tiễn phát triển KT - XH các nước trong khu vực và trên thế giới những thập kỷ gần đây là minh chứng khẳng định vai trò của GD-ĐT đối với

sự phát triển của đất nước

Vì vậy, hơn bao giờ hết các nước đều đánh giá cao vai trò của GD – ĐT

và đang gia tăng các nỗ lực đầu tư tài chính của cá nhân, cộng đồng cho phát triển GD – ĐT theo hướng sau đây:

1.3.1.1 Đa dạng hoá các hình thức và kênh giáo dục – đào tạo

Các nước ASEAN trong những năm gần đây đặc biệt ưa chuộng phương thức đào tạo “một công đôi việc”: khuyến khích các dự án đầu tư nước ngoài có lợi cho đào tạo tay nghề và kỹ năng quản lý của người bản địa

1.3.1.2 Đa dạng hoá mức học phí và nguồn tài chính cho GD – ĐT

Điểm chung ở các nước thành công trong phát triển kinh tế châu Á – Thái Bình Dương là có mức chi phí cho GD – ĐT khá cao Mức chi cho GD –

ĐT năm 1997 – 1998 ở một số nước là: Đài Loan: 21% chi ngân sách Nhà

Trang 5

nước (357 USD/đầu người học/ năm); Hồng Kông; 20,7% (510 USD); Malaysia: 19,3% (167,4USD), Inđônêsia (243 USD); Philippin: 11,4% (147USD), Trung Quốc: 4,2% (64,6USD…)

1.3.1.3 Đầu tư cho GD – ĐT đang được chuyển dần sang khu vực tư nhân

Đây là xu hướng nổi bật và bao trùm mang tầm vóc toàn cầu Nguồn đầu tư từ NSNN tuy vẫn giữ vị trí chủ đạo trong xây dựng nền tảng cho sự nghiệp giáo dục, song ngày càng mang ý nghĩa tạo điều kiện tiền đề cho việc khai thác các nguồn ngoài NSNN cho giáo dục

1.3.2 Những bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam về huy động

và sử dụng các nguồn tài chính cho GD - ĐT

- Đối với Việt Nam, bài học lớn nhất mà chúng ta lĩnh hội được từ kinh nghiệm các nước khu vực là coi trọng phát triển nguồn nhân lực như mục tiêu chiến lược và giải pháp hàng đầu cho quá trình CNH, HĐH đất nước

- Giáo dục- đào tạo là nhân tố quan trọng bậc nhất đến phát triển KT- XH của mỗi quốc gia, cũng như là nhân tố nòng cốt trong phát triển khoa học-công nghệ

Vì vậy Nhà nước cần có chính sách đầu tư thoả đáng và đầu tư ở tầm quốc sách Phát triển giáo dục phải ưu tiên đi trước một bước, mở rộng phát triển hình thức đầu tư khuyến khích các mô hình giáo dục mầm non ngoài công lập, cung ứng dịch vụ chất lượng cao

- Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đảm bảo đáp ứng các nhu cầu mở rộng quy mô và chất lượng, hiệu quả gắn với những mục tiêu công bằng, bình đẳng trong giáo dục

- Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế diễn ra với qui mô rộng và cường độ ngày càng cao, đòi hỏi nước ta cần tạo ra sự gắn kết hài hoà của quá trình hội nhập trong kinh tế và trong GD – ĐT

Trang 6

Chương 2

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN

TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC MẦM NON Ở HÀ NỘI

2.1 Khái quát những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

của Hà Nội có liên quan đến giáo dục mầm non

2.1.1 Đặc điểm chung về Thủ đô Hà Nội

Thành phố Hà Nội mở rộng về địa giới hành chính dân số tăng gấp 2 lần, cơ cấu dân số, trình độ văn hoá chuyên môn, cơ cấu lao động thay đổi và

áp lực càng gia tăng lên khu vực nội thành

Tóm lại, qua phân tích đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của Hà Nội có liên quan đến hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng Nó được xem như là những nhân tố, những điều kiện cho phát triển giáo dục mầm non ở Hà Nội Khả năng huy động các nguồn lực tài chính cho hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chi của ngân sách cho giáo dục và thu nhập của dân cư

2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội

Cùng với sự phát triển của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và chủ trương xã hội hóa giáo dục nhằm động viên toàn xã hội quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo của đất nước, đã làm xuất hiện đa dạng các loại hình đào tạo và các loại trường Quy chung lại có hai loại trường là trường công lập và trường dân lập

2.2 Thực trạng huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà Nội

2.2.1 Quản lý của Nhà nước về tài chính đối với giáo dục mầm non ở

Hà Nội

Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng nhằm huy động nguồn lực tài chính của các thành phần kinh tế của mọi tổ chức kinh tế – xã hội trong và ngoài nước

Trang 7

Căn cứ vào luật Giáo dục, chính quyền các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo thông qua việc quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục, đề ra các chính sách, chế độ, quy định và các văn bản hướng dẫn việc thực hiện quy định đó

Đối với giáo dục mầm non, Quyết định số 73/2000/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội về việc thu học phí và một số khoản thu khác ở các cơ sở giáo dục đào tạo công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc thành phố

Hà Nội từ năm học 2000-2001 trở đi

Sau 3 năm triển khai thực hiện quyết định của thành phố 73/2000/QĐ-UB, bước đầu công tác quản lý tài chính đã đi vào nề nếp hơn nhưng càng về sau càng gặp phải vướng mắc và bộc lộ nhiều bất cập

Tại công văn 1828/CV-SGD và ĐT ngày 17/8/2005 về việc tăng cường quản lý các khoản thu chi trong trường học Công văn hướng dẫn cụ thể đối với các trường mầm non nông thôn ở các huyện ngoại thành và các quận mới thành lập Trên cơ sở Quyết định 73/2000 QĐ-UB, các trường đề xuất mức thu cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của địa phương Mức thu này phải được sự thỏa thuận của cha mẹ học sinh, xin ý kiến của UBND xã, phường và báo cáo với Phòng Giáo dục-Đào tạo Phòng GD-ĐT có trách nhiệm trình UBND quận, huyện phê duyệt Sử dụng các nguồn thu, căn cứ vào Nghị định số 43/2008/NĐ-CP ngày 25/4/2008 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2008/NĐ-CP của Bộ Tài chính, các trường tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế này được thảo luận công khai và được sự nhất trí của tập thể giáo viên và cán bộ công nhân viên nhà trường Hàng năm đơn vị có thể sửa đổi quy chế cho phù hợp với đặc thù hoạt động của đơn vụ, nhằm tăng cường công tác quản lý, sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả từ đó nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 8

Qua các văn bản được các cấp ban hành quy định về các khoản thu và chi đối với các trường mầm non cả khối công lập và ngoài công lập, từng bước được cụ thể hóa và khắc phục những bất cập trong quản lý tài chính của các đơn vụ cơ sở

2.2.2 Thành tựu và những mặt hạn chế của cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà Nội

2.2.2.1 Những kết quả đạt được trong quá trình hoàn thiện cơ chế tài chính của các trường mầm non ở Hà Nội

Mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non được phân bố khá hợp lý theo địa bàn dân cư quận, huyện và phường, xã với nhiều loại hình trường, lớp về

cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của các tầng lớp dân cư

Cơ sở vật chất cua các trường học trong mạng lưới các trường của thành phố đã và đang từng bước được củng cố và hiện đại hóa

Cơ cấu chi trên đầu trẻ mầm non khu vực giáo dục mầm non công lập tăng đáng kể

Từ khi Luật NSNN có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1997, cơ chế phân cấp quản lý ngân sách giáo dục thành phố Hà Nội đã khắc phục căn bản những bất cập trên, như qui định về thẩm quyền quản lý NSNN về giáo dục của các cấp, các ngành; quy định phạm vi thẩm quyền của các cấp chính quyền quận, huyện trong quản lý ngân sách giáo dục, qui định về quản lý các khoản huy động đóng góp của nhân dân

2.2.2.2 Những mặt hạn chế của cơ chế tài chính trong các trường mầm non ở Hà Nội

- Nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất Song thực tế những năm vừa qua, giáo dục mầm non chưa giành được sự quan tâm thỏa đáng

- Quản lý của Nhà nước đối với giáo dục mầm non nói chung và hoạt động tài chính của các cơ sở giáo dục mầm non nói riêng chậm đổi mới chưa

Trang 9

theo kịp với khả năng và nhu cầu phát triển của giáo dục có tính đặc thù của bậc mầm non, phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Cơ chế và các chính sách về tài chính không còn phù hợp với tình hình hiện tại Nhiều văn bản, quy định đã ban hành cách đây cả chục năm, không được sửa đổi, bổ sung đã bó buộc hoạt động năm động của các đơn vị trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Hơn nữa hệ thống văn bản hiện hành quá phức tạp rắc rối, chồng chéo lên nhau, nhưng lại có nhiều kẽ hở dẫn đến thất thoát, lãng phí trong phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước cho đầu

tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị ở các trường

- Các trường mầm non, nhất là mầm non công lập về danh nghĩa là được giao quyền tự chủ về tài chính, nhưng thực tế những cơ sở này chưa có quyền tự chủ thực sự và quyền tự chủ chưa được tôn trọng

Trang 10

Chương 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN

CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH

CHO GIÁO DỤC MẦM NON Ở HÀ NỘI

3.1 Quan điểm định hướng hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non ở Hà nội

3.1.1 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non, dựa trên cơ sở đổi mới căn bản nhận thức về giáo dục, đào tạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục, đào tạo không phải là lĩnh vực tiêu phí tài nguyên, bản thân nó là ngành dịch vụ hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp làm tăng GDP của đất nước, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nhằm mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

3.1.2 Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng các nguồn tài chính cho giáo dục mầm non nhằm mục tiêu xây dựng phát triển hệ thống giáo dục Thủ đô hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế đồng thời giữ vững bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Mục tiêu chiến lược của ngành giáo dục nói chung và của bậc mầm non nói riêng, được xác định cho từng giai đoạn cụ thể dựa trên những dự báo khoa học về trình độ phát triển kinh tế, xu thế quá trình hội nhập, đặc biệt là nhu cầu về chất lượng giáo dục ngày càng tăng của xã hội

Mục tiêu phát triển giáo dục mầm non ở Hà Nội đến năm 2020

- Xây dựng đội ngũ đủ, đồng bộ, đạt chuẩn Một bộ phận trên chuẩn đạt

tỷ lệ trên 30%

- Hiện đại hoá hệ thống trường học

Ngày đăng: 12/01/2021, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w