đầu tư công, trong đó Nhà nước sử dụng vốn ngân sách để thực hiện các hoạt động đầu tư vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chương trình, d[r]
Trang 1NGUYỄN XUÂN QUỲNH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế Đầu tư
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Mai Hương
Hà Nội, 2016
Trang 2kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Ngày tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Xuân Quỳnh
Trang 3DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài 1
1.2 Tổng quan các công trình có liên quan 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
2.1 Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Phân loại 7
2.1.3 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước 8
2.2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước 9
2.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý 9
2.2.2 Mô hình tổ chức quản lý dự án 12
2.2.3 Nội dung quản lý dự án 16
2.2.4 Công cụ quản lý dự án chủ yếu 30
2.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước 37
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước 39
2.4.1 Nhân tố khách quan 39
2.4.2 Nhân tố chủ quan 41
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 44
3.1 Tổng quan về Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 44
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 44
Trang 43.2.1 Đặc điểm các dự án đầu tư xây dựng do BQLDA quản lý thực hiện 48
3.2.2 Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng của BQLDA 50
3.2.3 Nội dung và công cụ quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA 52
3.3 Đánh giá thực trạng 88
3.3.1 Kết quả đạt được 88
3.3.2 Hạn chế trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA 91
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA 93
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 97
4.1 Phương hướng phát triển của Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đến năm 2020 97
4.1.1 Định hướng đầu tư xây dựng công trình thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường ở Hà Nội 97
4.1.2 Phương hướng phát triển chung và các nhiệm vụ cụ thể đến năm 2020 của BQLDA 99
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA 103
4.2.1 Hoàn thiện mô hình tổ chức và ban hành quy trình quản lý dự án nội bộ 103
4.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý dự án 105
4.2.3 Tăng cường hệ thống thông tin và công cụ quản lý dự án 106
4.2.4 Hoàn thiện các nội dung quản lý dự án 107
4.3 Kiến nghị 113
4.3.1 Đối với chủ đầu tư - Sở Tài nguyên và Môi trường 113
4.3.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước khác 114
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Môi trường Hà Nội
TKBVTC-TDT Thiết kế bản vẽ thi công - tổng dự toán
Trang 6Hình 2.2 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án 13
Hình 2.3 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực 15
Hình 2.4 Đường cong chữ S dùng giám sát chi phí 35
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy BQLDA 46
Hình 3.2 Kế hoạch phân bổ vốn thực hiện dự án năm 2016 64
Hình 3.3 Quy trình quản lý chất lượng khảo sát xây dựng tại BQLDA 66
Hình 3.4 Quy trình quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình tại BQLDA 68
Hình 3.5 Quy trình quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình tại BQLDA 70
Hình 3.6 Quy trình nghiệm thu công trình xây dựng tại BQLDA 71
Hình 3.7 Kế hoạch tiến độ thực hiện 6 tháng cuối năm 2016 Dự án ĐTXD nhà máy xử lý nước thải tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức 74
Hình 3.8 Quy trình thực hiện tạm ứng, thanh toán tại BQLDA 80
Hình 4.1 Mô hình tổ chức BQLDA tác giả đề xuất 104
Trang 7Bảng 3.1 Các dự án đầu tư xây dựng đã và đang được quản lý tại BQLDA 49
Bảng 3.2 Phân công quản lý dự án giữa các phòng chuyên môn của BQLDA 51
Bảng 3.3 Quy trình quản lý giai đoạn chuẩn bị dự án của BQLDA 52
Bảng 3.4 Kết quả xin chủ trương đầu tư giai đoạn 2013-2016 của BQLDA 54
Bảng 3.5 Kết quả công tác chuẩn bị dự án tại BQLDA giai đoạn 2013-2016 55
Bảng 3.6 Quy trình quản lý giai đoạn thực hiện dự án của BQLDA 56
Bảng 3.7 Kết quả công tác lập TKBVTC -TDT của BQLDA giai đoạn 2013-2016 57
Bảng 3.8 Quy trình quản lý thực hiện giai đoạn kết thúc dự án của BQLDA 61
Bảng 3.9 Kết quả quản lý tiến độ dự án tại BQLDA giai đoạn 2013-2016 75
Bảng 3.10 Tổng mức đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng nhà máyxử lý nước thải tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức 77
Bảng 3.11 Điều chỉnh dự toán xây dựng Dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thảitại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức 78
Bảng 3.12 Kết quả thực hiện kế hoạch vốn được giao hàng năm của BQLDA giai đoạn 2013-2016 81
Bảng 3.13 Quy trình lựa chọn nhà thầu điển hình tại BQLDA 83
Bảng 3.14 Kế hoạch lựa chọn nhà thầu của Dự án ĐTXD trạm quan trắc môi trường tự động, liên tục tại Khu Liên hiệp xử lý chất thải Sóc Sơn, Hà Nội 84
Bảng 3.15 Kết quả quản lý thực hiện dự án của BQLDA giai đoạn 2013-2016 88
Bảng 3.16 Quyết toán Dự án xây dựng ô chôn lấp rác thải theo công nghệ chôn lấp bán hiếu khí Fukuoka - Nhật Bản tại Khu xử lý chất thải Xuân Sơn, Sơn Tây 90
Trang 8NGUYỄN XUÂN QUỲNH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế Đầu tư
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, 2016
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Với mục tiêu phát triển bền vững, dự án đầu tư xây dựng về lĩnh vực tài nguyên
và môi trường ngày càng được Hà Nội quan tâm chú trọng Để nâng cao chất lượng công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng về lĩnh vực tài nguyên và môi trường, Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (sau đây gọi tắt là BQLDA) đã được thành lập từ tháng 6/2013
Từ khi thành lập đến nay, BQLDA đã và đang triển khai nhiều dự án đầu tư xây dựng về lĩnh vực tài nguyên và môi trường Tuy nhiên, công tác quản lý các dự
án đầu tư xây dựng tại BQLDA còn nhiều vấn đề bất cập
Đến nay cũng chưa có đề tài nghiên cứu nào được triển khai tại Ban QLDA nhằm tìm ra giải pháp cải thiện, giải quyết các vấn đề bất cập đó Nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản lý dự án trong việc đảm bảo hiệu quả của dự án, nâng cao chất lượng sử dụng, tránh thất thoát lãng phí vốn ngân sách nhà nước và xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn tại BQLDA, tôi quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản
lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên
và Môi trường Hà Nội”
Trong phạm vi luận văn, tác giả hi vọng sẽ bổ sung thêm một số lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước và áp dụng phân tích thực trạng tại BQLDA, đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại BQLDA
Kết cấu chính của luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2 Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân
sách nhà nước
Chương 3 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản
lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chương 4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại
Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Trang 10CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2.1 Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
“
Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn ngân sách nhà nước.”
“Căn cứ mức độ quan trọng và quy mô đầu tư để phân loại dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước thành bốn (04) nhóm dự án: dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C.”
Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tập trung đầu tư vào các lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội có khả năng mang lại hiệu quả lớn về kinh tế - xã hội hơn là tài chính Việc thực hiện các dự án này chịu sự quản lý toàn diện, chặt chẽ của nhà nước bằng các văn bản pháp luật, cơ chế chính sách,… Nhưng
do có sự tách biệt giữa người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và người thụ hưởng nên việc quản lý gặp không ít khó khăn và dễ dẫn đến thất thoát, lãng phí
2.2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
2.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý
“Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”
Mục tiêu quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
“hoàn thành các công việc của dự án theo đúng yêu cầu về chất lượng, tiến độ thực hiện và tiết kiệm chi phí bảo đảm hiệu quả dự án nhằm đạt được mục tiêu đầu tư” Trong ngắn hạn phải đảm bảo kết quả giải ngân kế hoạch vốn hàng năm
Trang 11- “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án”;
- “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực”;
- Tự thực hiện
2.2.3 Nội dung quản lý dự án
2.2.3.1 Quản lý dự án theo giai đoạn
Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của nhà nước về trình tự thực hiện đầu tư với ba (03) giai đoạn: “Giai đoạn chuẩn bị dự án; Giai đoạn thực hiện dự án và Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng”
kế hoạch đầu tư công hàng năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn để xin bố trí vốn thực hiện dự án
- Quản lý chất lượng xây dựng công trình: “là quá trình triển khai giám sát các tiêu chuẩn chất lượng trong việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo chất lượng công trình xây dựng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định và mục tiêu của dự án, bao gồm: Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng, Quản lý chất lượng thiết kế xây dựng và Quản
lý chất lượng thi công công trình”
- Quản lý thời gian và tiến độ: “là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến
độ thời gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án.”
- Quản lý chi phí đầu tư xây dựng: “là quá trình dự toán kinh phí, giám sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án”, đảm bảo chi phí thực hiện không vượt quá mức cho phép và tiết kiệm ngân sách nhà nước
Trang 12- Quản lý lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng: là quá trình lựa chọn nhà thầu; quản lý hợp đồng và điều hành việc thực hiện cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp của dự án nhằm đảm bảo lựa chọn nhà thầu
có chất lượng và triển khai các công việc dự án đạt kết quả tốt
2.2.4 Công cụ quản lý dự án chủ yếu
Các công cụ quản lý dự án thường được sử dụng trong công tác quản lý dự án bao gồm: Cấu trúc phân tách công việc (WBS); Mạng công việc; Kỹ thuật tổng quan
và đánh giá dự án (PERT) và phương pháp đường găng (CPM); Biểu đồ GANTT; Biểu đồ đường chéo; Các công cụ giám sát dự án (Sử dụng các mốc giới hạn; các đường cong chữ S; các báo cáo tiến độ; các cuộc họp bàn về dự án và tham quan thực tế); Phương pháp đánh giá kết quả thực hiện dự án C/SCSC
2.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Tác giả đề xuất một số tiêu chí có thể sử dụng để đánh giá công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước dựa trên mức độ hoàn thành các mục tiêu quản lý như sau: Chất lượng thực hiện dự án; Tiến độ thực hiện dự án; Chi phí thực hiện dự án; An toàn và môi trường và Tình hình giải ngân kế hoạch vốn
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng
Các nhân tố chủ quan bao gồm: Cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án; Đội ngũ cán bộ quản lý dự án; Công cụ quản lý dự án; Thông tin thu thập; Tính chất, đặc trưng của dự án
Trang 13CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
BQLDA được thành lập tại Quyết định số 3589/QĐ-UBND ngày 11/6/2013 của UBND Thành phố Hà Nội; “là đơn vị sự nghiệp công lập, tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội; có tư cách pháp nhân; có con dấu riêng; được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng theo quy định hiện hành của pháp luật.”
BQLDA có chức năng giúp Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình về lĩnh vực tài nguyên và môi trường được UBND Thành phố Hà Nội giao làm chủ đầu tư
Trải qua hơn ba (03) năm xây dựng và phát triển, BQLDA đã ngày càng trưởng thành và hoàn thiện hơn về mọi mặt, nhanh chóng bắt kịp và đáp ứng yêu cầu của các nhiệm vụ mới được Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND Thành phố Hà Nội giao
Qua phân tích thực trạng, tác giả rút ra một số đánh giá về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại BQLDA trong thời gian qua như sau:
* Kết quả đạt được
- Kiện toàn tổ chức, tìm kiếm và thực hiện đầu tư nhiều dự án thiết thực
- Đảm bảo thực hiện quản lý quá trình triển khai dự án một cách thường xuyên, xuyên suốt
- Các nội dung quản lý dự án được thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng ngân sách nhà nước:
+ Về lập kế hoạch tổng quan: Thực hiện tốt công tác lập kế hoạch đầu tư công hàng năm đảm bảo vốn đầu tư cho các dự án phù hợp với tiến độ thực hiện
+ Về quản lý chất lượng: Chất lượng công trình đã và đang thi công luôn được đảm bảo Các sự cố, sai lệch phát sinh liên quan đến chất lượng đều được cán bộ quản
lý dự án phát hiện và báo cáo xử lý kịp thời
Trang 14Xét theo tiêu chí chất lượng thực hiện dự án thì công tác quản lý dự án của BQLDA có thể được đánh giá tốt
+ Về quản lý thời gian và tiến độ: Tính đến thời điển hiện tại, chưa có dự án nào phải trình UBND Thành phố phê duyệt điều chỉnh thời gian thực hiện dự án tiến độ tổng thể của dự án vẫn được đảm bảo
+ Về quản lý chi phí đầu tư xây dựng: Chi phí thực hiện các dự án đều nằm trong phạm vi chi phí được UBND Thành phố phê duyệt Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có dự án nào phải phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư Tỷ lệ giải ngân kế hoạch vốn được giao giai đoạn 2013-2015 tốt (trung bình đạt 95,6%)
Xét theo tiêu chí chi phí thực hiện dự án và tình hình giải ngân kế hoạch vốn, công tác quản lý dự án tại BQLDA có thể được đánh giá tốt
- Các công cụ giám sát dự án đã được ứng dụng ngay từ ngày đầu thành lập BQLDA và ngày càng được hoàn thiện, sử dụng hiệu quả hơn Một số công cụ và phần mềm đơn giản khác cũng bắt đầu được áp dụng như cấu trúc phân tách công việc (WBS), biểu đồ GANTT, phần mềm Excel,… góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý dự án tại BQLDA
* Hạn chế trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA
- Mô hình tổ chức quản lý dự án được áp dụng là mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án dưới dạng thành lập BQLDA trực thuộc không còn phù hợp với các quy định mới của pháp luật hiện hành
- Quy trình quản lý dự án cho nội bộ BQLDA chưa được ban hành chính thức, quy định cụ thể bằng văn bản
- Nội dung quản lý dự án:
+ Chưa chú trọng đến việc lập kế hoạch tổng thể chi tiết cho dự án nên cán bộ quản lý dự án khó có được cái nhìn bao quát và tầm xa về dự án đang thực hiện
+ Mặc dù tiến độ tổng thể dự án được đảm bảo nhưng tiến độ một số công việc trong nhiều dự án đang triển khai vẫn bị chậm trễ như giải phóng mặt bằng, phê duyệt
dự án đầu tư,… Kế hoạch thời gian và tiến độ dự án còn sơ sài, thiếu chi tiết, dự kiến
Trang 15thời gian thực hiện công việc dự án thiếu chính xác Xét theo tiêu chí thời gian thực hiện dự án, có thể đánh giá công tác quản lý dự án tại BQLDA là chưa tốt
+ Một số dự án chậm giải ngân vốn được giao trong khi một số dự án đang triển khai thực hiện lại không được bố trí vốn
+ Quản lý lựa chọn nhà thầu: Công tác đấu thầu tỏ ra chưa hiệu quả do các gói thầu dù theo hình thức đấu thầu rộng rãi hay chào hàng cạnh tranh có rất ít nhà thầu tham gia, số lượng thường dưới 10 nhà thầu và nhà thầu trúng thầu hầu hết là các nhà thầu quen thuộc Đối với các gói thầu tư vấn và quy mô nhỏ dưới 500 triệu đồng thường áp dụng chỉ định thầu nên chưa lựa chọn được nhà thầu thực sự chất lượng
+ Chưa tập trung, quan tâm đúng mức đến công tác quản lý rủi ro
- Cơ chế phối hợp, hỗ trợ giữa các cán bộ quản lý dự án lỏng lẻo, không phát huy được sức mạnh tập thể trong công việc
+ Các công cụ và phần mềm quản lý dự án chuyên nghiệp chưa được ứng dụng rộng rãi và thường xuyên
* Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA
Những hạn chế trong công tác quản lý dự án tại BQLDA xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, cụ thể như sau:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng trong giai đoạn 2014-2016 có nhiều thay đổi Việc bổ sung trình tự thủ tục thẩm định, phê duyệt,… góp phần tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với các dự án nhưng cũng tăng số lượng thủ tục hành chính phải thực hiện
+ Hệ thống định mức, đơn giá nhân công, nguyên vật liệu, ca máy,… do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chậm cập nhật so với biến động thị trường nên việc lập chi phí trở nên kém chính xác, ảnh hưởng đến giá các gói thầu, giảm tính hấp dẫn của dự án đối với các nhà thầu có chất lượng tốt
+ Công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập, chậm tiến độ
+ Dự án không được bố trí vốn thực hiện
Trang 16+ Các tình huống, sự cố bất ngờ, khách quan xảy ra trong quá trình thi công xây dựng buộc phải dừng thi công
- Nguyên nhân chủ quan:
+ BQLDA mới thành lập nên cơ cấu tổ chức và bộ máy nhân sự chưa được kiện toàn, chưa đủ điều kiện để tổ chức tuyển dụng thêm cán bộ mới, cơ sở vật chất chưa được trang bị đầy đủ,…
+ Nội bộ BQLDA thiếu cơ chế, quy trình quản lý đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh và hiệu quả làm việc nhóm trong quản lý dự án Sự tương tác, bổ trợ giữa các thành viên, đặc biệt là các thành viên khác phòng chuyên môn rất yếu
+ Cán bộ quản lý dự án không đủ số lượng, có sự chênh lệch lớn về trình độ chuyên môn
+ Chế độ tiền lương và đãi ngộ của nhà nước không tạo được động lực cho cán bộ và khó thu hút nhân sự chất lượng cao làm việc cho BQLDA
+ Hệ thống thông tin quản lý còn kém, thiếu đồng bộ Việc phối hợp giữa các phòng chuyên môn còn cứng nhắc Các số liệu dự án phân tán, khó tổng hợp và phải thực hiện thủ công
Trang 17CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 4.1 Phương hướng phát triển của Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đến năm 2020
Trong thời gian tới, Thành phố Hà Nội định hướng đẩy mạnh đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường đang triển khai hoặc đã được quy hoạch nhằm tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; cải thiện chất lượng môi trường sống, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng những điều kiện cơ bản cho nền kinh
tế xanh, ít chất thải và phát triển bền vững Thủ đô Đây là cơ hội tốt để BQLDA triển khai các dự án đầu tư xây dựng thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Vì vậy, từ nay đến năm 2020, BQLDA sẽ tập trung kiện toàn bộ máy tổ chức,
cơ sở vật chất để tăng cường chất lượng các nguồn lực triển khai hoàn thành tốt các
dự án/nhiệm vụ còn dang dở, các dự án nằm trong danh mục đầu tư công trung hạn 2016-2020 của Thành phố, nghiên cứu khai thác các cơ hội đầu tư mới tập trung vào lĩnh vực xử lý chất thải và quan trắc môi trường, khẳng định vị thế chuyên môn của BQLDA trong công tác quản lý dự án lĩnh vực này
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQLDA như sau:
- Hoàn thiện mô hình tổ chức và ban hành quy trình quản lý dự án nội bộ nhằm tạo thuận lợi cho việc triển khai quản lý dự án và tăng cường phối hợp, hỗ trợ giữa các thành viên BQLDA
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý dự án thông qua tuyển dụng cán
bộ đủ năng lực, cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn, tập huấn,
- Tăng cường hệ thống thông tin và công cụ quản lý dự án thông qua hoàn thiện cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin,…
Trang 18- Hoàn thiện các nội dung quản lý dự án: Chú trọng lập kế hoạch tổng quan cho từng dự án; tăng cường vai trò của BQLDA trong công tác quản lý chất lượng; kiên quyết từ chối các nhà thầu kém, có tiền sử vi phạm hợp đồng, cố tình làm ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án; quan tâm hơn đến quản lý rủi ro và các bên liên quan thông qua yêu cầu cán bộ quản lý dự án nghiêm túc thực hiện việc đánh giá và lập các kế hoạch quản lý rủi ro;…
4.3 Kiến nghị
4.3.1 Đối với chủ đầu tư - Sở Tài nguyên và Môi trường:
- Đôn đốc đơn vị phụ trách công tác GPMB đẩy nhanh tiến độ GPMB
- Nghiên cứu ban hành quy trình thực hiện kiểm tra của chủ đầu tư với các công việc của BQLDA theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thẩm tra, phê duyệt các nội dung công việc
4.3.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước khác:
“- Rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của
hệ thống pháp luật
- UBND Thành phố nhanh chóng phê duyệt và triển khai thực hiện đề án sắp xếp, kiện toàn lại hệ thống các ban quản lý dự án trên địa bàn Thành phố theo tinh thần quy định của Luật Xây dựng 2014, Nghị định 59/2015/NĐ-CP và hướng dẫn của
Bộ Xây dựng tại Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 để sớm ổn định tổ chức, cán bộ BQLDA yên tâm công tác
- Các Sở chủ động nâng cao chất lượng thẩm định các thủ tục đầu tư đồng thời giảm thiểu thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt các thủ tục đầu tư dự án
- UBND Thành phố khẩn trương nghiên cứu ban hành quyết định về việc thực hiện phân cấp hoặc ủy quyền thẩm định, phê duyệt các thủ tục đầu tư dự án phù hợp với quy định của pháp luật đảm bảo tính thống nhất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy nhanh thời gian phê duyệt
- UBND Thành phố và Sở Kế hoạch và Đầu tư xem xét, bố trí đủ vốn thực hiện cho các dự án.”
Trang 19NGUYỄN XUÂN QUỲNH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế Đầu tư
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Mai Hương
Hà Nội, 2016
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đầu tư xây dựng của nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, tạo ra nhiều công trình, nhà máy, đường giao thông,… đưa lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực, đặc biệt là
ở Thủ đô Hà Nội - trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn
về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước Với mục tiêu phát triển bền vững, lĩnh vực tài nguyên và môi trường luôn được Hà Nội quan tâm chú trọng Các dự án đầu tư xây dựng về lĩnh vực tài nguyên và môi trường đã
và đang được triển khai góp phần cải thiện và bảo vệ chất lượng môi trường Hà Nội
Để đảm bảo hiệu quả của các dự án này không thể không nhắc đến vai trò hết sức to lớn của công tác quản lý dự án Với yêu cầu nâng cao chất lượng công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng về lĩnh vực tài nguyên và môi trường, Ban quản lý các dự
án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (sau đây gọi tắt là BQLDA)
đã được thành lập từ tháng 6/2013
BQLDA là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội có chức năng giúp Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình về lĩnh vực tài nguyên và môi trường được UBND Thành phố giao làm chủ đầu tư
Từ khi thành lập đến nay, BQLDA đã và đang triển khai nhiều dự án đầu tư xây dựng về lĩnh vực tài nguyên và môi trường Tuy nhiên, do đơn vị mới thành lập, hầu hết là cán bộ trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên cơ cấu tổ chức quản
lý vẫn cần tiếp tục kiện toàn, quy trình quản lý vẫn còn những tồn tại, tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa chưa cao,… dẫn đến một số dự án bị chậm tiến độ, phải lập lại dự án… làm giảm hiệu quả dự án Mặc dù công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng còn nhiều vấn đề bất cập như vậy nhưng hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào được triển khai tại Ban QLDA nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề này
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản lý dự án trong việc đảm bảo hiệu quả của dự án, nâng cao chất lượng công trình, tránh thất thoát lãng phí vốn ngân
Trang 21sách nhà nước và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tại BQLDA, tôi quyết định chọn đề
tài “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý các dự
án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội”
1.2 Tổng quan các công trình có liên quan
Vào những năm 1950, quản lý dự án đã chính thức được thế giới công nhận là một ngành khoa học Nó được phát triển từ những ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kỹ thuật, xây dựng, thương mại, quốc phòng,…
Nhiều trường đại học đã lựa chọn quản lý dự án là môn học chính thức bắt buộc đối với một số chuyên ngành và có giáo trình riêng phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu Tiêu biểu có Giáo trình Quản lý Dự án Đầu tư của Khoa Đầu
tư - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Từ Quang Phương chủ biên, Giáo trình Quản lý dự án xây dựng (gồm 3 quyển) của Bộ môn Dự án và Quản lý dự án - Trường Đại học Giao thông Vận tải do PGS.TS Bùi Ngọc Toàn chủ biên Ngoài ra còn có cuốn Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Công Trình của tác giả Bùi Mạnh Hùng được Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2006
Tại Việt Nam, quản lý dự án đang được quan tâm, ứng dụng rộng rãi trong mọi ngành nghề, lĩnh vực Các ban quản lý dự án trực thuộc các tỉnh thành, các sở ban ngành, các công ty được thành lập ngày càng nhiều, nhất là trong những năm gần đây Vì vậy, đã có nhiều tác giả lựa chọn quản lý dự án nói chung và quản lý
dự án đầu tư xây dựng nói riêng làm đề tài nghiên cứu Một số công trình tiêu biểu
Trang 22dụng vốn ngân sách nhà nước nhưng luận văn chưa làm rõ được sự khác biệt trong công tác quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước với các dự án thông thường
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban quản lý dự án huyện Thanh Trì” (2013) của tác giả Lê Thị Phương,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý dự án và phân tích thực trạng, đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý dự án tại Ban quản lý dự án huyện Thanh Trì Tuy nhiên, luận văn chưa phân tích
và làm rõ được các đặc trưng của Ban quản lý dự án huyện Thanh Trì, sự khác biệt trong nội dung quản lý dự án cấp huyện, một số giải pháp tác giả đưa ra còn mang tính khái quát chưa cụ thể
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban quản lý dự án quận Long Biên, Hà Nội” (2014) của tác giả
Mẫn Thị Hồng Vân, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Như các công trình nghiên cứu trên, luận văn cũng đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về công tác quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình, phân tích được thực trạng và chỉ ra một số hạn chế, nguyên nhân tồn tại tại Ban quản lý dự án quận Long Biên, đã áp dụng được mô hình SWOT để phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
dự án tại Ban quản lý dự án quận Long Biên Tuy nhiên, các nội dung công tác quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong luận văn chưa được trình bày chi tiết, thực trạng sử dụng các công cụ quản lý dự án tại Ban quản lý dự án quận Long Biên cũng chưa được tác giả đề cập tới
Như vậy, ngoài sự khác biệt trong thực trạng quản lý dự án do đặc thù của từng đơn vị, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc hệ thống hóa cơ sở lý luận chung cho công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng mà chưa tập trung vào cơ sở
lý luận chung cho công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước Đây là một khoảng trống nghiên cứu trong hệ thống lý luận về công tác quản
lý dự án Vì vậy, với đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội”,
tác giả hi vọng sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống đó bằng việc bổ sung thêm một số
Trang 23lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
và áp dụng cho thực tiễn hoạt động của đơn vị
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước và phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chỉ ra những thành tựu đạt được, đồng thời tìm ra được những điểm còn vướng mắc, tồn tại trong công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng tại đơn vị
- Phân tích nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý dự án đầu
tư xây dựng tại Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội; từ đó, đề xuất được phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản
lý dự án đầu tư xây dựng tại đơn vị
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu: Các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường trực thuộc
Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội triển khai thực hiện từ năm 2013 đến 2016 và
đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đến năm 2020
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, dữ liệu: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, thu thập số liệu từ các báo cáo tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng của BQLDA trong giai đoạn 2013-2016; thu thập dữ liệu thông tin từ các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam, các công trình nghiên cứu đã được công bố
về quản lý dự án đầu tư và các văn bản chỉ đạo của UBND Thành phố Hà Nội
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, chủ yếu là quan sát, nghiên cứu tình huống; sau đó xử lý bằng phương pháp thống kê tổng hợp và so sánh phân tích để đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án
Trang 24tại BQLDA từ những kết quả đạt được đến những điểm còn hạn chế, từ đó đề xuất
giải pháp khắc phục hạn chế và hoàn thiện công tác quản lý dự án tại đơn vị
+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa được sử dụng để hệ thống hóa cơ sở
lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp được sử dụng để thống kê các số liệu, thông
tin từ các báo cáo của BQLDA từ đó chọn lọc, tổng hợp thành các bảng dữ liệu cụ thể
về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại BQLDA
+ Phương pháp so sánh, phân tích được sử dụng nhằm so sánh, phân tích nguồn
dữ liệu đã được tổng hợp và đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý dự án đầu
tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại BQLDA
1.6 Kết cấu luận văn
Luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2 Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn
ngân sách nhà nước
Chương 3 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản
lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chương 4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại
Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Trang 25CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2.1 Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
2.1.1 Khái niệm
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.” (theo Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 16/12/2002) Như vậy, vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn nằm trong dự toán ngân sách nhà nước được Quốc Hội, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định cho từng năm
Hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước là một bộ phận của hoạt động đầu tư công, trong đó Nhà nước sử dụng vốn ngân sách để thực hiện các hoạt động đầu tư vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước tập trung vào một số lĩnh vực như an ninh quốc phòng, cơ sở hạ tầng, tài nguyên môi trường,…; một số vùng như vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo,… mà các nguồn vốn khác không thể hoặc không muốn tham gia do không có hoặc thu được rất ít lợi nhuận, thậm chí không có khả năng thu hồi vốn
Hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước đặc biệt là đầu tư xây dựng có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kinh tế - xã hội, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương theo định hướng của Nhà nước, phát huy tiềm năng của từng vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả đầu tư, hoạt động đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước thường được triển khai theo dự án
“Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch
vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự
án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo
Trang 26nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” (theo Điều 3, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 18/6/2014)
- Về mặt hình thức: dự án đầu tư xây dựng là “một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, cụ thể các công việc, chi phí theo một kế hoạch nhất định để tiến hành hoạt động xây dựng nhằm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng.”
- Về mặt nội dung: dự án đầu tư xây dựng là tổng thể các công việc và chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ với tiến độ thời gian và địa điểm xác định “để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình, sản phẩm dịch vụ trong tương lai.”
- “Về góc độ quản lý: dự án đầu tư xây dựng là công cụ để chủ đầu tư và các nhà quản lý kiểm soát các hoạt động, chi phí bao gồm vốn, vật tư, lao động,… để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng đảm bảo thực hiện chính xác, hiệu quả các mục tiêu đề ra.”
Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn ngân sách nhà nước
2.1.2 Phân loại
“Căn cứ mức độ quan trọng và quy mô đầu tư, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được phân loại thành bốn (04) nhóm dự án như sau: dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C.” Các tiêu chí phân loại được quy định rõ tại các điều 7, 8, 9 và 10 của Luật đầu tư công 2014 và Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng Đây là cách phân loại được các nhà quản lý
áp dụng rộng rãi, phổ biến tại Việt Nam
Ngoài ra, còn có thể phân loại dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo một số tiêu chí như “phân cấp quản lý, lĩnh vực đầu tư, tính chất hoạt động đầu
tư, tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước trong tổng mức đầu tư hay trong tổng vốn đầu tư,…”
“Căn cứ theo phân cấp quản lý, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được phân loại thành dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương và dự án sử
Trang 27dụng vốn ngân sách địa phương Dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương được phân loại thành dự án sử dụng vốn ngân sách cấp tỉnh, dự án sử dụng vốn ngân sách cấp huyện và dự án sử dụng vốn ngân sách cấp xã
Căn cứ tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước trong tổng mức đầu tư hay trong tổng vốn đầu tư, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được phân loại thành
dự án sử dụng toàn bộ vốn ngân sách nhà nước và dự án sử dụng một phần vốn ngân sách nhà nước Ở Việt Nam, trong điều kiện ngân sách hạn hẹp hiện nay, các nguồn vốn ngoài ngân sách được khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực như kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, hệ thống cung cấp nước sạch, y tế, giáo dục - đào tạo,… để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển Vì vậy, số lượng dự
án sử dụng toàn bộ vốn ngân sách nhà nước có xu hướng ngày càng giảm dần
Căn cứ lĩnh vực đầu tư, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được phân loại thành dự án quốc phòng, an ninh; dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng; dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp; dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật; dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông; dự án đầu
tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;…
Căn cứ tính chất hoạt động đầu tư, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được phân loại thành dự án đầu tư xây dựng mới, dự án cải tạo sửa chữa và dự án nâng cấp, mở rộng.”
2.1.3 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước có các đặc điểm của một dự án đầu tư xây dựng nói chung như sản phẩm dự án mang tính duy nhất, dự án
có chu kỳ phát triển riêng với sự tham gia của nhiều chủ thể, yêu cầu nguồn lực và vốn lớn, thời gian thực hiện dài,… Ngoài ra, nó còn có một số đặc điểm riêng như sau:
- “Trong nguồn vốn của dự án bắt buộc phải có vốn ngân sách nhà nước (toàn
bộ hoặc một phần) Vì vậy, dự án luôn chịu sự ràng buộc chặt chẽ, toàn diện của các quy định về quản lý ngân sách, quản lý đầu tư, quản lý chi phí,… như Luật ngân sách nhà nước, Luật đầu tư công, các nghị định của Chính phủ, thông tư của các Bộ ngành hướng dẫn về quản lý dự án, quản lý chi phí, quản lý chất lượng,… Các quy định này
Trang 28sẽ chi phối tất cả các hoạt động của dự án như quyết định chủ trương đầu tư, phân bổ vốn đầu tư; lập, thẩm định, phê duyệt dự án; lập, thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu
tư, tổng dự toán; lựa chọn nhà thầu; ký kết và thực hiện hợp đồng; thanh quyết toán vốn đầu tư; giám sát, đánh giá dự án;…”
- Đối tượng đầu tư tập trung vào các lĩnh vực quốc phòng, an ninh; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
- “Khi xét đến hiệu quả dự án thường tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đóng góp cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng, địa phương,… mà ít nói về hiệu quả tài chính thuần túy.”
- Thường có khả năng thu hồi vốn thấp, thậm chí không có khả năng thu hồi vốn
- “Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và người thụ hưởng của các dự án đầu
tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước thường là các chủ thể khác nhau, tách biệt hoàn toàn Người quyết định đầu tư là cấp có thẩm quyền ra quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật; chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức, đơn vị được người quyết định đầu tư giao quản lý, sử dụng vốn để thực hiện dự án; còn người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ sản phẩm, kết quả đầu tư của dự án, thường là một nhóm nhỏ, tập trung trong vùng dự án Trong khi đó, vốn thực hiện dự án lại là vốn ngân sách nhà nước, tức là tiền do cả xã hội đóng góp Vì vậy, công tác quản lý dự án đầu
tư công khó khăn và dễ dẫn đến thất thoát lãng phí Thực tế, tại Việt Nam trong thời gian qua các dự án đầu tư công gây thất thoát, lãng phí hàng nghìn tỉ đồng vốn đầu
tư là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội.”
2.2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước
2.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý
Có nhiều quan điểm khi xem xét công tác “quản lý dự án” Trong phạm vi luận văn, tác giả thống nhất với khái niệm sau: “Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”
Trang 29Hình 2.1 Chu trình quản lý dự án
Nguồn: Giáo trình Quản lý dự án đầu tư - Trường ĐHKTQD
Hình 2.1 thể hiện chu trình quản lý dự án với ba (03) giai đoạn diễn ra thường xuyên, liên tục và xuyên suốt quá trình thực hiện dự án
- “Lập kế hoạch là giai đoạn thiết lập các mục tiêu, xác định các công việc và
dự tính các nguồn lực cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện dự án” Đây là bước hình thành và phát triển một kế hoạch thống nhất để triển khai thực hiện dự án, theo trình tự logic và có thể thể hiện bằng các phương pháp lập kế hoạch truyền thống hoặc dưới dạng các sơ đồ hệ thống
- “Điều phối thực hiện dự án là quá trình phân bổ, phân chia các nguồn lực của
dự án bao gồm tiền vốn, lao động, vật tư, thiết bị,… để thực hiện các công việc, đặc biệt điều phối và quản lý tiến độ thời gian là nhiệm vụ quan trọng” Giai đoạn này nhà quản lý phải chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc cũng như toàn bộ
dự án (bao giờ bắt đầu, bao giờ kết thúc), từ đó, bố trí tiền vốn, nhân lực, vật tư và thiết bị cho phù hợp
- “Giám sát là quá trình kiểm tra theo dõi tiến trình thực hiện dự án, phân tích tình hình triển khai thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất các biện pháp để giải quyết những khó khăn, vướng mắc (nếu có) trong quá trình thực hiện dự án” Cùng
Trang 30với đó, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị cho các pha sau của dự án
Như đã nói ở trên, người quyết định đầu tư và chủ đầu tư của dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước thường là hai chủ thể khác nhau Vì vậy, các
dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước không chỉ chịu sự quản lý từ chủ đầu tư mà còn “được các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp có thẩm quyền quản
lý chặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự từ giai đoạn lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư đến giai đoạn kết thúc dự án, đưa vào khai thác vận hành sau đầu tư”
“Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước là hoàn thành các công việc của dự án theo đúng yêu cầu về chất lượng, tiến độ thực hiện và tiết kiệm chi cho ngân sách nhà nước bảo đảm hiệu quả dự án nhằm đạt được mục tiêu đầu tư”
Như vậy, có thể thấy quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước như bất kỳ dự án đầu tư nào đều có ba (03) mục tiêu chính cần đảm bảo là: Chất lượng, chi phí và thời gian Tùy từng dự án và tùy từng thời kỳ của mỗi dự án mà tầm quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau Trong quá trình thực hiện các dự
án đầu tư xây dựng luôn khó tránh khỏi những rủi ro và thay đổi bất ngờ do cả nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan làm ảnh hưởng đến kế hoạch thực hiện dự án, từ
đó gây ra những sai số ảnh hưởng đến mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả dự án và đạt được các mục tiêu đầu tư chung trong trường hợp có biến động, nhà quản lý phải thực hiện đánh đổi giữa ba (03) mục tiêu trên Đây là hoạt động thường xuyên xảy ra trong công tác quản lý dự án, từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc dự án
Đối với dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước, do nguồn vốn ngân sách nhà nước hạn hẹp nên mục tiêu tiết kiệm chi phí thường được các nhà quản lý quan tâm, đặt lên hàng đầu
Cùng với sự phát triển và yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động quản lý dự
án cũng như hiệu quả thực hiện dự án, mục tiêu của quản lý dự án cũng thay đổi theo chiều hướng gia tăng về cả lượng và chất Từ ba (03) mục tiêu ban đầu (hay tam giác mục tiêu) đã được phát triển thành lục giác mục tiêu bao gồm chất lượng, thời gian,
Trang 31chi phí, an toàn, rủi ro và môi trường Trong đó mục tiêu về môi trường ngày càng được chú trọng phù hợp với xu hướng phát triển bền vững trên thế giới
Ngoài những mục tiêu dài hạn như trên, quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước còn phải quan tâm đến một mục tiêu ngắn hạn rất quan trọng là kết quả giải ngân kế hoạch vốn hàng năm Căn cứ kế hoạch đầu tư công trung hạn, khả năng cân đối ngân sách nhà nước, tiến độ thực hiện và tầm quan trọng của
dự án, các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước sẽ được giao vốn thực hiện hàng năm phù hợp và chịu sự kiểm tra, giám sát định kỳ, đột xuất của các
cơ quan quản lý nhà nước, các cấp có thẩm quyền về việc thực hiện kế hoạch vốn được giao Đối với các dự án chậm giải ngân hoặc có khả năng không giải ngân hết
kế hoạch vốn được giao sẽ bị xem xét thu hồi kế hoạch vốn đã giao và có thể không được bố trí vốn thực hiện trong năm tiếp theo, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các pha sau của dự án Vì vậy, nhà quản lý dự án cần chú ý theo dõi kết quả giải ngân
và có các biện pháp kịp thời (nếu cần) để đảm bảo tiến độ giải ngân kế hoạch vốn được giao trong năm, tránh trường hợp bị thu hồi vốn đã giao gây khó khăn cho việc xin bố trí vốn trong những năm tiếp theo
2.2.2 Mô hình tổ chức quản lý dự án
“Mô hình tổ chức quản lý dự án là cách thức người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư tổ chức bộ máy phòng ban, huy động nhân sự,… tham gia thực hiện dự án Mô hình tổ chức quản lý dự án phù hợp góp phần đảm bảo chất lượng công tác quản lý
dự án, từ đó đảm bảo hiệu quả dự án và mục tiêu đầu tư.”
“Dựa trên các mô hình quản lý dự án thông thường theo thông lệ quốc tế, đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại Việt Nam hiện nay, căn cứ tính chất, quy mô và điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tư được phép quyết định áp dụng một trong các mô hình tổ chức quản lý dự án sau”:
- “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án”;
- “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực”;
- Tự thực hiện
Trang 322.2.2.1 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án
“Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án là mô hình được áp dụng cho các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thuộc nhóm A có công trình cấp đặc biệt;
có áp dụng công nghệ cao; dự án về an ninh, quốc phòng có yêu cầu bí mật nhà nước”.”
Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án do chủ đầu tư quyết định thành lập và là tổ chức sự nghiệp trực thuộc chủ đầu tư, “có tư cách pháp nhân độc lập,được
sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án được chủ đầu tư giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
và chủ đầu tư về hoạt động quản lý dự án của mình.”
Hình 2.2 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án
Cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án gồm “Giám đốc, một hoặc một số Phó giám đốc và các cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ tùy vào yêu cầu, tính chất của dự án” “Các thành viên Ban quản lý dự án có thể làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc chế độ kiêm nhiệm phụ thuộc vào quyết định của chủ đầu
tư nhưng phải đảm bảo có ít nhất mười (10) thành viên có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại dự án được giao quản lý và những thành viên phụ trách các lĩnh vực
Trang 33chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với quy mô dự án, cấp công trình
và công việc đảm nhận” Trong quá trình thực hiện quản lý dự án, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án được phép thuê cá nhân, tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực để thực hiện một số công việc thuộc nhiệm vụ quản lý dự án của mình
“Tổ chức quản lý dự án theo Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án là một trong các hình thái cụ thể của mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án.”
2.2.2.2 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực
“Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực áp dụng đối với dự
án sử dụng vốn ngân sách nhà nước không thuộc trường hợp áp dụng hình thức Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án” nêu ở mục 2.2.2.1
Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực do người quyết định đầu tư (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện) thành lập là “tổ chức sự nghiệp công lập trực thuộc người quyết định đầu tư, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại” “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án được giao; quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của mình” Các dự án do Ban quản lý
dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực quản lý đồng thời là “các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc cùng một chuyên ngành hoặc là các dự án được thực hiện trên cùng một hướng tuyến hoặc trong cùng một khu vực hành chính.”
“
Căn cứ yêu cầu quản lý, số lượng dự án cần quản lý và điều kiện thực hiện cụ thể, cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực có thể được sắp xếp theo từng dự án hoặc theo trình tự quản lý dự án đầu tư xây dựng.”
Nhưng nhìn chung, tổ chức của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực bao gồm các bộ phận cơ bản sau: Ban giám đốc, các giám đốc quản lý dự án và các bộ phận trực thuộc Theo quy định tại Việt Nam, Ban quản lý dự án đầu tư xây
Trang 34dựng chuyên ngành/khu vực trực thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh phải có ít nhất hai mươi (20) thành viên, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực trực thuộc UBND cấp huyện phải có ít nhất mười (10) thành viên có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại dự án chuyên ngành được giao quản lý “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực được thuê cá nhân, tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực để thực hiện một số công việc quản lý dự án đầu tư xây dựng”
Trường hợp Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực được giao chức năng chủ đầu tư và nhiệm vụ trực tiếp quản lý dự án như trên thì Ban quản
lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực được hiểu là một dạng của mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Hình 2.3 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực
Đối với “dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được người quyết định đầu tư giao cho tổ chức, cơ quan quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình làm chủ đầu tư hoặc dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước thuộc cấp xã, phường, thị trấn” (dự án do UBND cấp xã làm chủ đầu tư) thì chủ đầu tư phải ký hợp đồng thuê Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực thực hiện công tác quản lý dự án Trong trường hợp này, Ban quản lý dự án đầu
tư xây dựng chuyên ngành/khu vực đóng vai trò là tổ chức tư vấn quản lý dự án và
Trang 35hình thức Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành/khu vực được hiểu là một dạng của mô hình chủ nhiệm điều hành dự án
2.2.2.3 Hình thức tự thực hiện
“Hình thức tự thực hiện là hình thức mà chủ đầu tư sử dụng tư cách pháp nhân của mình và bộ máy chuyên môn trực thuộc để trực tiếp quản lý dự án” Hình thức này thường được áp dụng với các dự án quy mô nhỏ, tính chất kỹ thuật đơn giản
Theo quy định hiện hành tại Việt Nam, “chủ đầu tư được áp dụng hình thức tự thực hiện đối với dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình xây dựng quy mô nhỏ
có tổng mức đầu tư dưới năm (05) tỷ đồng, dự án có sự tham gia của cộng đồng và
dự án có tổng mức đầu tư dưới hai (02) tỷ đồng do UBND cấp xã làm chủ đầu tư.”
Các thành viên tham gia quản lý dự án “làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với công việc đảm nhận Chủ đầu tư
có thể thuê cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện năng lực để giám sát thi công và tham gia nghiệm thu hạng mục, công trình hoàn thành.”
2.2.3 Nội dung quản lý dự án
Quá trình triển khai thực hiện một dự án đầu tư luôn chịu sự chi phối, quản lý của nhiều bên ở cả tầm vĩ mô và vi mô “Quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước đối với
dự án bao gồm tất cả các biện pháp vĩ mô được nhà nước sử dụng để tác động đến các yếu tố trong quá trình hình thành, phát triển và kết thúc dự án Trong quá trình triển khai dự án, nhà nước thông qua đại diện là các cơ quan quản lý nhà nước về tài chính, xây dựng, đầu tư,… luôn định hướng, theo dõi chặt chẽ và chi phối các hoạt động của dự án nhằm bảo đảm dự án có những kết quả đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng, địa phương.” Đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước, sự quản lý này càng được thể hiện rõ ràng thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đặc biệt là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về đầu tư xây dựng, đầu tư công, quản lý ngân sách nhà nước, báo cáo giám sát đánh giá đầu tư,…
Trang 36“Quản lý dự án ở tầm vi mô là triển khai thực hiện các công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát… nhằm quản lý những hoạt động cụ thể của dự án Quá trình này diễn ra thường xuyên, liên tục, xuyên suốt tiến trình dự án từ khi mới chuẩn
bị đầu tư đến lúc đưa vào vận hành khai thác sử dụng và kết thúc dự án.”
Trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ xem xét nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng ở tầm vi mô trên hai (02) phương diện: quản lý dự án theo giai đoạn và quản lý
dự án theo lĩnh vực
2.2.3.1 Quản lý dự án theo giai đoạn
“Mỗi dự án đầu tư là một thể thống nhất, có một chu kỳ hay vòng đời riêng được đánh dấu bằng việc triển khai thực hiện một hay nhiều công việc khác nhau Chu kỳ dự án được xác định và chỉ rõ bởi thời điểm bắt đầu, thời hạn thực hiện từng giai đoạn, thời điểm kết thúc và những ai sẽ tham gia thực hiện Có thể rút ra một số đặc điểm sau thông qua chu kỳ dự án”:
- Khi bắt đầu dự án, “mức chi phí và nhu cầu nhân lực thường ở mức thấp, tăng cao hơn trong giai đoạn phát triển dự án và có xu hướng giảm nhanh chóng khi dự án
đi đến thời kỳ kết thúc.”
- Xác suất thành công khi dự án mới bắt đầu thực hiện là thấp nhất và khả năng xuất hiện rủi ro là cao nhất Càng về sau, xác suất thành công của dự án sẽ càng tăng cao hơn
- Vào thời kỳ bắt đầu dự án, “khả năng tác động của chủ đầu tư đến những đặc tính cuối cùng của sản phẩm dự án từ đó ảnh hưởng tới chi phí thực hiện dự án là cao nhất và giảm nhanh khi dự án đi vào các giai đoạn sau.”
Đối với dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước, chu kỳ dự án được chia thành ba (03) giai đoạn chủ yếu bao gồm: “chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình dự án vào khai thác sử dụng” như thể hiện ở Bảng 2.1
Trang 37“Bảng 2.1 Các công việc chính được thực hiện trong dự án đầu tư xây dựng
sử dụng vốn ngân sách nhà nước
1 Giai đoạn chuẩn bị dự án
Lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư/báo cáo nghiên cứu tiền khả thi
Lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi/báo cáo kinh tế - kỹ thuật)
2 Giai đoạn thực hiện dự án
Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất; chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có) Khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng
Xin cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng) Xây dựng kế hoạch vốn đầu tư hàng năm
Tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án và
Giai đoạn kết thúc xây
dựng đưa công trình của
- Giai đoạn chuẩn bị dự án:
“Giai đoạn chuẩn bị dự án được tính từ lúc ý tưởng đầu tư bắt đầu hình thành đến khi cấp có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt dự án đầu tư Giai đoạn này có
Trang 38thể chia thành hai (02) bước là lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, cụ thể như sau:”
+ Bước 1: Lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư
“Chủ đầu tư dựa trên các định hướng, chủ trương, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,… phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng, địa phương, ngành, lĩnh vực đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt để nghiên cứu đề xuất chủ trương đầu tư dự án hoặc thực hiện nghiên cứu tiền khả thi theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền Qua bước này, chủ đầu tư cần xây dựng được bức tranh toàn cảnh về dự án bao gồm mục tiêu, kết quả và phương thức thực hiện dự án thể hiện qua bản báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Các nội dung được thể hiện trong báo cáo chưa cần lượng hóa hết bằng các chỉ tiêu một cách quá chi tiết nhưng chủ đầu tư phải đảm bảo báo cáo được thực hiện căn cứ trên cơ sở thực tiễn
và cho thấy được tính khả thi, sự cần thiết phải thực hiện dự án đầu tư.”
Bản báo cáo nghiên cứu tiền khả thi/báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư sau khi hoàn thiện sẽ được chủ đầu tư trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư Trong thời gian này, chủ đầu tư có thể chủ động liên hệ làm việc với
cơ quan thẩm định chủ trương đầu tư để giải trình các nội dung dự án khi được yêu cầu và bổ sung hồ sơ cơ sở pháp lý (nếu cần) Dự án sẽ được xem xét quyết định chủ trương đầu tư khi đáp ứng được các điều kiện sau: “Thứ nhất, dự án phải phù hợp với
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt; Thứ hai, dự án không trùng lặp với các dự án đã được triển khai (đã
có quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư); Thứ ba, chi phí thực hiện
dự án phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư công và khả năng huy động các nguồn vốn khác (nếu có), phù hợp với khả năng vay, trả nợ công, nợ Chính phủ
và nợ chính quyền địa phương; Thứ tư, dự án phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.”
+ Bước 2: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư
Sau khi dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư, chủ đầu tư tổ chức lập dự án đầu tư Trong bước này, chủ đầu tư phải chi tiết xem dự án sẽ thực hiện những công
Trang 39việc gì và thực hiện như thế nào mà nội dung chủ yếu tập trung vào công tác thiết kế
và lập các kế hoạch về thời gian, chi phí,… của dự án để thể hiện được tính khả thi cao nhất của dự án đầu tư Đây là giai đoạn bao gồm những công việc phức tạp nhất của dự án, đòi hỏi nhân lực tham gia thực hiện phải có trình độ chuyên môn sâu về đầu tư xây dựng, tài chính, lập kế hoạch,… và có kinh nghiệm thực hiện nhiều dự án tương tự Kết quả công tác lập dự án đầu tư sẽ được thể hiện trong bản báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật của dự án
“
Nội dung quan trọng nhất cần được thể hiện chi tiết, đầy đủ, chính xác trong báo cáo nghiên cứu khả thi/báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với dự án đầu tư xây dựng là các bản thiết kế (thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công, thiết kế công nghệ (nếu có)) làm cơ sở triển khai thi công xây dựng công trình, bảo đảm sự đồng bộ giữa các công trình xây dựng của dự án khi đưa vào khai thác, sử dụng để đạt được mục tiêu đầu tư.”
“Chủ đầu tư sau khi lập xong báo cáo nghiên cứu khả thi/báo cáo kinh tế -
kỹ thuật sẽ trình cấp có thẩm quyền thẩm định, ra quyết định đầu tư Trong thời gian này, chủ đầu tư cần chủ động làm việc với cơ quan thẩm định để giải trình các nội dung cần làm rõ của báo cáo nghiên cứu khả thi/báo cáo kinh tế - kỹ thuật
và bổ sung hồ sơ khi cần thiết Người quyết định đầu tư ra quyết định đầu tư dự
án sử dụng vốn ngân sách nhà nước căn cứ trên chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành; sự cần thiết của dự án; mục tiêu của dự án; chủ trương đầu tư đã được phê duyệt; khả năng huy động và cân đối nguồn vốn đầu tư công và các nguồn vốn khác để thực hiện dự án.”
Sản phẩm của giai đoạn này là dự án đầu tư đã được phê duyệt và tiến trình dự
án có thể bước ngay vào giai đoạn thực hiện Thành công của dự án phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của bản dự án đầu tư được phê duyệt, trong đó phải đề cập và phân tích đầy đủ, chính xác các nội dung có liên quan đến quá trình thực hiện và hiệu quả của dự án Vì vậy, để đảm bảo chất lượng thực hiện các công việc trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, ngay từ ban đầu chủ đầu tư đã phải lựa chọn được các thành viên tham gia dự án có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm phù hợp với nội dung của dự
Trang 40án, phân chia công việc dự án một cách hợp lý, khoa học, nâng cao trách nhiệm của mỗi thành viên tham gia lập dự án
- Giai đoạn thực hiện dự án:
Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng là giai đoạn cần huy động nhiều nguồn lực nhất và có nhiều rủi ro khách quan nhất Vì vậy, quản lý dự án đối với giai đoạn này cũng bao gồm nhiều nội dung và có yêu cầu cao nhất Các công việc cần thực hiện trong giai đoạn thực hiện dự án có thể chia thành hai (02) phần là phần chuẩn bị thi công xây dựng công trình và phần thi công xây dựng công trình
Phần chuẩn bị thi công xây dựng công trình là bước chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thi công xây dựng công trình, bao gồm một số công việc chủ yếu như sau: “Khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án và ký kết hợp đồng kinh tế; tổ chức khởi công xây dựng công trình” Ở phần này, chủ đầu tư phải đảm bảo tiến độ thời gian thực hiện các công việc tránh kéo dài làm chậm tiến độ dự án, nhất
là công tác giải phóng mặt bằng (nếu có); đồng thời phải quản lý chặt chẽ chất lượng lập thiết kế, dự toán xây dựng, lựa chọn nhà thầu để đảm bảo chất lượng thi công xây dựng trong bước sau
“Sau khi có quyết định đầu tư, chủ đầu tư dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải lập và trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu của dự án làm cơ sở tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện các công việc trong giai đoạn thực hiện dự án như lập, thẩm tra thiết kế, dự toán xây dựng, thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng,…”
Các bản thiết kế, dự toán xây dựng của dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước sau khi lập xong đều phải được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt Cụ thể: “Cơ quan chuyên môn về xây dựng chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công,
dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế hai bước Người quyết định đầu tư phê