1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Khóa luận tốt nghiệp) nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây đinh mật (fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây gù hương (cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã vũ chấn, huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên

69 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên(Khóa luận tốt nghiệp) Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

LA MINH THIÊN

“NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG CỦA RỪNG TRỒNG

CÂY ĐINH MẬT (Fernandoa BrIlletii) NĂM THỨ NHẤT

VÀ RỪNG TRỒNG CÂY GÙ HƯƠNG (Cinamomum Balansae)

NĂM THỨ TƯ TẠI XÃ VŨ CHẤN, HUYỆN VÕ NHAI,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Lâm Nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2016 - 2020

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 2

LA MINH THIÊN

“NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG CỦA RỪNG TRỒNG

CÂY ĐINH MẬT (Fernandoa BrIlletii) NĂM THỨ NHẤT

VÀ RỪNG TRỒNG CÂY GÙ HƯƠNG (Cinamomum Balansae)

NĂM THỨ TƯ TẠI XÃ VŨ CHẤN, HUYỆN VÕ NHAI,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Lâm Nghiệp Lớp : K48 - Lâm Nghiệp Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2016 -2020 Giảng viên hướng dẫn : TS Vũ Văn Thông

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước (Ký, ghi rõ họ tên)

Hội đồng khoa học

(Ký, ghi rõ họ tên)

TS Vũ Văn Thông La Minh Thiên

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa

sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu đề tài sinh trưởng của cây Gù hương -

Cinamomum balansae trồng năm thứ 4 và cây Đinh mật - Fernandoa brilletii

trồng năm thứ 1 tại xã Vũ Chấn huyện Võ Nhai, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, nhân dân địa phương nơi nghiên cứu đề tài

Trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm lời cảm ơn chân thành Đặc biệt, em xin gửi đến thầy Vũ Văn Thông người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất

Cuối cùng em xin cảm ơn các cán bộ công nhân viên của UBND xã Vũ Chấn xóm Khe Nọi xã Vũ Chấn đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập

Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện chuyên đề này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Sinh viên thực hiện

La Minh Thiên

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Phiếu đo đếm cây sống, sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao vút ngọn,

chất lượng và động thái ra lá cây Gù hương và cây Đinh mật 30

Bảng 3.2: Phiếu theo dõi sâu hại lá 31

Bảng 3.3: Phiếu theo dõi bệnh hại lá 32

Bảng 4.1: Chất lượng sinh trưởng cây Đinh mật tuổi 1 35

Bảng 4.2: Sinh trưởng đường kính cây Đinh mật tuổi 1 36

Bảng 4.3: Sinh trưởng chiều cao cây Đinh mật tuổi 1 37

Bảng 4.4: Động thái ra lá cây Đinh mật tuổi 1 38

Bảng 4.5: Thành phần sâu hại 39

Bảng 4.6: Tính R% mức độ hại của sâu 39

Bảng 4.7: Thành phần bệnh hại và mức độ hại của các loài bệnh 40

Bảng 4.8: Tính R% mức độ bệnh hại lá 41

Bảng 4.9: Chất lượng sinh trưởng cây Gù hương tuổi 4 42

Bảng 4.10: Sinh trưởng đường kính cây Gù hương tuổi 4 43

Bảng 4.11: Sinh trưởng chiều cao cây Gù hương tuổi 4 44

Bảng 4.12: Động thái ra lá cây Gù hương tuổi 4 45

Bảng 4.13: Thành phần sâu hại 46

Bảng 4.14: Tính R% mức độ hại của sâu 46

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Biểu đồ sinh trưởng đường kính gốc cây Đinh mật tuổi 1 36

Hình 4.2: Biểu đồ sinh trưởng chiều cao cây Đinh mật tuổi 1 37

Hình 4.3: Biểu đồ động thái ra lá cây Đinh mật tuổi 1 38

Hình 4.4: (A) Sâu róm ăn lá (B) Bọ cánh cứng 40

Hình 4.5: (A) Phấn trắng (B) Cháy lá 41

Hình 4.6: Biểu đồ sinh trưởng đường kính gốc cây Gù Hương tuổi 4 43

Hình 4.7: Biểu đồ sinh trưởng chiều cao cây Gù hương tuổi 4 44

Hình 4.8: Biểu đồ động thái ra lá cây Gù hương tuổi 4 45

Hình 4.9: (A) Sâu róm ăn lá (B) Sâu đục thân, cành 47

Trang 7

4 VQG - KBTTN Vườn quốc gia - khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2

1.3 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 5

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11

2.3 Tình hình tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu 23

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 23

2.4 Điều kiện về kinh tế - xã hội 24

2.4.1 Về kinh tế 24

2.4.2 Về xã hội 25

2.5 Những thuận lợi và khó khăn của khu vực nghiên cứu 26

Trang 9

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

3.2 Nội dung nghiên cứu 27

3.2.1 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật tuổi 1 và cây Gù hương tuổi 4 tại xóm Khe Nọi xã Vũ Chấn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên 27

3.2.2 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng cây Đinh mật tuổi 1 28

3.2.3 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng cây Gù hương tuổi 4 28

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu 28

3.3.2 Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng cây Gù hương tuổi 4 và cây Đinh mật tuổi 1 29

3.3.3 Nghiên cứu thành phần sâu, bệnh hại cây Gù hương tuổi 4 và cây Đinh mật tuổi 1 và biện pháp phòng trừ 31

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

PHẦN 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 35

4.1 Nguyên cứu sinh trưởng của cây Đinh mật tuổi 1 tại xóm Khe Nọi xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 35

4.1.1 Đánh giá tỷ lệ chất lượng (Tốt, trung bình, xấu) của cây Đinh mật tuổi 1 35

4.1.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng đường kính gốc, của cây Đinh mật tuổi 1 36

4.1.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng chiều cao cây Đinh mật tuổi 1 37

4.1.4 Đánh giá động thái ra lá non cây Đinh mật tuổi 1 38

4.1.5 Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ cho cây Đinh mật trồng năm thứ 1 39

Trang 10

4.2 Nguyên cứu sinh trưởng của cây Gù hương tuổi 4 tại xóm Khe Nọi xã Vũ

Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 42

4.2.1 Đánh giá tỷ lệ chất lượng (Tốt, trung bình, xấu) của cây Gù hương tuổi 4 42

4.2.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng đường kính gốc, của cây Gù hương tuổi 4 43

4.2.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng chiều cao cây Gù hương tuổi 4 44

4.2.4 Đánh giá động thái ra lá non cây Gù hương tuổi 4 45

4.2.5 Sâu hại 46

4.3 Đề xuất các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cho cây: 48

4.3.1 Đối mới cây Đinh Mật tuổi 1 48

4.3.2 Đối với cây Gù hương tuổi 4 49

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.1.1 Theo dõi sinh trưởng và phát triển của cây Đinh mật tuổi 1 50

5.1.2 Theo dõi sinh trưởng và phát triển cây Gù Hương tuổi 4 50

5.2 Kiến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 11

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo lại rừng chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy

đủ và bản chất các quy luật sống của rừng trước hết là các quá trình tái sinh,

sự hình thành và động thái biến đổi của rừng tương ứng với những điều kiện

tự nhiên môi trường khác nhau

Hiện nay trong nhiều khu vực rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do

sử dụng phương thức khai thác – tái sinh không đáp ứng được những lợi ích lâu dài của nền kinh tế và bảo vệ môi trường Các phương thức khai thác – tái sinh không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng

và chất lượng Ở Việt Nam hiện nay thực trạng nạn chặt phá rừng ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề hết sức nghiêm trọng Thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), chỉ trong hơn 5 năm từ 2012 – 2017, diện tích rừng

tự nhiên đã bị mất do chặt phá rừng trái pháp luật mất chiếm 11%, 89% còn lại là do chuyển mục đích sử dụng rừng tại những dự án được duyệt.Tính đến tháng 09/2017, diện tích rừng bị chặt phá là 155,68 ha và 5364,85 ha diện tích rừng bị cháy Nhất là độ che phủ rừng ở khu vực miền Trung Độ che phủ rừng ở nước ta hiện còn chưa đến 40%, diện tích rừng nguyên sinh còn khoảng 10%

Ở Việt Nam Cây Đinh mật (Fernandoa brillettii Dop) là gỗ lớn thường

xanh, cao 20-30m, đường kính 0,5-1,3m Vỏ màu xám tro bong mảng, có nhiều lớp mỏng lớp trong có màu nâu vàng Đinh mật phân cành thấp, cành non hơi vuông cạnh, phủ lông vàng Cây mọc trong rừng thường xanh nơi có thảm thực vật dày ẩm.Gỗ Đinh mật bền, chắc, không bị mối mọt cong vênh

Trang 12

nên rất được ưa chuộng trong ngành gỗ Đặc biệt để đóng đồ nội thất, làm nhà

ở, đóng tàu thuyền… những cây gỗ lớn trong tự nhiên đã bị khai thác triệt để

Gỗ gù hương (Cinnamomum balansae) là loại cây lấy gỗ, ở miền Nam

thường được gọi bằng cái tên xá xị, do xuất phát từ đặc trưng mùi của gỗ

Cây gù hương là loại cây tinh dầu Cây tỏa ra mùi thơm đặc trưng, có thể xua đuổi côn trùng, muỗi, gián Nếu bày trong nhà, không những vượng khí mà còn có lợi cho sức khỏe Gỗ gù hương là dòng gỗ cao cấp, đặc biệt những loại gỗ

có tuổi đời càng lâu thì giá trị, chất lượng càng cao.Loại gỗ này thuộc nhóm I và đứng thứ 4 trong số 6 loại gỗ có mùi thơm quý hiếm.Trước khi biết khai thác gỗ của gù hương thì con người đã phát hiện ra gù hương còn có tác dụng rất lớn trong đời sống hàng ngày Đó chính là dùng để chữa bệnh

Để phục vụ cho công tác bảo tồn, thương mại hóa sản phẩm và phát triển kinh tế vùng nông thôn miền núi nói chung và ở THÁI NGUYÊN nói riêng, việc nghiên cứu xây dựng chăm sóc cây Đinh mật và cây Gù hương là cần thiết và có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn

Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt nghiệp:

“Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư

tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Đinh mật (Fernandoa brillettii Dop), thuộc họ - Fernandoa, là một

trong những loài thực vật có chất lượng của gỗ bền, chắc, không bị mối mọt cong vênh nên rất được ưa chuộng trong ngành gỗ Đặc biệt để đóng đồ nội thất, làm nhà ở, đóng tàu thuyền… những cây gỗ lớn trong tự nhiên đã bị khai thác triệt để

Gù hương (Cinnamomum balansae), thuộc họ - Long não Lauraceae

Gỗ gù hương là dòng gỗ cao cấp, đặc biệt những loại gỗ có tuổi đời càng lâu

Trang 13

thì giá trị, chất lượng càng cao.Loại gỗ này thuộc nhóm I và đứng thứ 4 trong

số 6 loại gỗ có mùi thơm quý hiếm.Trước khi biết khai thác gỗ của gù hương thì con người đã phát hiện ra gù hương còn có tác dụng rất lớn trong đời sống hàng ngày Đó chính là dùng để chữa bệnh Rễ, thân cây dùng để trị cảm cúm,

ăn uống đầy bụng khó tiêu, cảm mạo, viêm khớp, đau dạ dày, ho gà, kiết lỵ…Ngay đến lá cũng có tác dụng lớn trong việc chữa ngoại thương xuất

huyết Hoặc dùng quả để chữa bệnh sởi, dùng cho người bị sốt cao “Nghiên

cứu sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật (Fernandoa brillettii ) trồng năm

thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum balansae) năm thứ tư tại xã Vũ

Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

1.3 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

 Đánh giá được khả năng sinh trưởng và phát triển cây Đinh mật

(Fernandoa brillettii ) trồng năm thứ nhất và cây Gù hương (Cinnamomum

balansae) năm thứ tư

 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của loài

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

Biết tầm quan trọng của loài thực vật có giá trị, cây gỗ lớn Đinh mật và cây gỗ Gù Hương Trong quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, để giải quyết vấn đề khoa học thực tiễn Làm quen với một số phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể Để chăm sóc, gây trồng loài cây quý hiếm cũng là để bảo tồn loài cây Đinh mật

và cây Gù Hương Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Giúp cho sinh viên củng cố lại những kiến thức đã được học, đồng thời làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm Thực hành thao tác được các

Trang 14

phương pháp nghiên cứu, điều tra sinh trưởng loài Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng hiện nay; Tìm ra được biện pháp

kỹ thuật gây trồng tốt nhất mang lại hiệu quả hữu hiệu nhất cho bà con trong quá trình chăm sóc gây trồng cây Đinh mật và cây Gù hương tại địa phương

Việc nghiên cứu xây dựng mô hình trồng cây Đinh mật và cây Gù hương

để đề xuất một số giải pháp kỹ thuật gây trồng, phục vụ lợi ích của con người

Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của loài Đinh mật và cây Gù Hương tại khu vực nghiên cứu, tạo tiền đề cho việc chăm sóc, gây trồng loài

cây này tại khu vực nghiên cứu

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Gù hương vốn là loài hiếm và tái sinh kém lại bị chặt lấy gỗ Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm II) của Nghị định số 32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

Đinh mật là một loại gỗ thuộc (nhóm II) là loài gỗ quý và cũng tái sinh kém bị chặt lấy gỗ Đinh mật là loại gỗ bền chắc không cong, vênh, mối mọt, được dùng trong xây dựng, làm nhà ở đóng tàu thuyền Tuy nhiên, hiện nay thông tin về loài cây, thị trường lâm sản, các biện pháp kỹ thuật trong nhân giống và trồng rừng cây Đinh mật hầu như còn rất ít

Đây là cơ sở và căn cứ cho việc gây trồng cây Gù hương và cây Đinh mật nhằm phát triển, bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới cây Đinh mật

 Cấu trúc rừng:

Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống hoà thuận trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái Cấu trúc rừng

bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi

Trang 16

Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards, P W (1952)[28], Baur, G N (1964) [29], Odum, E P (1971) [32] tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô

tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng

Baur, G N (1964) [29] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động sử lý lâm sinh cải thiện rừng

Odum, P (1971) [32] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ

sở thuật ngữ hệ sinh thái (Ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học

Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot,R (1965) [25], Plaudy, J (1987) [27] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến

Richards, P W (1959, 1968, 1970) [28] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây

Schumarcher, F X và Coil, T X (1960) [34] đã sử dụng hàm Weibull

để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Peason, Poisson cũng đã được nhiều tác giả sử dụng để

mô hình hoá cấu trúc rừng

Trang 17

Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ

và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hướng phân loại này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó

và do vậy hình thành một hướng theo ngoại mạo sinh thái

Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu

mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động, Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh phát triển của rừng

Việc định lượng các đặc điểm cấu trúc rừng đã được tác giả trên thế giới sử dụng trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái rừng tự nhiên, kể cả các hệ sinh thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới (Weidelt 1968, Brun 1969, Lamprecht H., 1969) [31]

Phương pháp phân tích lâm sinh đã được Lamprecht, H (1969) [31] mô

tả chi tiết Các tác giả nghiên cứu rừng tự nhiên vùng nhiệt đới sau đó đã vận dụng phương pháp này và mở rộng thêm những chỉ tiêu định lượng mới cho

phân tích cấu trúc rừng tự nhiên như Kammesheidt (1994) [30]

Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng

 Nghiên cứu về tái sinh rừng:

Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ

Trang 18

cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1952; Baur G.N, 1964; Rollet, 1969) [29] Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định

Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít được quan tâm nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi Van Steenis, J (1956) [35] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưu sáng

Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa các cách sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Walton, A B Bernard, R C - Wyatt Smith (1950) [38] với phương thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai; Taylor (1954) [36], Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng ở Nijêria và Gana Nội dung hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur,

G N (1976) [24] tổng kết trong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng

Trang 19

Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards,P.W (1952), Bernard Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m; 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954) [36], Barnard (1955) xác định

số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo

vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy

Chuyên, 1995) [3]

Lamprecht, H (1969) [31] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng

Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Tác

giả Baur,G N (1976) [24] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến

phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây

Trang 20

có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy

Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ

và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân

tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [15]

Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) [33] nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia

và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]

Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy

từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy

bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có

60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]

Trang 21

Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới cây Gù hương

Công tác bảo tồn trên thế giới đã được chú trọng từ rất lâu, đặc biệt

là các nước phát triển, các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn đã được thành lập

từ rất sớm Trên thế giới các nghiên cứu về cây Gù hương chưa nhiều, vì Gù hương là loài thực vật đặc hữu của Việt Nam Ngay từ những năm đầu thế kỷ

XX, M.H Lecomte - một nhà nghiên cứu thực vật của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích có giá trị trong cuốn Thực vật chí đại cương Đông Dương - Flora Generale de L'Indo-Chine (1907-1914) [58], trong đó có Việt Nam M H Lecomte khi nghiên cứu các loài

thực vật trong chi Cinnamomum (chi Quế) ở Việt Nam 1913 đã công bố loài

Gù hương chỉ có phân bố ở Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương) là loài đặc hữu Trên thế giới chưa biết đến loài cây này M.H Lecomte mô tả sơ bộ

Gù hương (Cinnamomum balansae) đây là loài cây gỗ lớn cao tới 50 m, mọc

ở núi đất và núi đá Trong thân và lá có tinh dầu với thành phần chính là long não Hạt chứa dầu béo Gỗ tốt, không bị mối mọt, có mùi long não nên được

ưa chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà như tủ, bàn ghế

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước cây Đinh mật

 Nghiên cứu về cấu trúc rừng:

Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc

Trang 22

kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình

Trần Ngũ Phương (1970) [12] đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong đó rất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng

Ngày nay, hệ thống phân loại thảm thực vật UNESCO (1973) [37] được coi là khung phân loại chung cho TTV trên trái đất Hệ thống phân loại này dựa vào cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin chung về sinh thái, địa lý Thảm thực vật chia thành 5 lớp quần hệ: 1 Lớp quần hệ rừng kín; 2 Lớp quần hệ rừng thưa; 3 Lớp quần hệ cây bụi; 4 Lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã gần gũi; 5 Lớp quần hệ cây thảo Trong lớp quần hệ cây bụi chia ra thành 2 phân lớp: phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu thường xanh và phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu rụng lá Trong mỗi phân lớp này được chia thành nhiều nhóm quần hệ và quần hệ thảm cây bụi

Thái Văn Trừng (1978) [20] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết

Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000) [21] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần hệ) Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của GS Thái Văn Trừng

từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973) [37]

Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn Đây là quy luật cơ bản

Trang 23

nhất trong các quy luật kết cấu lâm phần Biết được quy luật phân bố, có thể xác định được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ

sở xác định trữ lượng lâm phần

Nguyễn Văn Trương (1983) [19] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài

đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987) đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây

Nguyễn Anh Dũng (2000) [5] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông Đà - Hoà Bình

Bùi Thế Đồi (2001) [6] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam

Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (2001) [14] thử nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng

lá rộng, hỗn loại thường xanh ở Kon Hà Nừng - Gia Lai cho rằng đa số loài cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động

Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thì việc mô hình hoá cấu trúc đường kính (D1.3) được nhiều người quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của

các tác giả như: Đồng Sĩ Hiền (1974) [7] dùng hàm Meyer và hệ đường cong

Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam

Trang 24

Trần Văn Con (1991) [4] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Đăklăk

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17], thống kê thành phần loài của Vườn Quốc Gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần

và ngành Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Trong các loài trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn như: Hoàng thảo tam đảo (Dendrobium daoensis), Trà hoa dài (Camellia longicaudata), Trà hoa vàng tam đảo (Camellia petelotii), Hoa tiên (Asarum petelotii), Trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)

Đặng Kim Vui (2002) [22], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng

ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ

1 - 2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ

và họ Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất 10 loài, sau đó đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Misaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp nhất 75-80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi

Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm

Trang 25

 Những nghiên cứu về tái sinh rừng

Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên cứu từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình các kết quả nghiên cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [18] tổng kết và kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam, hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều,

số cây mạ có h < 20cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thước khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên

Trần Ngũ Phương (1970) [12] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”

Phùng Ngọc Lan (1986) [9] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm

Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông

Trang 26

Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn) Nguyễn Duy Chuyên (1988) [2] đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu

Vũ Tiến Hinh (1991) [8] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ

số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số

tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy

Nguyễn Ngọc Lung (1993) [10] và cộng sự khi nghiên cứu về khoanh nuôi và phục hồi rừng đã cho rằng, nghiên cứu quá trình tái sinh phải nắm chắc các yếu tố môi trường và các quy luật tự nhiên tác động lên thảm thực vật Qua đó xác định các điều kiện cần và đủ để tác động của con người đi đúng hướng, quá trình này được gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên

Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [16] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng, chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi Qua đó, tác giả kết luận: rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ

Khi nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An Nguyễn Duy Chuyên (1995) [3] đã nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo chiều cao, phân bố tổ thành cây tái sinh, số lượng cây tái sinh Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây

Trang 27

tái sinh cho toàn lâm phần, tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có phân bố cụm

Thái Văn Trừng (2000) [21] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường

Trần Ngũ Phương (2000) [13] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và

sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này

sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước cây Gù hương

Thiên nhiên nhiệt đới Việt Nam đã tạo ra hệ thực vật đa dạng, đa lợi ích Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được 11.373 loài thuộc 2.524 chi,

378 họ trong 7 ngành thực vật khác nhau (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1996) [50] Với hơn 19 triệu hecta rừng và đất rừng, hệ thực vật này là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của đất nước, thể hiện rõ lợi thế của ngành lâm nghiệp

so với nhiều ngành sản xuất khác Trong tập đoàn các loài cây đa mục đích đã

được định danh ở Việt Nam, cây Gù hương(Cinnamomum balansae) là loài

Trang 28

cây có triển vọng đem lại giá trị kinh tế cao trong tương lai, đặc biệt cho những người dân nghèo sống ở vùng núi

 Các nghiên cứu về cây Gù hương

Loài cây Gù hương có phân bố rải rác ở khu vực đồi, núi thấp của của các tỉnh phía Bắc Hiện nay, số lượng cây Vù hương còn rất ít, chỉ còn thấy ở VQG Cúc Phương (Ninh Bình), Ba Vì (Hà Tây), trong rừng thứ sinh và vườn

hộ ở Thạch Thành (Thanh Hoá) và rải rác ở một số nơi; song hiện nay đã bịkhai thác quá mức, không còn gặp nhiều trong rừng tự nhiên nên được xếp vào loại hiếm (Bộ Khoa học và Công nghệ 1996) [39]

Ở Việt Nam hiện đã biết có khoảng 21 chi, với 275 loài.Đặc điểm: Cây

gỗ lớn hay nhỏ, ít khi là dây leo (dây tơ xanh) Lá mọc cách, ít khi mọc đối, nguyên, gân lá hình lông chim, một số có 3 gân hình cung, gân con hình mạng lưới Không có lá kèm Trong thân, lá có tế bào tiết dầu thơm

Cây Gù hương trong Sách đỏ Việt Nam, phần II Thực Vật (2007) [40]

4 ô; 3 nhị vòng trong cùng mỗi nhị có 2 tuyến; nhị lép 3, hình tam giác, có chân; bầu hình trứng, nhẵn, vòi ngắn, núm hình đĩa Quả hình cầu, đuờng kính

8 – 10 mm, đính trên đế hoa hình chén

Sinh học và sinh thái:

Mùa hoa vào tháng 1 – 5, mùa quả chín tháng 6 – 9 Tái sinh bằng hạt hoặc giâm cành

Trang 29

Theo Bảo tồn và nhân giống Gù hương (Xá xị) [60] thực tế điều tra thấy Gù hương là cây gỗ lớn thường xanh có thể cao đến 40m, đường kính hơn 1m, sinh trưởng mạnh nhất ở độ cao 300 – 1000 m Có những cây đã bị khai thác gốc 3 – 4 m đường kính Ra hoa tập trung từ tháng 1 – 3, quả chín vào tháng 10 – 12 hàng năm Gù hương có phân bố trên đất Feralit vàng hoặc vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch mica và đá G-nai, ở độ cao 60 – 2000

m Ở vùng cao cây vẫn sinh trưởng nhưng có thời gian ngủ đông dài hơn (không thay lá nhưng khoảng 2 tháng cây ngừng sinh trưởng) Gù hương thường mọc ở chân đồi, sườn đồi nhất là những nơi gần bờ ao, ruộng (chứng

tỏ khi còn nhỏ cây ưa ẩm)

Phân bố: Trong nước: Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương)

Thế giới: Chưa biết

Giá trị: Loài đặc hữu của Việt Nam Trong thân và lá có tinh dầu với

thành phần chính là long não Hạt chứa dầu béo Gỗ tốt không bị mối mọt, có mùi long não nên được ưa chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà như tủ, bàn ghế Theo Giá trị của cây Gù hương (Xá xị) [66] Cây có lợi ích kinh tế rất cao: Gỗ của cây Gù hương được liệt vào hàng quý hiếm và chất lượng hàng đầu Thân cây gù hương hầu như không bị mối mọt, đảm bảo được độ bền vững khi gia công thành các sản phẩm như bàn ghế, giường Cây Gù hương hiện nay được bán với giá thành rất cao, khoảng 20 đến 25 triệu/m3 cao gấp 1,8 – 2 lần gỗ Lát hoa

Tinh dầu Gù hương (còn gọi là dầu Xá xị, thường được chưng cất từ lá, cành, gốc, rễ), cách đây trên 10 năm được bán tại lò chưng cất với giá 1 triệu đồng/lít (tương đương với 2 chỉ vàng/lít) Đây là loại tinh dầu cực kì tốt và đánh giá chất lượng không thua kém so với loại tinh dầu của cây long não

Tình trạng: Vốn là loài hiếm và tái sinh kém lại bị chặt lấy gỗ

Phân hạng: VU A1c

Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996)

với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng

Trang 30

nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Đã được bảo vệ nguyên vẹn trong Vườn quốc gia Cúc Phương

Trong báo cáo bảo tồn cây Gù hương của Nguyễn Anh Dũng (2015) [45] Trung tâm Khoa học lâm nghiệp vùng trung tâm Bắc Bộ Đã mô tả cây

Gù hương còn gọi là Vù hương có tên khoa học là Cinnamomum balansae thuộc họ Re (Lauraceae) Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm các cán bộ

đã đi điều tra khảo sát ở 3 tỉnh: Ninh Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang Đã điều tra đo đếm được 53 cây trong đó tại Phú Thọ: 29 cây; Yên Bái: 6 cây; Tuyên Quang: 16 cây; vườn Quốc gia Cúc Phương 2 cây Dự kiến 14 cây đưa vào khai thác nguồn giống

Trịnh Hoài Nam (2016) [48] đã nghiên cứu về “Nghiên cứu một số đặc

điểm sinh học của loài cây Gù hương (Cinnamomum blalansace

M.H.Lecomte,1913) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” tác giả đã mô tả các đặc điểm về thân, lá, hoa, quả đồng thời đã so sánh với mô tả trong sách đỏ Việt Nam, ngoài ra tác giả còn nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái nơi loài Gù Hương phân bố

Bảo tồn nguồn gen loài Gù hương tại Vườn quốc gia Tam đảo Đỗ Đình Tiến (2012) [52] đã điều tra được 17 cây Gù hương tại Vườn quốc gia Tam đảo, xây dựng mô hình bảo tồn nguyên vị 15 cây Gù hương

Vườn quốc gia Cúc Phương đã xây dựng mô hình bảo tồn 10 loài cây

gỗ quý hiếm trong đó có mô hình bảo tồn thuần loài cây Gù hương với diện tích 1ha Lê Phương Triều (2012) [54]

Đề tài: Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng

nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP theo vùng sinh thái (2010) [55] Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp Viện Điều

Trang 31

tra Quy hoạch Rừng Đã xếp 37 loài thực vật quý hiếm trên hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam thành 6 nhóm giá trị và công dụng khác nhau Những loài có

ý nghĩa về tính đặc hữu, phân bố hẹp và có giá trị trong bảo tồn nguồn gen

như: Bách đài loan (Taiwania cryptomerioides), Bách vàng (Xanthocyparis

vietnamensis), Vân sam phan xi păng (Abies delavayi ver Fansipanensis),

Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Hoàng đàn (Cupressus torulosa), và Gù hương (Cinnamomum balansae)

Theo Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy

cấp, quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, theo vùng sinh thái (2010) [55], mô tả cây Gù hương còn rải rác vài cá thể trong rừng ở

vùng phân bố tự nhiên, chủ yếu là cây tái sinh Vị trí và số lượng quần thể, cá thể Gù hương trong tự nhiên:

 VQG Ba Vì, Hà Tây có ở Sườn tây Đỉnh Vua với số lượng 5 cá thể (D1,3 < 20cm)

 KBT Thần Sa - Phượng Hoàng có phân bố tập trung ở các xã: Thần

Sa, Cúc Đường, Vũ Chấn, Thượng Nung, Sảng Mộc, Nghinh Tường (xóm Ngọc Sơn 2) khoảng 100 – 200 cá thể (chỉ toàn cây tái sinh)

 KBT Hang Kia – Pà Cò Phân bố rải rác trong KBT, có 2 – 3 cá thể/50ha (chỉ còn cây tái sinh chồi)

 VQG Cúc Phương Rải rác trong VQG có nhỏ hơn 60 cây

Nguyễn Anh Dũng (2013) [43] Tinh dầu Gù hương được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hóa mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm Từ safrol trong tinh dầu Gù hương ta có thể chuyển hóa thành isosafrol Và từ isosafrol có thể điều chế heliotropin, một hợp chất có giá trị tạo và gia tăng mùi trong công nghệ sản xuất nước hoa, dầu gội đầu, sữa tắm, hương vị salicylate trong nước giải khát hay bia, rượu

Trang 32

Tinh dầu còn được dùng làm thuốc xoa bóp, chữa thấp khớp, đau nhức

Lá dùng làm thuốc cầm máu, chữa đau dạ dày, phong thấp, mẩn ngứa ngoài

da Quả dùng chữa cảm, sốt, lỵ, ho gà

Lê Thị Thanh Hương và Cs (2013) [46] Gù hương (Cinnamomum

balansae) thuộc họ Long não (Lauraceae) Thân và lá có mùi thơm, chiều dài

cuống gần bằng chiều dài của lá, ngọn non hoặc cành non có màu nâu đỏ Theo kinh nghiệm của người Sán Chí ở đây thì thân cây được sử dụng làm một trong các vị thuốc của bài thuốc đặc trị thần kinh và chữa vôi hóa cột sống Hiện nay cây Gù hương còn lại rất ít do khai thác quá mức để lấy gỗ sử dụng và buôn bán

Nguyễn Văn Hải (2016) [47] “Thực trạng khai thác và sử dụng cây Gù

Hương Cinnamomum balansae H Lecomte tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ

Nhai tỉnh Thái Nguyên” tác giả đã nêu rõ công dụng của cây Gù Hương đồng thời tác giả cũng chỉ rõ đối tượng và mục đích khai thác ngoài ra tác giả đã nói lên hiện trạng của loài tại khu vực nghiên cứu như sau

Đỗ Mạnh Tuân và Cs (2010) [56] Do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua, cùng với các nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc

có chứa tinh dầu mọc tự nhiên ở rừng Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêm trọng Nhiều loài đã được cấp báo trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ

cây thuốc Việt Nam 2006, như Gù hương (Cinnamomum balansae); Vù hương (Cinnamomum parthenoxylon) Vì vậy, bảo vệ các loài cây thuốc này

đã trở thành yêu cầu cấp bách nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội hiện nay và tương lai

Trang 33

2.3 Tình hình tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Võ Nhai là một huyện vùng cao nằm về phía Đông - Bắc của tỉnh Thái Nguyên Cách TP Thái nguyên khoảng 40km về phía bắc có tọa độ địa lý

105051’05’’ đến 106008’38’’ kinh độ đông

21045’12’’ đến 21056’30’’ vĩ độ bắc

- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Tỉnh Lạng Sơn)

- Phía Tây giáp với huyện Đồng Hỷ và Huyện Phú Lương

- Phía Nam giáp với huyện Đồng Hỷ và Huyện Yên Thế (Tỉnh Bắc Giang)

- Phía Bắc giáp huyện Na Rì (Tỉnh Bắc Kạn)

Huyện Võ Nhai nằm ở vị trí tiếp giáp của 2 dãy núi cao – Dãy Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam đến Võ Nhai và Dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam cho nên huyện có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít Là huyện có địa hình phức tạp, phần lớn là diện tích vùng núi đá vôi (chiếm 92%) những vùng đất bằng phẳng, tiện cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ

Tiểu vùng I: Gồm 6 xã (Nghinh Tường, Thượng Nung, Cúc Ðường, Thần Sa, Vũ Chấn, Sảng Mộc), địa hình núi cao dốc, phần lớn là núi đá vôi (72%) độ dốc lớn (Đa phần từ 250 trở lên) Một số vùng phân bố dọc theo các khe suối và thung lũng có độ dốc từ 00 – 250 là vùng thích hợp để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp theo hướng nông, lâm kết hợp

Tiểu vùng II: Gồm 3 xã (La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng) và Thị Trấn Đình Cả có dạng địa hình thung lũng tương đối bằng phẳng chạy dọc theo quốc lộ 1b với hai bên là hai dãy núi cao có độ dốc lớn Đất đai của vùng

II đã sử dụng hầu hết vào nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 34

Tiểu vùng III: Gồm 5 xã (Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long, Phương Giao), có địa hình bát úp bị chia cắt nhiều bởi các khe suối, sông và xen lẫn núi đá vôi, các soi bãi ven sông địa hình thấp và tương đối bằng phẳng hơn các xã vùng I Độ dốc từ 10-200, có thể sử dụng phát triển cây hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả

2.3.1.1 Khí hậu

Mặc dù điều kiện địa hình phức tạp bởi có 3 vùng khác nhau nhưng điều kiện khí hậu tương đối đồng nhất Do nằm ở chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên khí hậu của huyện Võ Nhai chia làm hai mùa rõ rệt mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 đây là những tháng có mưa và nhiệt độ cao, nóng nhất là tháng 6 và 7 khoảng 27,90C Nhiệt độ cao tuyệt đối khoảng 39,50C, thấp tuyệt đối khoảng 30C (tháng 1) Vào mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau trời rét, nhiều khi có sương muối ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sự phát triển của cây, vật nuôi ảnh hưởng đến sản xuất, năng xuất và chất lượng sản phẩm

Lượng mưa hàng năm trung bình khoảng 1.941,5mm và phân bố không đều, lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng 372mm

2.4 Điều kiện về kinh tế - xã hội

2.4.1 Về kinh tế

Võ Nhai có các loại đất phù sa (1.816 ha, chiếm 2,15% diện tích); đất đen (935 ha chiếm 1,11% diện tích); đất xám bạc màu (63.917,7 ha chiếm 75,63% diện tích); các loại đất khác (11.070,4 ha chiếm 16,65% diện tích) Đất đai ở Võ Nhai phù hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp như: ngô, đỗ tương, thuốc lá, mía, lạc, chè…

Các loài cây lâm nghiệp đang được trồng nhiều hiện nay là: keo, mỡ, lát và một phần nhỏ các cây dược liệu khác

Ngày đăng: 12/01/2021, 08:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w