Kết quả nghiên cứu cho thấy giống dưa hấu Hắc Mỹ Nhân cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất ở công thức bón phân khoáng P1, trong khi hai giống còn lại gồm Ho[r]
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN ĐẾN BA GIỐNG DƯA HẤU
THỬ NGHIỆM TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
Trần Thị Hoàng Đông*, Trương Thị Ngọc Thúy
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
*Tác giả liên hệ: tranthihoangdong@huaf.edu.vn
TÓM TẮT Nghiên cứu được thực hiện tại xã Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong vụ Xuân Hè 2019 nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân khoáng đến sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của 3 giống dưa hấu thương mại trên thị trường Thí nghiệm 2 nhân tố bố trí theo kiểu ô lớn-ô nhỏ (Split-plot Design) gồm ba giống dưa hấu (Hắc Mỹ Nhân, Hoàn Châu và Phù Đổng) và 5 liều lượng phân khoáng P0 (không bón phân), P1 (120 kg N+100 kg P2O5+120 kg K2O/ha), P2 (120 kg N+100 kg
P2O5+120 kg K2O/ha), P3 (150 kg N+120 kg P2O5+150 kg K2O/ha) và P4 (180 kg N+140 kg
P2O5+180 kg K2O/ha) Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Kết quả nghiên cứu cho thấy giống dưa hấu Hắc Mỹ Nhân cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất ở công thức bón phân khoáng P1, trong khi hai giống còn lại gồm Hoàn Châu và Phù Đổng cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất ở công thức bón phân khoáng P2 Vì vậy, nông dân nên áp dụng lượng phân bón 120 kg N+100 kg P2O5+120 kg K2O/ha cho giống dưa hấu Hắc Mỹ Nhân để gia tăng hiệu quả kinh tế trong canh tác dưa hấu
Từ khóa: Dưa hấu, Hắc mỹ nhân, Năng suất, Phân khoáng, Sinh trưởng
EFFECTS OF DIFFERENT MINERAL FERTILIZER RATES ON THREE SELECTED WATERMELON CULTIVARS IN QUANG BINH PROVINCE
Tran Thi Hoang Dong, Truong Thi Ngoc Thuy University of Agriculture and Forestry, Hue University ABSTRACT
The study was conducted in Ham Ninh commune, Quang Ninh distict, Quang Binh province in the Spring-Summer 2019 crop to evaluate the effects of different mineral fertilizer rates on growth, yield and economic efficiency of three selected watermelon cultivars Two factors experiment was arranged in Split-plot Design including three watermelon cultivars (Hac My Nhan, Hoan Chau and Phu Dong) and five doses of mineral fertilizer of P0 (non-fertilizer), P1 (120 kg N+100 kg P2O5+120 kg K2O/ha), P2 (120 kg N+100 kg P2O5+ 120 kg
K2O/ha), P3 (150 kg N+120 kg P2O5+150 kg K2O/ha) and P4 (180 kg N+140 kg P2O5+180
kg K2O/ha) Each treatment was repeated 3 times The research results showed that Hac My Nhan cultivar had the highest yield (24,82 ton/ha) and economic efficiency in the formula of mineral fertilizer of P1 (120 kg N+100 kg P2O5+120kg K2O/ha) Meanwhile, Hoan Chau and Phu Dong cultivars showed that their highest yield and economic efficiency were in the formula of fertilizer treatment of P2 (90 kg N+80 kg P2O5+90 kg K2O/ha) Therefore, local farmers should apply the fertilizer amount of 120 kg N+100 kg P2O5+120 kg K2O/ha to Hac
My Nhan cultivar for economic efficiency growth in watermelon production
Keywords: Growth, Hac My Nhan, Mineral fertilizer, Watermelon, Yield
Trang 21 MỞ ĐẦU
Phân bón là một trong những yếu tố
quan trọng hàng đầu góp phần vào việc
nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng
của sản phẩm cây trồng nói chung và cây
dưa hấu nói riêng Cây dưa hấu (Citrulls
lanatus) chiếm vị trí quan trọng trong sản
xuất rau quả ở nhiều nước trên thế giới và
đã trở thành một loại cây trồng quen thuộc
ở Việt Nam Với thời gian cho quả nhanh,
năng suất cao, là loại quả có giá trị dinh
dưỡng và mang lại giá trị kinh tế, cây dưa
hấu đã và đang tham gia tích cực vào
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu
nhập, cải thiện cuộc sống cho người nông
dân
Cũng như các loại cây trồng khác,
phân bón là yếu tố rất cần thiết và quan
trọng để giúp tăng năng suất và chất lượng
dưa hấu bên cạnh hệ thống tưới tiêu và
điều kiện chăm sóc Hơn nữa, để nâng cao
hiệu lực sử dụng phân bón, thì việc bón
phân cân đối và hợp lý giữ vai trò quan
trọng và không thể tách rời những hiểu biết
cụ thể về điều kiện đất đai, khí hậu, cơ cấu
cây trồng và chủng loại cây trồng Kết quả
nghiên cứu của Sabo và cs (2013) về ảnh
hưởng của NPK và khoảng cách đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất của dưa hấu
tại Kaltungo, bang Gombe, Nigeria đã chỉ
ra rằng có sự gia tăng đáng kể về chiều dài
dây, số lượng lá, số lượng hoa trên mỗi cây
và trọng lượng quả cuối cùng của dưa hấu
khi áp dụng hỗn hợp phân bón NPK
(20:10:10) ở mức 150 kg/ha Sự tương tác
giữa mức phân bón 150 kg/ha và khoảng
cách 1 x 1,5 m cũng cho năng suất và hiệu
suất cao nhất Theo Lê Thị Khánh (2009),
dưa hấu cho năng suất cao nên yêu cầu
dinh dưỡng cao hơn những cây dưa khác,
pH thích hợp 6-7, yêu cầu 3 yếu tố NPK
cân đối Kết quả nghiên cứu tỷ lệ NPK bón
cho dưa hấu trên đất lúa 100 : 90 : 90
kg/ha, trên đất cát 120 : 140 : 90 kg/ha cho năng suất cao nhất
Tính đến năm 2017, tỉnh Quảng Bình có 1.366 ha trồng dưa hấu (Cục thống
kê tỉnh Quảng Bình, 2017) Tại xã Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh, cây dưa hấu bắt đầu được trồng phổ biến từ năm 2010 với diện tích gần 35ha và năng suất bình quân đạt 20-24 tấn/ha Các giống dưa được đưa vào trồng ở đồng đất Hàm Ninh là Hắc Mỹ Nhân, Hoàn Châu, Phù Đổng và Vinh Nông Hiện nay, quy trình bón phân cho dưa hấu tại tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Quảng Ninh nói riêng chủ yếu dựa trên quy trình kỹ thuật sản xuất dưa hấu của Bộ NN&PTNT Bên cạnh đó, theo Betero và cs (được trích dẫn bởi Đinh Thái Hoàng và cs., 2015), nhu cầu phân bón của các giống khác nhau là khác nhau Cho đến hiện tại các nghiên cứu về liều lượng phân bón cho dưa hấu phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, đất đai, trình độ sản xuất của người dân địa phương lại còn rất hạn chế Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân khoáng đến một số giống dưa hấu tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhằm góp phần làm cơ sở cho việc xác định công thức bón hợp lý cho một số giống dưa hấu và để khuyến cáo cho nông dân trồng dưa hấu ở địa phương giúp tăng năng suất
và chất lượng dưa hấu
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu Giống dưa hấu: nghiên cứu được tiến hành trên ba giống dưa hấu Hắc Mỹ Nhân (Công ty Trí Nông), Hoàn Châu và Phù Đổng (Công ty Syngenta)
Phân bón: nghiên cứu sử dụng các loại phân khoáng sau: Đạm Urê (46% N), Super lân (16,5% P2O5), Kali clorua (60%
K2O); phân chuồng đã được nông dân ủ
Trang 3hoai mục (Phân bò ủ theo phương pháp ủ
nóng)
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí trên nền đất
thịt nhẹ trồng lúa một vụ tại xã Hàm Ninh,
huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong
vụ Xuân Hè 2019 (từ tháng 3/2019-tháng
5/2019)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí
theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (Split- plot
design)) Nhân tố lượng phân bón bố trí
trên ô nhỏ và nhân tố giống dưa hấu bố trí
trên ô lớn Tổng cộng có 15 nghiệm thức
và 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức Mỗi
lô thí nghiệm có tổng diện tích 25 m2 (5 m
dài x 5 m rộng) Các giống dưa hấu được
thử nghiệm là Hắc Mỹ Nhân (G1), Hoàn
Châu (G2), Phù Đổng (G3) Các nghiệm
thức bón phân trong nghiên cứu cụ thể như sau:
NT1: Đối chứng (không bón phân khoáng) (P0)
NT2: 120 kg N + 100 kg P2O5 + 120
kg K2O/ha (công thức phân bón khuyến cáo của Bộ NN&PTNT, năm 2012) (P1) NT3: 90 kg N + 80 kg P2O5 + 90 kg
K2O/ha (P2) NT4: 150 kg N + 120 kg P2O5 + 150
kg K2O/ha) (P3) NT5: 180 kg N + 140 kg P2O5 + 180
kg K2O/ha (P4) Các nghiệm thức bón phân khoáng được bón phân chuồng hoai mục với liều lượng 15 tấn/ha
Thời gian bón phân được trình bày trong Bảng 1
Bảng 1 Lịch bón phân cho dưa hấu (từ tháng 3-5/2019)
Làm đất và gieo hạt: Đất được cày
bừa kỹ, san phẳng mặt ruộng, sạch cỏ dại
và đảm bảo độ ẩm đất lúc gieo khoảng 75 -
80% độ ẩm tối đa đồng ruộng Dưa hấu
được trồng theo luống đôi, trồng 2 hàng so
le với mật độ cây cách cây 0,4 m Khoảng
cách giữa các lần nhắc lại 0,5 m Luống
trồng dưa hấu được phủ bằng màng phủ
nilon Hạt giống được ngâm trong nước
sạch và ấm 35-40oC khoảng 3-4 giờ, ủ nứt
nanh thì đem gieo Mỗi hốc gieo từ 2 đến 3
hạt Khi cây được 2-3 lá thật thì tiến hành
tỉa định cây chỉ để 1 cây/hốc
Chăm sóc: Thường xuyên làm cỏ,
cắt chồi ngọn khi đã định hình số quả/cây,
tỉa bỏ chồi phụ chỉ để 2-3 nhánh/cây, cố
định dây đã trưởng thành phân bố đều trên
mặt luống Trải đều trên mặt luống một lớp
rơm rạ để đỡ quả và hạn chế cỏ dại Chỉ để
2 quả/cây từ khi chọn và cố định quả Giữ
độ ẩm đất khoảng từ 70% đến 75% độ ẩm tối đa đồng ruộng Thường xuyên theo dõi sâu bệnh, phòng trừ sâu bệnh và sử dụng thuốc hoá học theo hướng dẫn của ngành Bảo vệ thực vật
Thu hoạch: Khi dưa hấu chín chọn ngày nắng ráo để thu hoạch Cách nhận biết: Dựa vào thời gian sinh trưởng của giống, tuổi quả (25-30 ngày sau khi đậu quả tùy giống và vụ trồng) hoặc theo khuyến cáo của tác giả giống
Các chỉ tiêu theo dõi:
Chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển, năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh
và chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác
và sử dụng giống dưa hấu (QCVN
Trang 401-91:2012/BNNPTNT) [1] Định cây theo
dõi khi cây bắt đầu bò Mỗi ô thí nghiệm
chọn 5 cây theo dõi theo nguyên tắc 2
đường chéo góc
+ Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển:
thời gian từ gieo đến khi thu hoạch, chiều
dài cành cấp 1 và đường kính thân ở thời
điểm thu hoạch, số lá còn lại trên cây sau thu hoạch, số hoa và tỷ lệ hoa theo dõi từ khi trên cây bắt đầu ra hoa cho đến khi chọn quả, bấm ngọn Khả năng chống chịu đối với sâu vẽ bùa, sâu xanh da láng và bênh giả sương mai được theo dõi theo quy chuẩn Bảng 2
Bảng 2 Một số đối tượng sâu bệnh hại trên dưa hấu và phương pháp đánh giá
Đối tượng
sâu, bệnh hại
Giai đoạn bị hại
Đơn vị
Phương pháp đánh giá Bệnh giả
sương mai
(Pseudopero
nospora
cubensis)
Cây con và
trước thu
hoạch
%
- Không nhiễm
- Nhiễm nhẹ (nhỏ hơn 20% diện tích thân, lá hoặc quả nhiễm bệnh)
- Nhiễm trung bình (khoảng 20 đến 40%
thân, lá hoặc quả nhiễm bệnh)
- Nhiễm nặng (hơn 40% diện tích thân, lá hoặc quả nhiễm bệnh)
Quan sát và đếm cây bị bệnh/ô
Sâu vẽ bùa
(Liriomyza
triofoli)
Từ mọc mầm
đến khi ra hoa
Lá bị hại/m 2 Các lá bị sâu vẽ bùa gây hại
Điều tra theo
5 điểm chéo góc với khung (1x1m)
Sâu xanh da
láng
(Diaphania
indica)
Từ giai đoạn
bắt đầu ra hoa
trở về sau
Con/m 2 Các lá non có sâu gây hại
+ Năng suất và các yếu tố cấu thành
năng suất: Cân khối lượng của 10 quả trên
ô thí nghiệm và tính khối lượng quả trung
bình Pquả (kg/quả) Năng suất lỹ thuyết
được tính theo công thức: NSLT (tấn/ha) =
Số cây/ha x số quả/cây x Pquả x 1000 Năng
suất thực thu được tính bằng cách cân năng
suất của 3 lần nhắc lại rồi chia trung bình
và quy ra năng suất/ha
+ Chỉ tiêu về chất lượng quả: Chiều
dài quả bình quân (cm), đường kính quả
(cm), độ dày cùi (cm), độ dày thịt quả
(cm): Mỗi giống lấy 5 quả để đo đếm các
chỉ tiêu này Độ Brix (%): Sử dụng khúc
xạ kế đo độ ngọt Antago N-1α (Brix
0-32%), chiết nước thịt quả nhỏ vào khúc xạ
kế và ghi giá trị hiển thị trên đó Phương
pháp đánh giá chất lượng cảm quan: bổ
dọc quả và quan sát, thử nếm, có ít nhất 5
người tham gia thử và cho điểm gồm chất
lượng thử nếm (3: ít ngọt; 5: ngọt và 7: rất
ngọt), độ cát (1: không có; 3: ít; 5: trung
bình; 7: nhiều), màu sắc thịt quả (1: trắng; 2: vàng; 3: da cam; 4: đỏ; 5: tím)
+ Hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận =
Tổng thu - Tổng chi Trong đó, tổng thu
= Sản lượng x giá bán sản phẩm theo thời điểm thu hoạch; tổng chi = Chi phí vật tư đầu vào (giống + phân bón + thuốc BVTV) + công lao động VCR (tỷ suất lợi nhuận) = tổng thu tăng lên do bón phân chia cho tổng chi tăng lên do bón phân, nếu VCR > 2 thì đầu tư phân bón có lãi, nếu VCR > 3 thì nông dân chấp nhận đầu
tư phân bón
Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê với phân tích ANOVA 2 nhân tố bằng phần mềm Statistix 10.0
Trang 53 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón
đến các chỉ tiêu sinh trưởng của 3 giống
dưa hấu thử nghiệm
Kết quả trình bày ở Bảng 3 cho thấy
thời gian sinh trưởng của các giống không
bị ảnh hưởng bởi các liều lượng phân
khoáng khác nhau Các giống dưa hấu thử
nghiệm đều là những giống ngắn ngày,
thời gian sinh trưởng dao động từ 54 - 55
ngày sau khi trồng đối với giống Phù Đổng
và giống Hắc Mỹ Nhân, trong khi giống
Hoàn Châu có thời gian dao động từ 56 -
57 ngày sau khi trồng Kết quả phân tích
thống kê cho thấy giữa các nghiệm thức
không có sự khác biệt ý nghĩa đối với chỉ
tiêu về thời gian sinh trưởng
Đối với chỉ tiêu chiều dài cành cấp 1 cho thấy cả 3 giống dưa hấu nghiên cứu đều cho chiều dài cành cấp 1 cao nhất ở 2 nghiệm thức phân bón cao nhất là P3 và P4, tiếp đến là P1 và P2 và thấp nhất ở nghiệm thức P0 Về mặt thống kê, chiều dài cành cấp 1 ở các nghiệm thức phân bón P3 và P4 có sự khác biệt ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại (P<0,05) Ngoài ra, có
sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa ba giống thử nghiệm về chiều dài cành cấp 1 khi so sánh trong cùng một nghiệm thức phân bón Trong đó, giống Phù Đổng có chiều dài cành cấp 1 luôn cao hơn so với giống Hắc Mỹ Nhân và Hoàn Châu và khác biệt ở mức ý nghĩa 95% (Bảng 2)
Bảng 3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng của ba giống dưa hấu
Nghiệm
thức
Chiều dài cành
cấp 1(cm)
Đường kính thân (mm)
Tỷ lệ hoa cái/cây (%)
Số lá xanh còn lại (lá)
Thời gian sinh trưởng (ngày sau trồng)
LSD 0,05 11,09 0.30 1,25 1,01 -
P: các liều lượng phân khoáng; G: giống dưa hấu Các số có chữ cái theo sau khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép kiểm định Anova 2 nhân tố (P<0,05)
Đường kính thân của các giống dưa
hấu thử nghiệm đều đạt cao nhất ở nghiệm
thức phân bón P3 và P4, tiếp đến là
nghiệm thức phân bón P1 và thấp nhất ở
nghiệm thức phân bón P2 và P0 Kết quả
thống kê cho thấy không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê ở mức 5% (P<0,05) về
đường kính thân giữa các nghiệm thức phân bón P1, P3 và P4 cũng như giữa P0
và P2 (Bảng 3) Ngoài ra, trong cùng một nghiệm thức phân bón thử nghiệm, giống Phù Đổng có đường kính thân lớn nhất, dao động từ 9,46 - 10,7 mm, kế đến là giống Hắc Mỹ Nhân, dao động từ 9,11 -
Trang 610,01 mm và thấp nhất là giống Hoàn
Châu, dao động từ 9,01 - 9,66 mm Nhìn
chung, đường kính thân của các giống dưa
hấu có sự khác biệt về mặt thống kê khi so
sánh với nhau trong cùng một công thức
phân bón
Kết quả trình bày ở Bảng 3 cũng cho
thấy không có sự khác biệt thống kê của chỉ
tiêu tỷ lệ hoa cái trên cây giữa các giống
dưa hấu thử nghiệm ở tất cả các nghiệm
thức phân bón P0, P1, P2, P3 và P4 Tỷ lệ
hoa cái trên cây ở các nghiệm thức thí
nghiệm nhìn chung không có sự chênh
lệch quá lớn, dao động từ 20,11 - 23,89%,
tỷ lệ này khá tương đồng với nhận định
“Cứ 5 - 7 hoa đực thì có một hoa cái” của
Nguyễn Văn Trương và Trịnh Văn Thịnh
(1991)
Đối với chỉ tiêu số lá xanh còn lại
trên cây sau thu hoạch cũng đạt cao nhất ở
công thức phân bón P4 Ở nghiệm thức
phân bón này, số lá xanh còn lại trên cây
sau thu hoạch đối với giống Phù Đổng là
37,67 lá, tiếp theo là giống Hắc Mỹ Nhân
(36,27 lá), và giống Hoàn Châu (35,40 lá),
tuy nhiên, các giống dưa hấu khác nhau có
sự chênh lệch về số lá xanh còn lại trên cây sau thu hoạch không đáng kể (Bảng 3) 3.2 Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón đến tình hình nhiễm sâu bệnh hại của 3
giống dưa hấu thử nghiệm
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của các nghiệm thức phân bón đến tình hình nhiễm sâu bệnh hại của ba giống dưa hấu thử nghiệm được trình bày ở Bảng 4 cho thấy các nghiệm thức phân bón khác nhau có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tấn công của sâu vẽ bùa khi so sánh các nghiệm thức bón phân khác nhau trong cùng một giống dưa hấu Cụ thể là sâu vẽ bùa gây hại nhiều nhất ở các nghiệm thức bón phân hóa học cao ở nghiệm thức phân bón P3 và P4, tiếp đến là P1 và P2 và thấp nhất ở P0 Tuy nhiên, không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về số lá bị sâu vẽ bùa tấn công (lá
bị hại/m2) giữa nghiệm thức phân bón P1
và P2 và giữa P3 và P4 ở mức P<0,05 Ngoài ra, trong cùng một nghiệm thức phân bón, giống dưa hấu Phù Đổng có số
lá bị sâu vẽ bùa gây hại thấp nhất và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với hai giống còn lại
Bảng 4 Tình hình gây hại của sâu và bệnh hại chính trên ba giống dưa hấu ở các liều lượng phân bón
Nghiệm thức Sâu vẽ bùa(lá bị hại/m 2 ) Sâu xanh da láng
(con/m 2 )
Bệnh giả sương mai (%)
P: các liều lượng phân khoáng; G: giống dưa hấu TLB: tỷ lệ bệnh; CSB: chỉ số bệnh; Các số có chữ cái theo sau khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép kiểm định Anova 2 nhân tố (P<0,05)
Trang 7Đối với chỉ tiêu về sâu xanh da láng
(SXDL), kết quả điều tra cho thấy giống
Hắc Mỹ Nhân bị SXDL tấn công nhiều
nhất ở công thức phân bón P3 (3,60
con/m2) và thấp nhất ở nghiệm thức phân
bón P1 (0,06 con/m2) và có sự khác biệt có
ý nghĩa giữa P1 với các nghiệm thức bón
phân còn lại (P < 0,05) Trong khi đó,
giống Hoàn Châu lại bị SXDL tấn công
nhiều nhất ở nghiệm thức phân bón P1
(3,73 con/m2) và thấp nhất ở P2 (1,40
con/m2) và P3 (1,73 con/m2), tuy nhiên,
mật số SXDL của 2 nghiệm thức bón phân
này không khác biệt nhau về mặt thống kê
Số liệu Bảng 4 còn cho thấy giống Hắc Mỹ
Nhân có mật độ SXDL cao hơn các giống
khác khi so sánh với nhau ở cùng 1 nghiệm
thức bón phân và không có sự khác biệt ý
nghĩa được tìm thấy khi so sánh mật độ
SXDL giữa các nghiệm thức phân bón P0,
P2 và P4
Đối tượng bệnh hại chủ yếu trên các
giống dưa hấu thử nghiệm được quan sát là
bệnh giả sương mai Trong đó, TLB và
CSB giữa các giống không khác biệt nhau
về mặt thống kê khi so sánh ở cùng 1 nghiệm công thức phân bón Cả ba giống dưa hấu đều có TLB thấp nhất ở nghiệm thức không bón phân (P0) Đối với giống Hắc Mỹ Nhân, các nghiệm thức phân bón thử nghiệm không ảnh hưởng đến TLB sương mai, trong khi đó, giống Hoàn Châu
và Phù Đổng có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) giữa P0 với các nghiệm thức phân bón còn lại CSB sương mai của các nghiệm thức phân bón P1, P3
và P4 không khác biệt đối với cả 3 giống dưa hấu (Bảng 4)
3.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của ba giống dưa hấu thử nghiệm
Năng suất là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất, phản ánh toàn diện các quá trình sinh trưởng, phát triển của cây dưa hấu Năng suất được quyết định bởi các yếu tố cấu thành bao gồm: mật độ, số quả/cây và khối lượng quả (Pquả)
Bảng 5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của ba giống dưa hấu ở các liều lượng phân bón
Mật độ (cây/ha) Số quả/cây (quả) P quả (kg/quả)
P: các liều lượng phân khoáng; G: giống dưa hấu NSLT = Năng suất lý thuyết; NSTT = Năng suất thực tế; Các số có chữ cái theo sau khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép kiểm định Anova 2 nhân tố (P<0,05)
Trang 8Đối với Pquả, các nghiệm thức không
bón phân gồm G2P0 (0,72 kg), G1P0 (0,75
kg), G3P0 (0,79 kg) lần lượt cho khối
lượng quả thấp nhất và có sự sai khác với
các nghiệm thức còn lại Nhìn chung, khi
tăng liều lượng phân bón giúp khối lượng
quả tăng lên, tuy nhiên, không có sự khác
biệt ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức
phân bón P1 và P3 ở giống Hoàn Châu và
Phù Đổng Ở giống Hắc Mỹ Nhân khối
lượng quả của nghiệm thức P1, P3 và P4
tương đương nhau và không khác biệt ý
nghĩa thống kê Ngoài ra, trong 3 giống
dưa hấu thử nghiệm, giống Hoàn Châu có
khối lượng quả thấp nhất ở tất cả các
nghiệm thức phân bón và có sự sai khác
với hai giống còn lại (Bảng 5)
Kết quả ở Bảng 5 cho thấy các
nghiệm thức phân bón khác nhau ảnh
hưởng đến năng suất thực tế (NSTT) của
ba giống dưa hấu thử nghiệm NSTT của
các giống dưa hấu tăng lên theo tỷ lệ thuận
với liều lượng phân khoáng được bón vào
Cụ thể, NSTT đạt cao nhất ở nghiệm thức
phân bón cao nhất P4 với 27,69 tấn/ha đối
với Hắc Mỹ Nhân, 23,10 tấn/ha đối với
giống Hoàn Châu và 28,22 tấn/ha đối với
giống Phù Đổng Kết quả cũng cho thấy có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
giữa nghiệm thức không bón phân (P0) với
các nghiệm thức phân bón còn lại Trong
ba giống dưa hấu được thử nghiệm, giống
Phù Đổng cho NSTT cao nhất, tiếp đến là
Hắc Mỹ Nhân và NSTT thấp nhất ở giống
Hoàn Châu
3.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chất lượng quả của 3 giống dưa hấu thử nghiệm
Bên cạnh năng suất, chất lượng quả cũng là một vấn đề được quan tấm rất nhiều trong sản xuất dưa hấu hiện nay để tạo nên thương hiệu hàng hóa cho sản phẩm Kết quả trình bày ở Bảng 6 cho thấy đối với Hắc Mỹ Nhân và Hoàn Châu: chiều dài quả sẽ tăng lên khi tăng liều lượng phân bón, trong đó, chiều dài quả đạt cao nhất ở nghiệm thức phân bón P4, tiếp đến là P3, P1, P2 và P0 Trong ba giống dưa hấu thử nghiệm, giống Phù Đổng cho chiều dài quả lớn nhất, dao động
từ 16,63 - 27,89 cm, kế đến là giống Hắc
Mỹ Nhân, dao động từ 15,99-26,12 cm và giống Hoàn Châu có chiều dài quả ngắn nhất, dao động từ 14,51 -25,33 cm, tương ứng với nghiệm thức bón phân P0 và P4 Kết quả thống kê cho thấy có sự khác biệt
ý nghĩa về chiều dài quả giữa giống Phù Đổng với hai giống còn lại khi so sánh với nhau trong cùng một nghiệm thức phân bón (ngoại trừ P4) ở mức ý nghĩa 95%
Trang 9Bảng 6 Chất lượng quả của ba giống dưa hấu thử nghiệm ở các công thức liều lượng phân bón
Nghiệm
thức
Chiều dài quả (cm)
Đường kính quả (cm)
Độ dày thịt quả (cm)
Độ dày cùi (cm)
Độ Brix (%)
Màu sắc thịt quả
Độ cát
Chất lượng thử nếm
P: các liều lượng phân khoáng; G: giống dưa hấu; Các số có chữ cái theo sau khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép kiểm định Anova 2 nhân tố (P<0,05)
Tăng liều lượng phân khoáng dẫn
đến đường kính quả của ba giống dưa hấu
thử nghiệm đều tăng lên, trong đó, đường
kính quả giữa 3 giống dưa hấu thử nghiệm
ở nghiệm thức phân bón P1 và P3 không
có sự khác biệt ý nghĩa thống kê khi so
sánh với nhau Khi so sánh trong cùng 1
nghiệm thức phân bón hóa học, giống Hắc
Mỹ Nhân có đường kính quả lớn nhất, kế
đến là giống Phù Đổng và thấp nhất là
giống Hoàn Châu và có sự khác biệt ý
nghĩa thống kê giữa các giống khi so sánh
với nhau ở hầu như các nghiệm thức phân
bón thử nghiệm
Độ dày thịt quả và độ dày cùi có sự
khác biệt ý nghĩa thống kê (P < 0,05) giữa
các giống dưa hấu Kết quả trình bày ở
Bảng 6 cho thấy: độ dày thịt quả tăng lên
khi tăng liều lượng phân khoáng Trong 3
giống thử nghiệm, giống Hắc Mỹ Nhân có
độ dày thịt quả lớn nhất (7,93-12,90 cm),
kế đến là giống Phù Đổng (7,50-12,58 cm)
và thấp nhất là giống Hoàn Châu (7,57-
11,6 cm) Về độ dày cùi, giống Phù Đổng
(1,11-1,17 cm) có độ dày cùi lớn nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với hai giống dưa hấu còn lại là Hắc Mỹ Nhân (0,97-1,02 cm) và Hoàn Châu (0,96- 1,04 cm) Chúng tôi nhận thấy, tất cả các nghiệm thức thí nghiệm đều cho quả có độ ngọt thấp hơn so với đặc tính của giống (Giống Hắc Mỹ Nhân và giống Hoàn Châu
có độ Brix từ 12 - 14%, giống Phù Đổng từ
13 - 14%) Nguyên nhân của điều này một phần là do giai đoạn sắp thu hoạch thời tiết
có mưa nhiều nên không thể ngưng tưới vài ngày trước khi thu để bảo đảm độ ngọt của quả như đặc tính của giống
Các nghiệm thức phân bón khác nhau cũng ảnh hưởng đến độ Brix của các giống dưa hấu thử nghiệm với kết quả cho thấy sự khác biệt ý nghĩa thống kê khi so sánh với nhau, trong đó, những nghiệm thức không bón phân có độ Brix thấp nhất như: G3P0 (7,89%), G2P0 (8,47%) và G1P0 (8,60%) Độ Brix tăng lên khi lượng phân bón tăng lên và đạt cao nhất ở nghiệm thức phân bón P4 với 12,13% ở
Trang 10giống Hắc Mỹ Nhân, 11,73% ở giống
Hoàn Châu và 10,96% ở giống Phù Đổng
Cả 3 giống dưa hấu có sự khác biệt với
nhau về độ Brix (P < 0,05) khi so sánh với
nhau ở 2 nghiệm thức phân bón P1 và P3
Ngoài ra, kết quả còn cho thấy, cùng 1
nghiệm thức phân bón, giống dưa hấu Hắc
Mỹ Nhân có độ Brix cao nhất, dao động từ
8,60-12,13%, kế đến là Hoàn Châu
(8,47-11,73%) và thấp nhất là Phù Đổng
(7,89-10,96%) và khác biệt thống kê khi so sánh
với nhau (P < 0,05) Bên cạnh đó, tất cả
các nghiệm thức phân bón thử nghiệm đều
cho độ ngọt thấp hơn so với đặc tính của
giống (Hắc Mỹ Nhân và Hoàn Châu có độ
Brix từ 12-14%, giống Phù Đổng từ
13-14%) Nguyên nhân của điều này một phần
là do giai đoạn sắp thu hoạch có mưa nhiều
nên dẫn đến độ Brix của quả dưa hấu
không đạt được như đặc tính của giống quy
định
Từ kết quả đánh giá chất lượng cảm
quan cho thấy trồng dưa hấu không bón
phân sẽ làm giảm chất lượng của các giống
dưa hấu Về màu sắc thịt quả, nghiệm thức
không bón phân (P0) có chất lượng thấp
nhất (điểm 3) trong khi các nghiệm thức
phân bón còn lại đều đạt điểm 4 Về độ cát,
thấp nhất vẫn là ở nghiệm thức không bón
phân với điểm 1 cho giống Hắc Mỹ Nhân
và Hoàn Châu, điểm 3 cho giống G3 Về
chất lượng nếm thử, kết quả cho thấy quả ít
ngọt nhất ở các nghiệm thức không bón
phân (điểm 3), trong khi các giống Hắc Mỹ
Nhân và Hoàn Châu đạt vị ngọt cao nhất
(điểm 7) ở các nghiệm thức phân bón P1,
P3 và P4, trong khi đó giống Phù Đổng chỉ
đạt điểm 7 ở 2 nghiệm thức phân bón P3
và P4
3.5 Hiệu quả kinh tế ở các liều lượng phân bón trên ba giống dưa hấu thử nghiệm
Trong thí nghiệm phân bón, VCR (Value cost ratio-Tỷ suất lợi nhuận) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh
tế, giúp người sản xuất quyết định có nên bón phân hay không Kết quả tính toán VCR của các công thức phân bón cho ba giống dưa hấu được trình bày ở Bảng 7 cho thấy đối với giống Hắc Mỹ Nhân, nghiệm thức phân bón P1 (120 N+100
P2O5 +120 K2O/ha) có VCR đạt cao nhất với 15,85 lần, tiếp đến là nghiệm thức phân bón P2 (90 N+80 P2O5+90 K2O/ha) với 15,72 lần Kết quả còn cho thấy, việc
sử dụng nghiệm thức phân bón cao hơn so với nghiệm thức phân bón khuyến cáo (ở P3 và P4) đã làm giảm VCR
Đối với giống Hoàn Châu, VCR đạt cao nhất ở nghiệm thức phân bón P2 (90 N+ 80 P2O5+90 K2O/ha) với 11,17 lần Qua kết quả ở Bảng 7 cho thấy VCR ở nghiệm thức phân bón P1 đạt 9,63 lần, kế đến là P4 (9,97 lần), trong khi P3 đạt 7,93 lần
Đối với giống Phù Đổng, ở nghiệm thức phân bón P2 (90 N+80 P2O5+90
K2O/ha) cho VCR cao nhất với giá trị đạt 16,30 lần, kế đến là P1 (120 N+100 P2O5+
120 K2O/ha) đạt 15,04 lần Cả 2 nghiệm thức phân bón này đều có VCR cao hơn so với nghiệm thức phân bón P3 và P4 Rõ tàng, việc tăng nghiệm thức phân bón cao hơn nhiều so với nghiệm thức khuyến cáo
sẽ làm giảm hiệu quả kinh tế canh tác dưa hấu