1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Hoàn thiện công tác phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt

19 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 391,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Về hệ thống văn bản pháp luật: (1) Luật PCRT chưa có quy định về việc phân loại rủi ro đối với GD, bên cạnh đó, quy định chỉ đưa ra tên 4 nhóm tiêu chí phải sử dụng để phân loại mức [r]

Trang 1

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học công nghệ đã và đang mang lại nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng mở ra nhiều nguy cơ, thách thức đối với nền kinh tế nói chung, ngành ngân hàng nói riêng Trong đó, một trong những thách thức hàng đầu đang thu hút được sự quan tâm của các cơ quan chức năng có thẩm quyền và các ngân hàng chính là vấn đề AML & CFT Đứng trước thực trạng trên cùng với các tác hại của rửa tiền đối với nền kinh tế, với vấn đề an ninh hoà bình của thế giới nói chung và các quốc gia nói riêng, chính phủ các nước, các Ngân hàng trên toàn thế giới đã và đang nỗ lực không ngừng trong cuộc chiến chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố Đứng trước

xu thế chung của hệ thống ngân hàng thế giới và trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế Việt Nam thì các Ngân hàng Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc chiến trên nếu muốn tồn tại và phát triển Tuy nhiên, vấn đề triển khai PCRT hiệu quả và đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế hiện đang là vấn đề nan giải đòi hỏi sự đầu tư lớn về cả con người, thời gian và vật chất từ Ngân hàng của Việt Nam

Với mong muốn góp phần hỗ trợ ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt phát triển

ổn định, an toàn và bền vững trên thị trường, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác Phòng, chống rửa tiền tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt” để nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, các văn bản quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế và thực tế triển khai tại một số Ngân hàng trên thế giới kết hợp với việc phân tích, đánh giá thực trạng triển khai công tác PCRT và định hướng của Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, tác giả đã đưa ra một số vấn đề còn tồn tại, các điểm chưa hoàn thiện trong công tác PCRT, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác PCRT tại Ngân hàng, hỗ trợ LienVietPostBank phát triển an toàn theo đúng chiến lược kinh doanh mà Ban lãnh đạo ngân hàng đã đề ra

Trang 2

CHƯƠNG 1: PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về hoạt động rửa tiền

- Khái niệm: Rửa tiền là hoạt động chuyển lợi nhuận thu được từ các hoạt động bất hợp pháp sang thành hợp pháp

- Quy trình rửa tiền điển hình gồm 3 giai đoạn: Sắp đặt, Sắp lớp, Hoà nhập

- Các phương thức rửa tiền:

+ Về mặt không gian, rửa tiền thể hiện dưới 5 phương thức

+ Về các lĩnh vực và hành vi thực hiện thì các phương thức rửa tiền của các đối tượng tội phạm ngày càng tinh vi và đa dạng Tuy nhiên, có thể đúc kết qua 8 phương thức cơ bản

- Ảnh hưởng của rửa tiền đến các hoạt động kinh tế, xã hội: Các ảnh hưởng chủ yếu bao gồm: (1) Làm tăng tội phạm và tham nhũng; (2) Làm suy yếu hệ thống tài chính; (3) Làm giảm khả năng tiếp cận thị trường và tăng chi phí cho hoạt động kinh doanh quốc tế và đầu tư nước ngoài; (4) Gây tổn thương nền kinh tế và khu vực kinh tế tư nhân, (5) Giảm hiệu quả tư nhân hoá

1.2 Phòng chống rư ̉ a tiền tại Ngân hàng thương mại

- Khái niệm: PCRT của NHTM là quá trình sử dụng các biện pháp, chiến lược và phương tiện, nguồn lực cần thiết nhằm phòng ngừa và ngăn chặn hành vi lợi dụng các sản phẩm, dịch vụ tại Ngân hàng để phục vụ cho mục đích rửa tiền

- Nội dung về PCRT của NHTM

+ Nhận biết KH: là một quy trình khép kín, liên tục với 3 giai đoạn chính: Thu thập thông tin KH, xác minh KH và cập nhật thông tin KH

+ Sàng lọc KH theo danh sách đen, danh sách cảnh báo và cấm vận: Là hoạt động nhằm đảm bảo Ngân hàng có thể phát hiện và xử lý kịp thời khi KH hoặc các bên liên quan đến GD thuộc danh sách đen, danh sách cảnh báo hoặc thuộc các chương trình cấm vận

+ Phân loại KH theo mức độ rủi ro: Là hoạt động phân loại mức độ rủi ro rửa tiền

Trang 3

của các KH để làm cơ sở quyết định phạm vi cung ứng sản phẩm, dịch vụ hoặc mức độ giám sát đối với KH và GD của KH

+ Giám sát KH và GD: Là hoạt động theo dõi, phân tích các hoạt động và biến động về thông tin và GD của KH nhằm phát hiện các dấu hiệu bất thường cho thấy nguy

cơ Ngân hàng bị KH lợi dụng để rửa tiền

+ Báo cáo trong hoạt động PCRT: Là hoạt động quan trọng trong công tác PCRT

và chống TTKB tại các quốc gia và đã được đưa vào trong 40 khuyến nghị của FATF về PCRT

- Các tiêu chí đánh giá công tác PCRT của NHTM: đánh giá tính hoàn thiện

và hiệu quả của công tác PCRT tại NHTM căn cứ trên các tiêu chí sau:

+ Tính đầy đủ của hệ thống văn bản quy định về PCRT;

+ Tính hoàn thiện về các văn bản quy định về PCRT, văn bản nội bộ;

+ Tính hoàn thiện trong mô hình tổ chức, quản trị trong PCRT;

+ Tính đầy đủ và chặt chẽ trong công tác nhận biết KH, chủ sở hữu hưởng lợi; + Tính đầy đủ của công tác đánh giá mức độ rủi ro;

+ Tính phù hợp, đầy đủ của hệ thống giám sát KH, GD;

+ Tính hoàn thiện của công tác quản lý thông tin;

+ Tính đầy đủ, kịp thời, hiệu quả trong công tác báo cáo trong PCRT;

+ Tính hoàn thiện trong công tác tuyên truyền và đào tạo;

+ Tính hoàn thiện của hệ thống CNTT hỗ trợ công tác PCRT

+ Tính hoàn thiện của các biện pháp PCRT triển khai tại đơn vị thuê ngoài thực hiện các chức năng tại Ngân hàng (Tiêu chí này chỉ được áp dụng khi Ngân hàng có thuê một đơn vị bên ngoài thực hiện các chức năng của mình)

(Mỗi tiêu chí được liệt kê ở trên sẽ có một bảng thang đo chi tiết cấu thành từ nhiều nhân tố Tại bài nghiên cứu này, tác giả chỉ trình bày thang đo phổ biến đang được các các Ngân hàng trên thế giới áp dụng trong quá trình đánh giá về công tác PCRT)

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác Phòng, chống rửa tiền tại Ngân hàng

- Nhân tố khách quan, gồm: (1) Đặc điểm kinh tế - xã hội của quốc gia; (2) Hệ thống văn bản pháp luật, (3) Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia

Trang 4

- Nhân tố chủ quan:

+ Chiến lược kinh doanh và quản trị nội bộ: Đây là một yếu tố mang tính định hướng và quyết định khung PCRT tại một Ngân hàng

+ Nguồn nhân lực: Là một trong những yếu tố trọng yếu hàng đầu

+ Công nghệ thông tin: Đã trở thành một trong các yếu tố được sử dụng làm thang đo để đánh giá mức độ an toàn của các Ngân hàng về công tác PCRT, đặc biệt là khi thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý

+ Tiềm lực tài chính: Là yếu tố quyết định mức độ đầu tư cho hoạt động PCRT của các Ngân hàng

1.4 Kinh nghiệm phòng, chống rửa tiền của một số ngân hàng thương mại trên thế giới hiện nay và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Từ kinh nghiệm triển khai PCRT của Wells Fargo và HSBC cho thấy để triển khai hiệu quả công tác PCRT cần:

- Xây dựng hệ thống văn bản quy định nội bộ về PCRT trên cơ sở các quy định của pháp luật và các tiêu chuẩn quốc tế

- Lựa chọn mô hình quản trị phù hợp trong công tác PCRT

- Tăng cường hoạt động đào tạo và tuyên truyền trong công tác PCRT

- Có hệ thống giám sát KH, GD phù hợp với quy mô, hoạt động kinh doanh cũng như các rủi ro hiện hữu của mình và phải thiết lập hoạt động giám sát tăng cường đối với các KH và GD có mức độ rủi ro cao

- Đầu tư hệ thống Ngân hàng lõi và giải pháp PCRT tự động từ các nhà cung cấp chuyên nghiệp để hỗ trợ hiệu quả cho công tác PCRT

- Chú trọng đầu tư cho lực lượng nhân sự thực hiện công tác PCRT

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG RỬA

TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT

2.1 Khái quát về Ngân ha ̀ng TMCP Bưu điê ̣n Liên Viê ̣t

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt được thành lập và đi vào

Trang 5

hoạt động từ năm 2008 theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 91/GP-NHNN ngày 28/03/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam Sau hơn 8 năm phát triển ngân hàng đã không ngừng phát triển và lớn mạnh, vốn điều lệ tăng từ 3.300 tỷ đồng lên 6.460 tỷ đồng (2015); Tổng tài sản tăng từ 7.453 tỷ đồng lên 105.587 tỷ đồng (2015); Mạng lưới tại Ngân hàng được mở rộng tới 131 Chi nhánh/Phòng giao dịch

2.2 Thực trạng công tác phòng, chống rửa tiền tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt

- Cơ sở pháp lý cho công tác PCRT tại LienVietPostBank là các văn bản pháp quy của Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế ban hành bởi FATF, Ủy ban Basel, Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ (OFAC), Liên minh Châu Âu (EU),.v.v

- Mô hình công tác PCRT của LienVietPostBank áp dụng là mô hình 3 tuyến phòng vệ với cơ cấu tổ chức có 01 Bộ phận tại Trụ sở chính phụ trách về công tác PCRT

và hệ thống mạng lưới điều phối viên tại các đơn vị

- LienVietPostBank đang áp dụng các thống nhất các biện pháp PCRT theo Quy chế Phòng, chống rửa tiền số 244/2016/QC-HĐQT ban hành ngày 04/05/2016

2.3 Đánh giá thư ̣c tra ̣ng công tác phòng , chống rửa tiền tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt

2.3.1 Kết quả đạt được:

Là ngân hàng trẻ nhất Việt Nam thì con số 8 năm là một chặng đường nỗ lực không ngừng của LienVietPostBank, trong đó, hoạt động PCRT tại Ngân hàng đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, cụ thể như sau:

- Đã xây dựng được bộ phận chuyên trách về PCRT tại Trụ sở chính, đội ngũ mạng lưới nhân sự tại các đơn vị và áp dụng mô hình 3 vòng kiểm soát - mô hình mới đang được các ngân hàng hiện đại áp dụng

- Đến năm 2016, LienVietPostBank đã sở hữu hệ thống văn bản nội bộ về PCRT tương đối hoàn chỉnh được rà soát và cập nhật thường xuyên

- Để phục vụ hiệu quả công tác PCRT, LienVietPostBank đã nghiên cứu và xây dựng phần mềm PCRT, đồng thời triển khai áp dụng nhiều ứng dụng trong PCRT được mua từ các nhà cung ứng giải pháp PCRT chuyên nghiệp

Trang 6

- Công tác triển khai các biện pháp PCRT ta ̣i Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả

tích cực như: (1) Thực hiện áp dụng biện pháp nhận biết KH đối với tất cả các KH đến giao dịch tại ngân hàng; (2) Tăng cường mức độ nhận biết thông tin KH thông qua việc

chủ động thu thập thêm các thông tin của KH ngoài các thông tin theo quy định của

NHNN; (3) Đã phân loại KH và GD trên cơ sở rủi ro để làm căn cứ giám sát và ra quyết định cung ứng sản phẩm/dịch vụ cho KH; (4) Thực hiện rà soát theo các kịch bản rủi ro đối với các GD thuộc danh mục báo cáo NHNN; (5) Bước đầu tiến hành rà soát đối với

các GD có dấu hiệu bất thường và có mức độ rủi ro cao, đặc biệt là các GD có liên quan

đến các quốc gia bị cấm vận; (6) Tiến hành thẩm định và đánh giá mức độ rủi ro đối với

các Ngân hàng thực hiện trao đổi mã khoá RMA trong GD thanh toán quốc tế và đánh giá

định kỳ hàng năm đối với các ngân hàng nước ngoài có quan hệ đại lý; (7) Đã thực hiện quét lọc trên danh sách đen, danh sách cảnh báo; (8) Đã có danh sách cảnh báo riêng áp dụng trong công tác PCRT tại Ngân hàng; (9) Xây dựng công tác quản lý và bảo mật thông tin chặt chẽ trong hoạt động PCRT và (10) Thực hiện tự động hoá hệ thống báo cáo

PCRT

- Đã thực hiện đào tạo về PCRT đối với tất cả các ĐVKD mới thành lập, triển khai đào tạo trên kênh đào tạo trực tuyến, mở rộng quy mô đào tạo cho về PCRT và đặc biệt,

từ năm 2016 đã áp dụng hình thức đào tạo và thi sát hạch bắt buộc về PCRT đối với tất cả các GD viên tân tuyển tại Ngân hàng

- Đã triển khai công tác nhận diện KH và hoạt động báo cáo đối với các sản phẩm,

dịch vụ thuê Tổng công ty Bưu điện Việt Nam cung ứng và đã đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam

Thực tế triển khai công tác PCRT tại LienVietPostBank đã được tác giả đo lường

và đánh giá chi tiết theo thang đo tương ứng của các tiêu chí đánh giá được trình bày tại

mục 1.2, Chương I Theo đó, kết quả đo lường cho thấy: Công tác PCRT của

LienVietPostBank đã đáp ứng đầy đủ các quy định của Pháp luật Việt Nam nhưng xét theo tiêu chuẩn quốc tế thì công tác PCRT tại Ngân hàng mới chỉ ở mức hoàn thiện một phần

2.3.2 Hạn chế và Nguyên nhân:

Trang 7

2.3.2.1 Hạn chế:

- Về hệ thống văn bản nội bộ: (1) Thiếu văn bản hướng dẫn chuyên sâu về cấm

vận và hàng hoá nhị dụng; (2) Khuyết thiếu văn bản hướng dẫn xử lý đối với các STR;

(3) Các văn bản hướng dẫn liên quan đến hoạt động cung cấp thông tin có liên quan đến

PCRT không tập trung, nằm rải rác tại nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn cho các

đơn vị tham chiếu và áp dụng; (4) Chưa có văn bản tuyên bố về chính sách chấp nhận

KH, GD

- Về mô hình tổ chức và quản trị trong công tác PCRT: Mạng lưới điều phối viên

PCRT tại nhiều đơn vị mang tính hình thức, chưa phát huy được vai trò trong công tác PCRT

- Về công tác nhận biết KH, chủ sở hữu hưởng lợi: (1) Công tác nhận biết KH

chưa thực sự đầy đủ và chặt chẽ; (2) Việc áp dụng thu thập thêm các thông tin chi tiết về

KH ngoài các thông tin bắt buộc theo quy định của NHNN mới chỉ áp dụng cho các KH

mở tài khoản thanh toán và các KH vay vốn tại Ngân hàng (3) Việc thu thập các thông tin

liên quan đến hoạt động kinh doanh và nguồn gốc tài sản trong GD mới chỉ áp dụng đối

với các KH mở tài khoản thanh toán, KH có Mức độ rủi ro cao; (4) LienVietPostBank

hiện nay mới chỉ áp dụng với KH là các Ngân hàng, các quỹ đầu tư, còn các công ty bảo

hiểm, công ty chứng khoán, hoàn toàn chưa được thực hiện; (5) Chưa thực hiện áp

dụng các yêu cầu nhận biết đặc biệt đối với các hoạt động mua bán công cụ tài chính và

chuyển tiền; (6) Chưa áp dụng sàng lọc cơ sở KH, GD trên danh sách đen và danh sách cảnh báo cho tất cả các KH và loại hình GD; (7) Các biện pháp xác minh thông tin KH

còn hạn chế

- Về công tác phân loại KH theo mức độ rủi ro: (1) Việc phân loại KH và GD theo

mức độ rủi ro lần đầu và định kỳ chưa được các đơn vị nghiêm túc tuân thủ, trong khi

công tác kiểm tra giám sát của Bộ phận PCRT tại Trụ sở chính lại bị bỏ ngỏ; (2) Chưa

thực hiện đánh giá cơ sở KH nhằm nắm rõ các GD thông thường và bất thường của KH

định kỳ; (3) Thang điểm và tiêu chí đo lường mức độ rủi ro chưa sát với mức độ rủi ro

rửa tiền thực tế của KH và chưa đầy đủ do được xây dựng không phải trên cơ sở dữ liệu

lịch sử hoặc ý kiến chuyên gia; (4) Cơ sở dữ liệu trong hồ sơ KH dùng để đo lường mức

Trang 8

độ rủi ro về rửa tiền định kỳ hàng năm trên hệ thống corebanking tại Ngân hàng không có

đầy đủ thông tin theo các tiêu chí đo lường; (5) Việc đo lường mức độ rủi ro về rửa tiền đối với KH và GD đang phải thực hiện thủ công; (6) Công tác nhận diện đối với các GD

hoặc KH thuộc diện đặc biệt (được mặc định xếp loại vào mức độ rủi ro cao và cần giám sát đặc biệt) của các cán bộ tại bộ phận GD còn hạn chế

- Về hệ thống giám sát KH, GD: (1) Công tác giám sát GD chỉ khoanh vùng trong

phạm vi các GD có giá trị lớn; (2) Việc giám sát GD được thực hiện thủ công; (3) Ngân

hàng chưa triển khai hình thức đánh giá và kiểm tra thực địa trực tiếp đối với các GD

phát sinh dấu hiệu đáng ngờ; (4) Các kịch bản để phát hiện các STR cho thấy có dấu hiệu

rửa tiền mà Ngân hàng đang áp dụng chỉ giới hạn trong các dấu hiệu đáng ngờ điển hình

do NHNN đưa ra (LienVietPostBank đang áp dụng 8/12 dấu hiệu) và chưa có ý kiến tư vấn của các chuyên gia

- Về công tác tuyên truyền và đạo tạo PCRT: (1) Chưa thực hiện đào tạo về PCRT

đối với tất cả các nhân viên mới tuyển dụng trong vòng 6 tháng kể từ thời điểm tuyển

dụng; (2) Việc đào tạo định kỳ hàng năm về PCRT cho tất cả các cán bộ nhân viên chưa được thực hiện đầy đủ mà chỉ giới hạn tại các cán bộ nguồn; (3) Phần mềm đào tạo

Elearning tại Ngân hàng còn nhiều hạn chế, gây mất thời gian cho cán bộ giảng dạy, khó

mở rộng quy mô đào tạo và không thân thiện với người dùng; (4) Chưa đưa PCRT vào nội dung bắt buộc sát hạch hàng năm đối với tất cả các cán bộ nhân viên; (5) Chưa thực

hiện thuê tổ chức thứ ba (đơn vị đào tạo chuyên nghiệp, các ngân hàng lớn, cơ quan chức năng có thẩm quyền, ) thực hiện đào tạo chuyên sâu về PCRT cho đội ngũ cán bộ chuyên trách tại Hội sở chính và các điều phối viên PCRT tại đơn vị

- Về hệ thống CNTT hỗ trợ công tác PCRT: (1) Ngân hàng chưa có phần mềm

PCRT chuyên dụng được mua từ nhà cung cấp chuyên nghiệp xây dựng, có tất cả các chức năng theo khung công tác PCRT và tích hợp trực tiếp với hệ thống ngân hàng lõi để

đưa ra các cảnh báo kịp thời cho cán bộ trong quá trình hạch toán, xử lý GD; (2) Cơ sở

dữ liệu về danh sách đen và danh sách cảnh báo còn hạn chế; (3) Phần mềm PCRT vận hành chậm và thường xuyên bị lỗi; (4) Cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động của ứng

dụng PCRT chưa đầy đủ

Trang 9

- Công tác PCRT đối với các dịch vụ cung ứng qua VNPost: chưa thực hiện đầy đủ

và bị bỏ ngỏ

2.3.2.2 Nguyên nhân

- Nguyên nhân Khách quan:

+ Về đặc điểm kinh tế - xã hội của quốc gia và thói quen của người dân: Thói

quen tiêu dùng tiền mặt và tư tưởng không muốn công khai thông tin về thu nhập, nguồn gốc tài sản của người dân là nguyên nhân gây khó khăn cho hoạt động PCRT của LienVietPostBank

+ Về hệ thống văn bản pháp luật: (1) Luật PCRT chưa có quy định về việc phân

loại rủi ro đối với GD, bên cạnh đó, quy định chỉ đưa ra tên 4 nhóm tiêu chí phải sử dụng

để phân loại mức độ rủi ro của KH (loại KH, loại sản phẩm, loại dịch vụ KH sử dụng và

yếu tố về mặt địa lý) mà chưa có hướng dẫn cụ thể; (2) Các quy định của pháp luật chỉ

yêu cầu nhận biết KH đối với một số loại GD nhất định và chỉ giới hạn thông tin nhận

biết là các thông tin cơ bản của KH (tên đầy đủ, địa chỉ, thông tin giấy tờ pháp lý); (3)

Nhiều tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi và thu thập thông tin chủ sở hữu hưởng lợi khó khăn trong triển khai thực tế do khuyết thiếu cơ sở dữ liệu tra cứu tập trung của chính

phủ; (4) Văn bản pháp luật của Việt Nam chỉ quy định việc áp dụng các biện pháp PCRT

đối với cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị chứ không áp dụng đối với tất cả các

loại hình PEP (bao gồm cả PEP nội địa và PEP của các tổ chức phi chính phủ, ); (5)

NHNN chưa có quy định bắt buộc khai báo mục đích GD và nguồn gốc tài sản liên quan

đến GD; (6) Cơ chế giám sát của NHNN đối với công tác PCRT chưa chặt chẽ và không thường xuyên liên tục; (7) Các quy định về việc cung cấp thông tin liên quan đến KH,

GD và tài sản của KH đang nằm rải rác tại nhiều văn bản khác nhau và không thống nhất

+ Về cơ sở dữ liệu quốc gia: Việt Nam chưa áp dụng mã số nhận dạng cá nhân

duy nhất cho tất cả các hoạt động và cũng chưa có cơ sở dữ liệu tập trung lưu trữ thông tin thống nhất nên gây khó khăn cho các NHTM trong quá trình xác minh thông tin KH

- Nguyên nhân chủ quan:

 Về nguồn nhân lực:

+ Khuyết thiếu nhân sự: tình trạng khuyết thiếu nhân sự tại Bộ phận PCRT và sự

Trang 10

biến động nhân sự thường xuyên của mạng lưới điều phối viên về PCRT đang là một rào cản lớn cho công tác triển khai PCRT tại LienVietPostBank

+ Chất lượng nguồn nhân sự còn hạn chế: Một trong những nguyên nhân dẫn tới

tình trạng không nhận biết và đo lường chính xác mức độ rủi ro về rửa tiền của KH và

GD là do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm về PCRT của các cán bộ tác nghiệp còn hạn chế

+ Ý thức về phòng, chống rửa tiền còn hạn chế: Các hạn chế trong công tác đào

tạo trong công tác PCRT đã dẫn đến hệ quả là nhận thức nên ý thức về PCRT tại các ĐVKD chưa cao

+ Công tác tuyên truyền và đào tạo về PCRT chưa tích cực: khiến cho việc nắm

bắt thông tin của các cán bộ tác nghiệp trên toàn hệ thống đối với các trường hợp cảnh báo về PCRT hoặc sự thay đổi/ban hành mới của các văn bản quy định bị chậm trễ

+ Khuyết thiếu chế tài xử lý vi phạm về phòng, chống rửa tiền: Khiến cho ý thức

tuân thủ của cán bộ tác nghiệp lỏng lẻo và nhiều biện pháp PCRT bị các cán bộ tác nghiệp bỏ qua trong quá trình cung ứng sản phẩm/dịch vụ

 Hệ thống CNTT phục vụ công tác PCRT thiếu đồng bộ, chưa hiệu quả: Việc không sử dụng phần mềm chuyên nghiệp hỗ trợ các công tác PCRT mà lại thực hiện tự đầu tư nghiên cứu xây dựng phần mềm đang khiến cho công tác PCRT tại LienVietPostBank gặp nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ, đặc biệt là nhiều biện pháp PCRT đang phải thực hiện thủ công hoặc bán tự động đang là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiểu quả của công tác PCRT tại LienVietPostBank

 Về chiến lược kinh doanh, quản trị nội bộ và tiềm lực tài chính: Ngân hàng chưa ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực PCRT

 PCRT đối với các dịch vụ cung ứng qua VNPost chưa được chú trọng

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PCRT TẠI

NGÂN HÀNG BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT

Ngày đăng: 12/01/2021, 04:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w