Toàn tỉnh hiện nay có trên 1450 hộ đạt các tiêu chí về kinh tế trang trại, sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực: Nuôi thủy sản, sản xuất cây giống, con giống, trồng hoa kiểng, cây cản[r]
Trang 1Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÁC GIẢ THIẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.3.1 Các giả thiết cần kiểm định 3
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Giới hạn về không gian .3
1.4.2 Giới hạn về thời gian .3
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Khái niệm về trang trại 5
2.1.2 Đặc trưng của kinh tế trang trại 5
2.1.3 Các tiêu chí về kinh tế trang trại 7
2.1.4 Vai trò của kinh tế trang trại đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn 8
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 11
2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 11
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ TẠI HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE 14
3.1 SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE 14
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 14
Trang 23.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
CỦA TỈNH BẾN TRE 16
3.2.1 Định hướng phát triển kinh tế trang trại của Tỉnh 16
3.2.2 Chính sách của Tỉnh nhằm phát triển kinh tế trang trại 17
3.2.3 Tình hình phát triển kinh tế trang trại hiện nay của tỉnh Bến Tre 19
3.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ TẠI HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE 29
3.3.1 Định hướng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò của Huyện 29
3.3.2 Hiện trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò trong những năm gần đây tại Huyện Ba Tri 30
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ TẠI HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE 34
4.1 VÙNG NGHIÊN CỨU VÀ MẪU ĐIỀU TRA 34
4.2 THÔNG TIN VỀ CHỦ TRANG TRẠI 34
4.3 THÔNG TIN VỀ TRANG TRẠI 36
4.4 THÔNG TIN KHÁC 40
4.5 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA TRANG TRẠI 41
4.5.1 Chi phí 41
4.5.2 Doanh thu 43
4.5.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của trang trại 43
4.6 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ TẠI HUYỆN BA TRI 46
4.6.1 Thuận lợi 46
4.6.2 Khó khăn 47
CHƯƠNG 5 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ TẠI HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE 49
5.1 GIỐNG 49
5.2 THỨC ĂN 49
Trang 35.4 VỐN 50
5.5 TIÊU THỤ 50
5.6 KHUYẾN NÔNG VÀ PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH 51
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
6.1 KẾT LUẬN 52
6.2 KIẾN NGỊ 54
6.2.1 Đối với các chủ trang trại 54
6.2.2 Đối với chính quyền địa phương 54
6.2.3 Đối với tổ chức tín dụng 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 4Trang
Bảng 1: SỐ LƯỢNG TRANG TRẠI CỦA TỪNG HUYỆN
TRONG TỈNH BẾN TRE 19
Bảng 2: TÌNH HÌNH CHUYÊN MÔN VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LAO ĐỘNG 24
Bảng 3: KẾT QUẢ SẢN XUẤT TRONG 12 THÁNG QUA CỦA TỪNG LOẠI HÌNH TRANG TRẠI 25
Bảng 4: BIỂU HIỆN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KNH DOANH KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH BẾN TRE NĂM VỪA QUA 27
Bảng 5: SỐ LƯỢNG TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ CỦA HUYÊN BA TRI NĂM 2007 32
Bảng 6: ĐẶC ĐIỂM VỀ TUỔI VÀ NĂM KINH NGHIỆM 35
Bảng 7: ĐẶC ĐIỂM VỀ TRÌNH ĐỘ 35
Bảng 8: SỐ LƯỢNG TẬP HUẤN 36
Bảng 9: QUY MÔ ĐÀN BÒ 36
Bảng 10: GIỐNG BÒ ĐƯỢC CHỌN NUÔI 37
Bảng 11: NGUỒN CUNG CẤP CON GIỐNG 37
Bảng12: LÝ DO CHỌN GIỐNG BÒ 38
Bảng 13: TÌNH HÌNH NUÔI BÊ CON 39
Bảng 14: TÌNH HÌNH VỐN ĐẦU TƯ 40
Bảng 15: CÁC NGUỒN VỐN CHỦ YẾU 40
Bảng 16: TẬP HỢP CÁC CHI PHÍ 41
Bảng 17: TỶ TRỌNG CÁC LOẠI CHI PHÍ 42
Bảng 18: GIÁ BÁN VÀ DOANH THU 43
Bảng 19: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ 44
Bảng 20: TIÊU CHUẨN DIỆN TÍCH CHUỒNG TRẠI 50
Trang 5Trang
Biểu đồ 1: BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TRÌNH ĐỘ CỦA CHỦ TRANG TRẠI 35
Biểu đồ 2: BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CÁC NGUỒN CUNG CẤP GIỐNG 38
Biểu đồ 3: BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CÁC LÝ DO CHỌN GIỐNG 39
Biểu đồ 4: BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU CÁC LOẠI CHI PHÍ 42
Trang 7có năng lực sản xuất, có kinh nghiệm làm ăn, có kiến thức và nắm bắt được tiến
bộ khoa học kỹ thuật cũng như nhạy bén với thị trường Từ đó, các nông hộ đã
mở rộng đầu tư phát triển và vươn lên làm giàu Toàn tỉnh hiện nay có trên 1450
hộ đạt các tiêu chí về kinh tế trang trại, sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực: Nuôi thủy sản, sản xuất cây giống, con giống, trồng hoa kiểng, cây cảnh, chăn nuôi và trồng cây lâu năm… Sự phát triển của mô hình kinh tế trang trại đã góp phần huy động thêm nguồn vốn trong dân, khai thác và sử dụng có hiệu quả đất trống, đất hoang hoá, nhất là đất ven biển, bãi bồi, cồn mới nổi và đất vườn; tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm nguồn hàng nông thủy sản cho xã hội
Ba Tri là một trong những huyện của tỉnh Bến Tre với diện tích 35.316,25
ha chiếm 15,73% diện tích toàn tỉnh, là huyện có vị trí địa lý tương đối phức tạp, phía đông giáp biển, còn lại giáp các huyện: Giồng Trôm, Bình Đại và Thạnh Phú Toàn huyện có 23 xã và một thị trấn, thế mạnh về kinh tế của huyện là cây lúa và ngành chăn nuôi Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi của tỉnh thì huyện Ba Tri cũng hòa vào xu thế phát triển chung đó, huyện nhận định chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi là biện pháp thiết thực đưa nền kinh
tế toàn huyện đi lên Huyện đã vận động xây dựng và phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò với mục đích giúp người dân vượt khó khăn và phát triển sản xuất
Trang 8trong chăn nuôi Mặt khác, quá trình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò còn đưa huyện hội nhập với tiến trình đấy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Tuy nhiên, từ khi Đảng và nhà nước có chủ trương về phát triển kinh tế trang trại cho đến nay thì tỉnh Bến Tre nói chung và huyện Ba Tri nói riêng bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít những khó khăn và vướng mắc Trong thời gian qua, kinh tế trang trại của tỉnh phần lớn là do tự phát, chưa được cấp có thẩm quyền hướng dẫn, công nhận và còn nhiều hộ trang trại chưa được hưởng chính sách ưu đãi nào của Nhà nước Từ đó, làm hạn chế việc khai thác các tiềm năng về đất đai, lao động, vốn và tay nghề… trong nhân dân để phát triển kinh tế trang trại Hiện nay, tỉnh Bến Tre nói chung và huyện Ba Tri nói riêng đang có những chính sách và chủ trương nhằm định hướng cho các mô hình kinh tế trang trại phát triển đúng hướng và mang lại hiệu quả cao Để hiểu rõ hơn
về thực trạng phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Bến Tre và phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò tại huyện Ba Tri, các chính sách của tỉnh và của huyện đang triển khai, em chọn đề tài “Tình hình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi
bò tại huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre” để làm luận văn tốt nghiệp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung:
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò, từ
đó đề xuất các giải pháp phát triển
Trang 9Các yếu tố: Chi phí, giá bán, thị trường, trình độ khoa học kỹ thuật tác động đến quá trình phát triển kinh tế trang trại
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Bến Tre như thế nào?
Thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò tại huyện Ba Tri? Các yếu tố: Chi phí, giá bán, thị trường, trình độ khoa học kỹ thuật, chính sách địa phương, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế trang trại ra sao? Cần có những giải pháp nào để phát triển kinh tế trang trại?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Giới hạn về không gian
Luận văn được thực hiện trên cơ sở điều tra số liệu tại các xã có mô hình trang trại chăn nuôi bò tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Sau đó được xử lý, phân tích, đánh giá và hoàn thành tại Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bến
Tre
1.4.2 Giới hạn về thời gian
Số liệu thứ cấp được sử dụng từ năm 2006 – 2008
Số liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp từ ngày 21/3 đến ngày 24/3 năm 2008 Luận văn được thực hiện từ ngày 12/02/2008 đến ngày 05/05/2008
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Những trang trại chăn nuôi bò tại địa bàn nghiên cứu
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Nguyễn Thị Ngà (2000), đưa ra một số định hướng và giả pháp tạo động lực phát triển kinh tế trang trại trong giai đoạn hiện nay Tác giả kết luận rằng để phát triển kinh tế trang trại trước tình hình hiện nay, Nhà nước và chính quyền địa phương cần có những giải pháp hợp lý về qui hoạch đất đai, về tạo nguồn vốn, trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật, tìm hiểu về thông tin thị trường, hình thành quỹ bảo hiểm cây trồng vật nuôi và cải tạo xây dựng hạ tầng nông thôn
Trần Trác (2000), phân tích vai trò của kinh tế trang trại trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Theo tác giả, kinh tế trang trại đã góp phần sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, khai thác hợp lý nguồn vốn trong dân, giải quyết tốt nguồn lao động dồi dào trong xã hội và kinh tế trang trại đã đóng vai trò quan trọng
Trang 10trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn
Theo trung tâm kiểm định giá Miền Nam (2000), phát triển kinh tế trang trại gắn với hợp tác xã dịch vụ sản xuất kinh doanh cây giống hoa kiểng ở Bến Tre, đề tài chứng minh vai trò của kinh tế trang trại đối với các lĩnh vực, dịch vụ khác trong hoạt động nông nghiệp; kết luận những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bến Tre Đồng thời, đưa ra những biện pháp và kiến nghị cụ thể đối với kinh tế trang trại của Tỉnh
Mai Ái Liên (2006), đánh giá hiện trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thị xã Bến Tre tỉnh Bến Tre, tác giả đã đưa ra thực trạng kinh tế trang trại của tỉnh Bến Tre hiện nay, phân tích hiệu quả của hai loại hình kinh tế trang trại: trồng trọt và chăn nuôi trên đại bàn thị xã Bến Tre Qua quá trình phân tích tác giả đã đưa ra kết luận về những thuận lợi và khó khăn của từng loại hình
Trang 11CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về trang trại
Kinh tế trang trại không phải là hiện tượng tự phát, mà là một sản phẩm tất yếu của đường lối đổi mới của Đảng ta trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Có thể định nghĩa kinh tế trang trại như sau: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra sức sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra; có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hóa tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao
2.1.2 Đặc trưng của kinh tế trang trại
So với kinh tế tiểu nông, kinh tế trang trại là một bước phát triển lớn của nền sản xuất xã hội Kinh tế tiểu nông chỉ là nền kinh tế tự cung tự cấp, chưa có
sự liên kết giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác, nhất là công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp Kinh tế tiểu nông thậm chí còn được hiểu như kiểu kinh tế thuần nông, sản xuất nhỏ Như vậy, sản xuất hàng hóa và qui mô sản xuất hàng hóa là sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế trang trại với kinh tế tiểu nông Nhưng giữa hai hình thức kinh tế này cũng có những điểm chung, như hộ gia đình và lao động của gia đình là lực lượng chính Từ những đặc điểm nêu trên cho thấy việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại là quá trình chuyển đổi hữu cơ của tái sản xuất xã hội, chuyển từ kinh tế hộ nông dân, sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa với qui mô từ thấp đến cao
Trên cơ sở khảo sát, phân tích các hình thức trang trại đang hoạt động tại một số tỉnh trên cả nước, có thể khái quát những đặc trưng của kinh tế trang trại hiện tại ở nước ta:
Trang 122.1.2.1 Kinh tế trang trại là một đơn vị kinh tế hàng hóa ở qui mô tương ứng và thích hợp với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ., trong mối liên kết với công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ
Qui mô sản xuất hàng hóa thể hiện qua tỷ xuất hàng hóa của một hộ sản xuất là đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế trang trại Đây là chuẩn mực hàng đầu
và quan trọng nhất để phân biệt một hộ nông dân sản xuất thông thường với một
hộ sản xuất theo hình thức trang trại
2.1.2.2 Ruộng đất đã thực hiện tích tụ, tập trung ở qui mô nhất định
Tích tụ ruộng đất phụ thuộc vào quỹ đất của từng địa phương và khả năng sản xuất kinh doanh của các chủ trang trại Bình quân ruộng đất của một trang trại là 6,13 ha, chủ yếu là đất rừng Qui mô đất đai là một yếu tố cơ bản để trở thành trang trại và là điểm so sánh sự khác biệt với các hộ tiểu nông
2.1.2.3 Cơ cấu lao động ở trang trại nước ta hiện nay chủ yếu vẫn là sức lao động của gia đình, cộng thêm một bộ phận lao động thuê ngoài
Thông thường chủ hộ là chủ trang trại và sử dụng sức lao động gia đình là chính, lao động thuê ngoài rất đa dạng:
- Đổi công giữa các trang trại và các hộ sản xuất khác
- Thuê lao động thường xuyên, có mức trả công ổn định từng tháng
- Thuê lao động thường xuyên, người lao động làm thuê được hưởng một bộ phận hoa lợi thu hoạch, có nhà ở gần ruộng vườn sản xuất do chủ trang trại cấp
- Bộ phận lớn của lao động thuê ngoài là thuê lao động thời vụ, trả công theo ngày Lao động thời vụ chủ yếu là lao động nông nhàn, bao gồm người địa phương trong thôn, xóm, trong xã và có một bộ phận lao động từ các tỉnh khác
2.1.2.4 Vốn của chủ trang trại chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu vốn đầu tư
Khác biệt với kinh tế tiểu nông, hình thức kinh tế trang trại đã có mức tích
tụ vốn, thể hiện các loại hình kinh tế trang trại khác nhau và tại các vùng khác nhau, nhưng đặc điểm chung là vốn tự có của chủ trang trại đều chiếm tỷ trọng lớn hơn so với vốn vay Khái niệm về mức vốn vay của trang trại đầu tư ở đây là chưa kể đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng, về giao thông, thủy lợi, xã hội; đầu tư qua chương trình tạo việc làm, khuyến nông, lâm, xóa đói giảm nghèo và
Trang 13cả phần đầu tư có liên quan của các doanh nghiệp nhà nước trong nhiều mối quan
hệ với trang trại trên địa bàn
2.1.2.5 Chủ trang trại đều là những người kiến thức về kinh tế
Mặc dù nhiều chủ trang trại vẫn là những chủ nông dân sản xuất thông thường, nhưng họ là những người sản xuất giỏi, biết cách lựa chọn phương hướng đầu tư (trồng cây gì, nuôi con gì, chế biến sản phẩm ), biết cách quản
lý sản xuất, kinh doanh, nắm bắt được thị trường
Chủ trang trại rất đa dạng, là chủ hộ nông dân, chủ gia đình, vừa trực tiếp quản lý, điều hành trang trại, vừa lao động trực tiếp; một số không nhỏ là cán bộ hưu trí, bộ đội xuất ngũ, sử dụng kinh nghiệm quản lý thời kỳ tại chức trong vị trí chủ gia đình; một bộ phận khác là các viên chức đương chức trong các cơ quan Đảng, chính quyền doanh nghiệp nhà nước, do có vốn, có đầu óc làm ăn, nên họ chủ động lập trang trại với lao động thuê ngoài là chính Ở các vùng dân tộc, chủ trang trại đại bộ phận là người Kinh, trong số đó phần lớn là từ các địa phương khác đến
2.1.3 Các tiêu chí về kinh tế trang trại
Theo thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK và thông tư số 74/2003/TT-BNN của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thì một hộ sán xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản đuợc xác định là trang trại phải đạt được một trong 2 tiêu chí định lượng sau:
2.1.3.1 Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
2.1.3.2 Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
a Đối với trang trại trồng trọt
- Trang trại trồng cây hàng năm:
+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
- Trang trại trồng cây lâu năm:
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
Trang 14+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
+ Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên
- Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b Đối với trang trại chăn nuôi
- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò …
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê :
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn là 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lớn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên
- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng có thường xuyên từ 2.000 con trở lên ( không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
c Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với tôm thịt theo hình thức công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính đặc thù: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thủy
đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa
2.1.4 Vai trò của kinh tế trang trại đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
Hiện nay trên khắp đất nước ta đâu đâu cũng xuất hiện mô hình kinh tế trang trại Nhiều nơi đã có điều tra khảo sát để nắm rõ số lượng, chất lượng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
2.1.4.1 Vai trò sử dụng hiệu quả tài nguyên đất
Việc hình thành và phát triển trang trại chủ yếu là dựa vào đường lối đổi mới của Đảng về kinh tế, chủ trương phủ xanh đất trống đồi trọc của Nhà nước bằng vốn các chương trình 327, 120 và dựa vào 2 nguồn cơ bản khác nữa để tạo nên hình vóc của trang trại là đất hoang hóa cộng với lao động dồi dào, giá rẻ Ngoài ra cũng còn một số nguồn vốn khác của các doanh nghiệp quốc doanh đầu
tư ứng trước trên cơ sở diện tích cho chủ trang trại rồi lấy sản phẩm, sau tạo thế
Trang 15chủ động rồi tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh Một số lâm trường quốc doanh khi khoán nuôi bảo vệ, chăm sóc rừng cho dân trong thời hạn 50 năm cũng thực hiện việc rót vốn cho dân với nhiều mức khác nhau tùy theo diện tích Người dân nhận khoán rừng từ 20-50 ha được khai thác những sản phẩm phụ của rừng như củi cành, củi mục, cây thuốc nam và được trồng xen cây nông nghiệp ở những tán rừng thưa để cải thiện đời sống, … Điều này thể hiện được mối liên minh công nông về kinh tế trên tinh thần nâng đỡ cho kinh tế hộ nông dân phát triển của nhà nước ta mà biểu hiện ra bằng đồng vốn, kỹ thuật của các chương trình kinh tế quốc gia hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
2.1.4.2 Vai trò khai thác vốn trong dân
Về cơ cấu vốn chủ yếu là vốn tự có của chủ trang trại chiếm 85%, phần còn lại là vay ngân hàng 8%, vay thân nhân 6% và 1% là do liên kết với doanh nghiệp nhà nước Phần vốn vay ngân hàng sở dĩ chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn là
do trang trại không thể đem đất ra thế chấp được Chỉ một số ít chủ trang trại có nhà cửa, máy móc thiết bị nhưng thiếu vốn đầu tư, mới mang thế chấp ngân hàng
để vay Mặt khác, cơ chế, thủ tục cho vay của ngân hàng còn nhiều ràng buộc, khó khăn, không có nguồn vốn trung, dài hạn và nói chung lãi suất còn cao nên không có khả năng trở thành nguồn cung ứng vốn chủ yếu cho sản xuất và kinh doanh của kinh tế trang trại Quỹ tín dụng nhân dân thì chậm ra đời, một số trang trại gặp khó khăn về vốn đã phải chuyển cơ cấu cây trồng, vật nuôi hoặc sang nhượng, cho thuê bớt diện tích để tập trung đầu tư kỹ thuật, nâng cao chất lượng cho phần diện tích còn lại Chung qui lại vốn chủ yếu để hình thành nên các trang trại đều có nguồn từ chính bản thân gia đình chủ trang trại Vốn nhà nước hỗ trợ qua các chương trình quốc gia và các doanh nghiệp nhà nước đóng trên địa bàn
2.1.4.3 Vai trò giải quyết lao động xã hội
Chủ trang trại tận dụng lao động trong gia đình là chính Song, trang trại nào cũng phải thuê từ 3-5 lao động thường xuyên và vài ngàn lao động thời vụ Lao động quản lý dứt khoát phải do chủ trang trại đảm nhiệm Do việc sử dụng hợp lý lao động của gia đình và của xã hội nên hiệu quả kinh tế mang lại cho chủ trang trại là điều đương nhiên Cách trả công của các chủ trang trại cũng theo nhiều kiểu khác nhau Song, thường thì chủ trang trại trả lương công nhật cho
Trang 16công lao động phổ thông, còn lao động kỹ thuật thì có những ràng buộc bằng một
số lượng thu hoạch cụ thể của trang trại mà mỗi vụ thay đổi một lần Chẳng hạn như: một lao động kỹ thuật giỏi có thể được trả công bằng sản lượng thu được từ
100 cây cà phê hoặc 500 cây cao su tuỳ trang trại trồng cây gì Cũng có chủ trang trại ràng buộc lao động kỹ thuật bằng cách cho hẳn 1-2 ha đất để trồng cây theo trang trại nhằm làm đối chứng mà chăm sóc cho chủ Mỗi chủ trang trại có cách đánh giá và ràng buộc lao động của mình theo những kiểu cách riêng nhằm đem lại hiệu quả cao trong sản xuất
2.1.4.4 Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn
Nhiều chủ trang trại đã tự đầu tư hoặc tự giác hợp tác lại với nhau để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị công nghiệp để chế biến sản phẩm, tạo ra những bán thành phẩm nông sản hàng hoá cung cấp đầu vào cho các cơ sở chế biến hàng xuất khẩu lớn hơn của Nhà nước như 56 chủ trang trại thuộc xã Cây Trường và
xã Trần Văn Thố thuộc huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương Trước nhu cầu của thị trường sản phẩm đầu ra cho cây ăn trái có nguy cơ bị cạnh tranh gay gắt, họ đã tự nguyện lập ra hợp tác xã Cây Trường để hoạt động dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất và đầu ra cho sản phẩm trái cây trên 312 ha cây ăn trái của mình
Một số khác có xu hướng chuyển hẳn sang ngành nghề chế biến nông sản hàng hoá cho các chủ trang trại quanh vùng, tạo ra sự phân công và hợp tác mới Việc làm này đã làm tăng giá trị nông sản hàng hoá do trang trại tạo ra, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Qua thực tế sản xuất nông lâm ngư nghiệp trong những năm đổi mới gần đây, cho thấy rõ kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế nông thôn có hiệu quả hơn hẳn kinh tế hộ, thậm chí còn có nơi còn hơn cả kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nước trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, đã góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn, nâng sao năng suất lao động của xã hội, tạo nhiều nông sản hàng hoá
có chất lượng ngày càng cao cho xã hội
Trang 172.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Được thu từ các nghiên cứu trước đây có liên quan tới đề tài Các báo cáo của sở NN& PTNT tỉnh Bến Tre Báo cáo kinh tế huyện Ba Tri tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2006, 2007 và kế hoạch năm 2008 của phòng kinh tế
huyện Ba Tri, báo cáo tổng kết năm 2006, 2007
2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn để điều tra 30 trang trại chăn nuôi bò trên địa bàn huyện Ba Tri theo tỷ lệ đã lựa chọn trước
2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp 1: sử dụng thống kê mô tả
- Phương pháp 2: sử dụng hàm hồi qui tuyến tính
2.2.2.1 Phân tích thống kê mô tả
Sử dụng thống kê mô tả để đánh giá và nhận xét thực trạng phát triển kinh
tế trang trại chăn nuôi bò tại huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre
2.2.2.2 Phân tích hồi qui tuyến tính
Phương trình hồi qui tuyến tính: mục đích của việc thiết lập phương trình hồi qui tuyến tính là tìm các nhân tố ảnh hưởng thu nhập của các chủ trang trại chăn nuôi bò, chọn những nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa, từ đó phát huy nhân tố ảnh hưởng tốt, khắc phục nhân tố ảnh hưởng xấu
Mô hình tổng quát hàm hồi quy tuyến tính có dạng:
Yi = α0 + α1X1i + α2X2i + α3X3i + α4X4i + α5X5i + … + αkXki + ui
= f(X1i,X2i,…,Xki) + ui
Ký hiệu Xki biểu hiện giá trị của biến độc lập thứ k tại quan sát thứ i Các
hệ số α là các tham số chưa biết và thành phần ui là các biến độc lập ngẫu nhiên
có phân phối chuẩn với trung bình là 0 và phương sai giống nhau σ2 và độc lập với nhau
Áp dụng cụ thể đối với các trang trại chăn nuôi bò tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre để nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập, đề tài luận văn sử dụng hàm hồi quy tuyến tính bao gồm 8 biến độc lập dạng dưới đây:
Y= f(X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7, X8 )
Trang 18Trong đó:
- Biến phụ thuộc (Y) là TN: thu nhập (1.000 đồng/con)
- Biến độc lập là:
+ X1 (CPCT): Chi phí chuồng trại (1.000 đồng/con)
+ X2 (CPCG): Chi phí con giống (1.000 đồng/con)
+ X3 (CPTA): Chi phí thức ăn (1.000 đồng/con)
+ X4 (CPTTY): Chi phí thuốc thú y (1.000 đồng/con)
do đó cũng có ảnh hưởng đến thu nhập
Kết quả in ra từ phần mềm SPSS có các thông số sau:
- Multiple R: hệ số tương quan bội, nói lên mối liên hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và tất cả các biến độc lập X R càng lớn, mối liên hệ càng chặt chẽ
- Hệ số xác định R2 (R – Square): Tỷ lệ % biến động của Y được giải thích bởi mô hình tuyến tính với các biến X
- Significant F và F > Fα(k-1,n-k): Là các tiêu chuẩn để trắc nghiệm mô hình
Trang 19Trong đó :
- Significant F và F : Là các kết quả có được khi chạy mô hinh hồi qui
- Với mức ý nghĩa α, tra bảng phân phối Fisher – Snedecor với bậc
n1 = (k-1) và n2 = (n-k) để tìm giá trị Fα(k-1,n-k) Trong đó n là số quan sát, k là số biến trong phương trình hồi qui ( kể cả biến phụ thuộc).
Với F > Fα(k-1,n-k) và Sig.F càng nhỏ thì mô hình càng có ý nghĩa trong
việc giải thích biến động của Y
Trang 20CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ
TẠI HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE 3.1 SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE
Hình 1: Bản đồ hình chính huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Ba Tri nằm ở kinh độ Đông 106028’ _ 106041’ và vĩ độ Bắc 9057’ _
10011’ Phía Bắc và Đông Bắc giáp sông Ba Lai và huyện Bình Đại, phía Nam giáp sông Hàm Luông và huyện Thạnh Phú, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Giồng Trôm và phía Đông giáp biển Đông
Trang 213.1.1.2 Địa hình
Huyện Ba Tri có địa hình tương đối bằng phẳng, có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, thấp dần về phía trung tâm, độ cao trung bình 0,8 – 1 mét so với mặt biển
3.1.1.3 Đất đai
Tổng diện tích các loại đất là 35.553 ha Trong đó đất nông nghiệp là 28.337 ha, chiếm 80% Đất chuyên dùng 2.458 ha chiếm 6,9% Đất ở 942 ha, chiếm 2,65% Đất chưa sử dụng là 23ha, chiếm 0,065%
3.1.1.4 Nước
Ba Tri là huyện ven biển Đông, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, biên độ dao động từ 1,2 – 2,4 m Nguồn nước chủ yếu của Huyện được cung cấp từ hai con sông Ba Lai – Hàm Luông và hệ thống chỉ lưu gồm 50 sông rạch vào sâu trong nội đồng, tổng chiều dài hệ thống sông rạch lớn, tự nhiên của Huyện lên đến 128 km Nước trên sông Ba Lai mặn sớm, sông Hàm Luông mặn trễ hơn Hệ thống sông rạch nêu trên thuận lợi cho giao thông thủy, làm muối, nuôi thủy sản nước mặn, tiêu cấp nước nhưng bất lợi cho giao thông bộ, sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Nguồn nước ngầm ngọt có ở các giồng cát, khoảng 4 – 5 m nước vào mùa mưa, 0,5 – 1 m vào mùa khô
3.1.1.5 Khí hậu
Khí hậu của huyện Ba Tri thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Các yếu tố khí hậu được phân bổ hai mùa trong năm khá rõ rệt Mùa mưa có gió mùa từ Tây Nam đến Tây Tây Nam cấp 3 – 4, bắt đầu từ tháng 5 và chấm dứt vào cuối tháng 11 Mùa khô có gió từ Bắc đến Đông Bắc cấp 2 từ tháng 12 đến cuối tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26,80C – 27,20C, nhiệt độ cao nhất là vào tháng 4 (khoảng 36,280C) thấp nhất vào tháng 12 (khoảng 18,50C) Lượng mưa trung bình hàng năm vào hàng thấp nhất ĐBSCL với 1.371,5mm Tập trung cao nhất từ tháng 6 – tháng 10 Dương Lịch Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 79%, cao nhất là vào tháng 8 hàng năm (85%)
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Huyện Ba Tri gồm 24 đơn vị hành chính đó là: Thị trấn Ba Tri, Tân Xuân,
Mỹ Hòa, Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Mỹ Thạnh, An Phú Trung, An Ngãi Trung, Tân Hưng, An Ngãi Tây, An Hiệp, An Bình Tây, Phú Lễ, Phú Ngãi, Phước Tuy, Bảo
Trang 22Thạnh, Bảo Thuận, Tân Thủy, Vĩnh Hòa, Vĩnh An, An Đức, An Hòa Tây, An Thủy, Tân Mỹ
3.1.2.1 Dân số và lao động
Năm 2007 dân số huyện Ba Tri là 205.392 người Trong đó dân số đô thị là 12.631 người chiếm 6,1%, dân số nông thôn là 192.761 người chiếm 93,9% Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 144.571 người chiếm 70,4%% và lao động phi nông nghiệp là 60.821 người chiếm 29,6% dân số
3.1.2.2 Cơ cấu ngành trong lĩnh vực nông nghiệp
a Trồng trọt
Tổng diện tích năm vừa qua là 21.452 ha, tổng diện tích gieo trồng ước vào khoảng 40.400 ha, hệ số sử dụng vào khoảng 1,9, trong đó lúa chiếm 37.442 ha, sản lượng 152.640 tấn; màu lương thực bao gồm 99 ha bắp và 176 ha khoai, sản lượng tổng cộng trên 1.800 tấn; rau màu thực phẩm 663 ha, sản lượng 8.853 tấn; mía 723 ha, sản lượng 50.610 ha; dừa 750 ha, sản lượng khoảng 3,36 triệu trái; cây ăn trái 427 ha, sản lượng 5.300 trái
b Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của huyện Ba Tri trong những năm gần đây phát triển với tốc độ khá cao chiếm 6,4%/năm và chiếm tỷ trọng khá quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm 16,3% Các sản phẩm chính là heo, đại gia súc và gia cầm, trong đó đàn heo năm qua ước khoảng 27.000 ngàn con, sản lượng 4.752 tấn, đàn trâu giảm còn 1.900 đầu con, đàn bò của huyện Ba Tri trong các năm qua tăng rất nhanh với khoảng hơn 60.500 đầu con, sản lượng thịt 2.842 tấn; đàn gia cầm khoảng 486 đầu con, sản lượng 691 tấn thịt, 4,6 triệu trứng
3.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA TỈNH BẾN TRE
3.2.1 Định hướng phát triển kinh tế trang trại của Tỉnh
Kinh tế trang trại ở tỉnh Bến Tre đa phần là quá trình chuyển đổi từ hộ kinh
tế sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hóa qui mô lớn, do đó tỉnh khuyến khích phát triển kinh tế hộ sản xuất nhỏ trở thành hộ sản xuất hàng hóa lớn làm tiền đề hình thành kinh tế trang trại; gắn việc phát triển nông nghiệp với việc giao đất, khoán rừng và phục hồi các ngành nghề truyền thống
Phát triển kinh tế trang trại với mục tiêu tạo sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Ưu tiên phát triển trang trại
Trang 23theo đúng định hướng qui hoạch sản xuất nông lâm ngư nghiệp của Tỉnh, phát triển bền vững, gắn phát triển với bảo vệ môi trường sinh thái
Trên cơ sở qui hoạch tổng quan, qui hoạch sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp thủy sản, qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện thị, qui hoạch các vùng phát triển trang trại làm cơ sở định hướng cho nông hộ bố trí cây, con tạo vùng tập trung chuyên canh, xen canh tạo ra sản phẩm hàng hóa đồng nhất cho chế biến, tiêu thụ được dễ dàng
- Vùng nước ngọt hình thành những trang trại chuyên canh cây ăn trái kết hợp nuôi xen tôm càng xanh, cá trong mương vườn; cá bè trên sông, trang trại sản xuất giống cây ăn trái, sản xuất hoa kiểng
- Vùng nước lợ hình thành trang trại sản xuất lúa chất lượng cao, luân canh cây màu; cây lâu năm kết hợp nuôi xen, trồng xen và nuôi tôm – cá, trang trại nuôi heo, bò, gà, dê, ong
- Vùng nước mặn chủ yếu nuôi thủy sản với các hình thức nuôi công nghiệp, quãng canh cải tiến, nuôi sinh thái kết hợp với trồng lúa trồng rừng ( Lâm – Ngư kết hợp theo tỷ lệ: 30% diện tích mặt nước nuôi và 70% diện tích rừng), rừng kết hợp du lịch, trang trại sản xuất giống thủy, đặc sản các loại
3.2.2 Chính sách của Tỉnh nhằm phát triển kinh tế trang trại
3.2.2.1 Đối với trang trại trồng trọt
Trang trại sản xuất lúa giống, lúa hàng hóa có qui mô từ 01 ha trở lên được
hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay ngân hàng trong 02 năm để mua một máy sấy lúa loại nhỏ ( công suất 02 tấn/mẽ), trong đó trang trại sản xuất lúa giống được đầu
tư không thu hồi 01 dụng cụ sạ hàng
Đối với trang trại trồng cây ăn trái chuyên canh thực hiện chuyển đổi cơ cấu loại cây có giá trị kinh tế cao được hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay ngân hàng trong
03 năm để đầu tư cây giống và được hỗ trợ toàn bộ kinh phí phần chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ Trang trại sản xuất cây giống tốt, giống mới, giống
có chất lượng và trang trại sản xuất hoa kiểng có uy tín sẽ được hỗ trợ xây dựng thương hiệu, xây dựng Website, hội chợ trong nước
Trang 243.2.2.2 Đối với trang trại chăn nuôi
a Trang trại chăn nuôi bò
Trang trại nuôi bò cái lai Sind theo hướng sinh sản được hỗ trợ 50% giá trị
01 con đực giống trưởng thành, trường hợp các trang trại không mua bò đực giống thì sẽ được hỗ trợ gieo tinh nhân tạo trong 02 năm không thu tiền tinh Nếu trang trại có quy mô từ 20 – 29 con bò cái lai Sind sinh sản được cấp 0,5 kg hạt
cỏ giống ( hoặc 250 kg cỏ giống), trang trại từ 30 con trở lên cấp 1 kg hạt cỏ giống ( hoặc 500 kg cỏ giống) Các trang trại nuôi bò cái lai Sind sinh sản còn được hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay ngân hàng trong 02 năm đối với phần chi phí đầu tư xây dựng chuồng trại ban đầu
Các trang trại bò thịt được miễn 100% chi phí tiêm phòng định kỳ các loại vaccine phòng dịch trong 02 năm đầu và được cấp 1 kg hạt cỏ giống ( hoặc 500
kg cỏ giống)
b Trang trại chăn nuôi heo, dê, gia cầm
Trang trại nuôi heo sinh sản bằng giống F1 hoặc lai nhiều máu ( lai kinh tế)
có quy mô từ 30 con nái trở lên được hỗ trợ 50% giá trị 01 heo đực giống truởng thành đạt tiêu chuẩn chất lượng hoặc được gieo tinh nhân tạo không thu tiền tinh trong 02 năm và được hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay ngân hàng trong 02 năm đối với phần chi phí đầu tư xây dựng chuồng trại đúng qui trình kỹ thuật của ngành nông nghiệp
Đối với trang trại nuôi heo thịt, dê thịt, gia cầm được miễn 100% chi phí tiêm phòng định kỳ các loại vaccine phòng dịch trong 01 năm đầu
c Trang trại sản xuất giống thủy sản
Trang trại sản xuất giống thủy sản có quy mô con bố mẹ từ 10 con trở lên đối với tôm sú, 150 con trở lên đối với tôm càng xanh, tôm thẻ, tôm đất, ít nhất
50 cặp ba ba, từ 30 con trở lên đối với cá xấu được hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay ngân hàng phần chi phí đầu tư xây dựng cơ bản ban đầu trong 02 năm đầu
3.2.2.3 Chính sách hỗ trợ tiếp cận thông tin thị trường
Trang trại có sản phẩm, hàng hóa chất lượng cao, có uy tín được hỗ trợ kinh phí đăng ký thương hiệu, chi phí lập Website, hỗ trợ tạo điều kiện tham dự các hội chợ, triển lãm trong nước
Trang 253.2.2.4 Chính sách khuyến nông, khuyến ngư
Chủ trang trại được ưu tiên hưởng các chính sách khuyến nông, khuyến ngư chung của Nhà nước và của Tỉnh; được cán bộ khuyến nông, khuyến ngư trực tiếp đến trang trại hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi, nuôi thủy sản, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi; được tham gia hội thảo kinh nghiệm và tham quan các mô hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả; được hỗ trợ xúc tiến thương mại tìm đầu ra cho sản phẩm
3.2.3 Tình hình phát triển kinh tế trang trại hiện nay của tỉnh Bến Tre 3.2.3.1 Trang trại của tỉnh Bến Tre tăng nhanh về số lượng, phong phú
về loại hình và phát triển trên tất cả các huyện, thị
Bảng 1: SỐ LƯỢNG TRANG TRẠI CỦA TỪNG HUYỆN TRONG TỈNH
BẾN TRE
Chăn nuôi Trong đó
Trồng cây công nghiệp lâu năm
Trồng cây
ăn quả
Tổng
số Bò Lợn Gia
cầm
Nuôi trồng thủy sản
Sản xuất kinh doanh tổng hợp
Trang 26Vào thời điểm ngày 01 tháng 10 năm 2001 Bến Tre chỉ có 637 trang trại, hầu hết là trang trại nuôi thủy sản và một số ít trang trại trồng cây lâu năm, tổng hợp và chăn nuôi Sau 6 năm mô hình kinh tế trang trại của Bến Tre phát triển khá nhanh, đa dang về loại hình, phong phú về chủng loại sản phẩm và phát triển trên tất cả các huyện, thị xã Tùy theo điều kiện đất đai của từng vùng mà có sự phát triển phù hợp khác nhau, vùng nước ngọt, lợ, nơi có nhiều phù sa bồi đắp, phù hợp phát triển các loại hình trang trại trồng cây ăn quả, chăn nuôi hoặc trang trại tổng hợp Vùng nước mặn là điều kiện, môi trường tốt để phát triển nuôi thủy sản, nhất là nuôi tôm sú nước mặn Trong các loại hình trang trại của tỉnh, loại hình trang trại phát triển mạnh nhất vẫn là nuôi thủy sản và trồng cây ăn quả, trang trại chăn nuôi cũng đang được phát triển, các loại hình trang trại khác như trồng cây hàng năm, trang trại tổng hợp cũng tăng lên so với năm 2001 nhưng số lượng chưa nhiều
Năm 2007, Bến Tre có đến 2.205 trang trại nuôi thủy sản, chiếm 63,03% trong tổng số trang trại của tỉnh, bình quân mỗi trang trại thủy sản sử dụng quy
mô diện tích đất là 4,02 ha/ trang trại Trong ngành nuôi thủy sản, trang trại nuôi tôm sú chiếm số lượng nhiều, toàn tỉnh hiện có 2.197 trang trại, tập trung ở 3 huyện ven biển: huyện Bình Đại 1.070 trang trại, huyện Thạnh Phú 958 trang trại
và huyện Ba Tri 169 trang trại Năm 2007, một số huyện vùng nước ngọt như Châu Thành, Chợ Lách đã phát triển phong trào nuôi cá da trơn theo phương thức công nghiệp, nhưng do mới phát triển, hơn nữa vốn đầu tư rất cao nên số lượng trang trại nuôi cá da trơn chưa nhiều
Loại hình trang trại trồng cây lâu năm có 631 trang trại chiếm 18,04% tổng
số trang trại toàn tỉnh trong đó có 7 trang trại trồng dừa và có 624 trang trại trồng cây ăn quả Trang trại trồng cây lâu năm tập trung ở 2 huyện: Chợ Lách 402 trang trại, Châu Thành 183 trang trại và một số ít ở các huyện Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thị Xã
Loại hình trang trại chăn nuôi có 463 trang trại, chiếm 13,78% trong tổng số trang trại toàn tỉnh, trong đó trang trại chăn nuôi bò là 59 trang trại, lợn thịt là
377 trang trại, gia cầm 7 trang trại Trang trại chăn nuôi bò tập trung nhiều nhất ở huyện Ba Tri với 44 trang trại, chăn nuôi lợn tập trung nhiều ở huyện Mỏ Cày
205 trang trại
Trang 27Trang trại trồng cây hàng năm hiện có 161 trang trại, với hoạt động chủ yếu
là sản xuất giống cây trồng và hoa kiểng ngắn ngày, tập trung ở huyện Chợ Lách gồm 150 trang trại, sản phẩm được tiêu thụ nhiều ở thị trường ngoài tỉnh
Trang trại sản xuất tổng hợp: Theo quy định trong tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2007 đối với trang trại tổng hợp thì trang trại phải hoạt động ít nhất 02 trong 03 ngành nông, lâm, thủy sản và từng ngành phải đạt tiêu chí trang trại, theo đó Bến Tre chỉ có 19 trang trại sản xuất tổng hợp Đây là loại hình trang trại đạt tiêu chí trên cả hai ngành nông nghiệp và thủy sản nên nguồn vốn đầu tư vào trang trại rất lớn Quy mô sử dụng đất của loại hình trang trại tổng hợp thấp hơn trang trại nuôi thủy sản nhưng cao hơn các loại hình trang trại khác, đạt 3,9 ha/ trang trại
Kinh tế trang trại của Bến Tre không chỉ đa dạng về loại hình mà còn phát triển trên hầu hết các huyện trong tỉnh, trên cả 3 vùng nước mặn, nước ngọt, nước lợ, ở những nơi có điều kiện đất đai, mặt nước thuận lợi để mở rộng quy mô trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Số lượng trang trại nhiều nhất ở huyện Bình Đại đây là huyện ven biển có thế mạnh phát triển nuôi thủy sản, toàn huyện có 1.096 trang trại, chiếm 31,5%, trong đó có 1.070 trang trại nuôi thủy sản, chiếm 97,63% trong tổng số trang trại của huyện Các trang trại nuôi thủy sản của Bình Đại từng bước đầu tư với trình độ thăm canh ngày càng cao, cho hiệu quả sản xuất vượt trội so với hiệu quả sản xuất các ngành khác thuộc lĩnh vực nông nghiệp
Huyện Thạnh Phú cũng là huyện ven biển có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế thủy sản, toàn huyện có 979 trang trại, chiếm 27,99 % trong tổng số trang trại toàn tỉnh trong đó có 958 trang trại nuôi thủy sản Tuy nhiên điểm khác biệt giữa huyện Bình Đại và Thạnh Phú là phần lớn trang trại thủy sản của Thạnh Phú đều nuôi quãng canh, trình độ thăm canh thấp, số lượng trang trại nuôi thâm canh, bán thâm canh chưa phát triển
Huyện Chợ Lách là một huyện thuộc vùng nước ngọt, được phù sa bồi đắp, thuận lợi để phát triển trồng cây ăn quả Toàn huyện có 595 trang trại, chiếm 17,01% trong tổng số trang trại toàn tỉnh, với loại hình hoạt động là trồng cây ăn quả lâu năm và sản xuất giống cây trồng Trang trại trồng cây ăn quả có 402 trang trại, chiếm 67,6% trong tổng số trang trại toàn huyện Trang trại sản xuất
Trang 28giống hoa kiểng hàng năm cũng được phát triển, toàn huyện có 150 trang trại sản xuất các loại cây ăn quả và hoa kiểng, sản phẩm được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường ngoài tỉnh
Huyện Châu Thành có số lượng trang trại đứng thứ 4 trong toàn tỉnh, toàn huyện có 289 trang trại, chiếm 8,3% trong tổng số, với nhiều loại hình như trồng cây ăn quả, chăn nuôi lợn và sản xuất tổng hợp Trong tất cả các trang trại, hoạt động trồng cây lâu năm chiếm số lượng trang trại nhiều hơn các loại hình khác, tổng số 183 trang trại gồm 5 trang trại trồng dừa và 178 trang trại trồng cây ăn quả, đó là các trang trại trồng sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, nhãn được trồng theo hình thức chuyên canh hoặc xen canh thích hợp, có kỹ thuật cao
Huyện Mỏ Cày đã phát triển được 230 trang trại, chiếm 6,6% trong tổng số trang trại toàn tỉnh, gồm chủ yếu là trang trại chăn nuôi lợn và một ít trang trại trồng cây ăn quả Trang trại chăn nuôi lợn chiếm 54% trong tổng số trang trại nuôi lợn của toàn tỉnh và chiếm 89,1% trong tổng số trang trại của huyện Loại hình trang trại trồng cây lâu năm của huyện Mỏ Cày đa số là các trang trại trồng cam chuyên canh, trong các năm qua tình trạng dịch bệnh bùng phát trên cây cam làm cho loại trang trại này giảm liên tục qua nhiều năm gần đây
Ba Tri là một huyện ven biển có lợi thế về nuôi trồng thủy sản toàn huyện
có 225 trang trại, chiếm 6,4% trong tổng số trang trại toàn tỉnh Trong tổng số trang trại của huyện, trang trại nuôi thủy sản là 169 trang trại chiếm 75,1%, chăn nuôi bò có 44 trang trại, chiếm 19,6% Trong năm 2007 tình hình chăn nuôi bò gặp khó khăn do tình hình dịch bệnh trong cả nước làm ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ, nên số lượng trang trại nuôi bò của huyện giảm so với một vài năm trước đó
Giồng Trôm là một huyện thuộc vùng nước lợ có đa dạng về các loại hình trang trại, nhưng chưa phát triển nhiều về số lượng Toàn huyện có 58 trang trại, chiếm 1,66% trong tổng số trang trại toàn tỉnh Trong tổng số có 34 trang trại chăn nuôi lợn, 18 trang trại trồng cây ăn quả gồm nhóm cây có múi như cam, chanh, bưởi Ngoài ra, các loại hình trang trại khác cũng có phát sinh nhưng số lượng rất ít
Trang trại của Thị Xã Bến Tre cũng đang được phát triển, tập trung ở các xã vùng ven, toàn Thị Xã hiện có 26 trang trại, chiếm 0,74% trong tổng số trang trại
Trang 29toàn tỉnh, các loại hình trang trại tuy chưa phát triển với số lượng nhiều nhưng khá đa dạng, gồm các trang trại trồng cây ăn quả, chăn nuôi bò, nuôi lợn và nuôi thủy sản
3.2.3.2 Đặc điểm chung của các trang trại tỉnh Bến Tre
Mặc dù trong các năm gần đây, trang trại trong tỉnh Bến Tre tăng khá nhanh
về số lượng, nhưng đặc điểm chung của trang trại tỉnh Bến Tre là có quy mô và trình độ trung bình về sử dụng đất, vốn, lao động Đa số các trang trại chỉ đạt một trong hai tiêu chí quy định Trang trại chỉ đạt một tiêu chí giá trị gồm trang trại trồng cây ăn quả, sản xuất giống hoa kiểng, chăn nuôi và nuôi thủy sản thâm canh Các trang trại chỉ đạt một tiêu chí về quy mô gồm hầu hết các trang trại nuôi thủy sản quảng canh, các trang trại này có diện tích đạt tiêu chí trang trại nhưng phần nhiều là không có vốn đầu tư, cả trình độ nuôi và hiệu quả đều đạt thấp
Nhìn chung, phần đông trang trại sản xuất có quy mô nhỏ, dưới hạn điền nhưng khó có khả năng tích tụ ruộng đất để phát triển quy mô diện tích, tổng diện tích các trang trại sử dụng là 10.309 ha, bình quân 1 trang trại chỉ sử dụng 2,9 ha đất nông, lâm, thủy sản Qua các cuộc điều tra trang trại hàng năm, diện tích này không tăng lên đáng kể
Trong năm 2007, tổng số vốn các trang trại sử dụng là 873 tỉ đồng, trong đó phần nhiều là vốn của chủ trang trại 682 tỉ đồng, chiếm 78% trong tổng số vốn, nguồn vốn vay và thu hút bên ngoài chỉ chiếm 22%, bình quân một trang trại sử dụng vốn 251 triệu Đối với nguồn lực lao động, tổng số trang trại của tỉnh sử dụng 11.380 lao động, bình quân mỗi trang trại sử dụng 3,27 người/ trang trại, trong đó lao động của chủ trang trại chiếm 71,1%, lao động thuê mướn chỉ chiếm 28,1%, bình quân mỗi trang trại thuê mướn 0,95 người Điều đáng quan tâm là trình độ của đội ngũ lao động đạt thấp so với yêu cầu phát triển, phần lớn là lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm 91%, lao động có trình độ từ trung cấp trở lên chỉ đạt 5,6%
Trang 30Bảng 2: TÌNH HÌNH CHUYÊN MÔN VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LAO ĐỘNG
Lao động thường xuyên
Tổng
số
Lao động của chủ hộ trang trại
Lao động thuê mướn
Tổng
số
Lao động của chủ hộ trang trại
Lao động thuê mướn
Tổng số 11.380 8.093 3.286 100,00 100,00 100,00Không có chuyên môn kỹ
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre năm 2007
Đối với chủ trang trại, hầu hết các chủ trang trại xuất thân từ nông dân, trình
độ sản xuất phần lớn chưa qua đào tạo Qua kết quả điều tra toàn tỉnh có 3.227 chủ trang trại là nông dân, chiếm 92,7% trong tổng số trang trại Về trình độ chuyên môn, phần lớn chủ trang trại chưa qua đào tạo, hoạt động sản xuất dựa vào kinh nghiệm, học tập kinh nghiệm lẫn nhau hoặc tiếp cận công nghệ mới thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến ngư và các thông tin kỹ thuật trên báo, đài Tổng số chủ trang trại chưa qua đào tạo là 3.136 người chiếm 90% trong tổng số, trình độ sơ cấp và trung cấp 261 người, chiếm 7,7%, cao đẳng đại học 82 người chiếm 2,3% Nhìn chung trình độ của lực lượng lao động trong các trang trại đạt thấp, nguồn vốn đầu tư phát triển còn thiếu, quy mô diện tích đất trang trại đang sử dụng còn hạn chế, hầu hết quy trình sản xuất của trang trại sử dụng lao động thủ công là chính, chưa ứng dụng nhiều khâu cơ giới hóa trong sản xuất, hiệu quả và tính ổn định của trang trại còn mang tính bấp bệnh
3.2.3.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại tỉnh Bến Tre trong năm qua
Trong 12 tháng qua tổng thu của tất cả các trang trại đạt 697,2 tỷ đồng; trong đó thu từ hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 687,6 tỷ đồng, giá trị hàng hóa dịch dụ nông, lâm, thủy sản đạt 664,5 tỷ, tỷ suất hàng hóa đạt 96,6%, thu nhập 196,3 tỷ Bình quân 1 trang trại đạt giá trị tổng thu là 200,4 triệu, trong
Trang 31đó thu từ hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 197,7 triệu đồng, giá trị hàng hóa dịch vụ là 191 triệu đồng, thu nhập đạt 56,4 triệu
Bảng 3: KẾT QUẢ SẢN XUẤT TRONG 12 THÁNG QUA CỦA TỪNG
LOẠI HÌNH TRANG TRẠI
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chia theo loại hình sản xuất kinh doanh
chính Tổng
số
Trồng cây hàng năm
Trồng cây lâu năm
Chăn nuôi
Nuôi trồng thủy sản
Sản xuất kinh doanh
Tổng số vốn sản xuất
kinh doanh 873.143 37.685 96.176 86.616 640.463 12.203Tổng thu sản xuất kinh
doanh 697.279 18.454 63.405 122.902 473.681 18.837
- Thu từ nông, lâm,
thủy sản 687.653 17.917 60.985 118.477 471.491 18.783 + Giá trị sản phẩm
nông, lâm, thủy sản 664.545 17.588 59.664 105.522 463.433 18.338
- Thu từ nông, lâm,
thủy sản 197,7 111,3 96,6 255,9 213,8 988,6+ Giá trị sản phẩm
nông, lâm, thủy sản 191 109,2 94,6 227,9 210,2 965,2
- Thu từ các hoạt động
phi nông, lâm, thủy sản 2,8 3,3 3,8 9,6 1 2,8Thu nhập trước thuế 56,4 42,6 53,3 52,8 57,9 193,4
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre năm 2007
Trong các loại trang trại, trang trại sản xuất tổng hợp có nguồn vốn đầu tư cao nhất, trung bình 642 triệu đồng/trang trại, thu nhập bình quân một trang trại tổng hợp cũng cao hơn các loại hình trang trại khác, đạt 193 triệu đồng Trang trại nuôi thủy sản có vốn đầu tư bình quân một trang trại đạt 290,5 triệu đồng,
Trang 32cao thứ hai trong các loại hình trang trại, riêng trong năm 2007 bình quân một trang trại nuôi thủy sản tăng thêm vốn đầu tư là 56,4 triệu đồng, thu nhập bình quân một trang trại đạt 58 triệu đồng Trang trại trồng cây hàng năm gồm những trang trại trồng hoa kiểng và sản xuất cây giống, mặc dù sử dụng quy mô diện tích đất ít nhưng đầu tư vốn khá cao, bình quân mỗi trang trại đầu tư vốn sản xuất
là 234 triệu đồng, cao hơn trang trại chăn nuôi và trồng cây ăn quả, năm 2007 bình quân một trang trại tạo ra giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ là 109 triệu đồng và lợi nhuận đạt 42,6 triệu đồng Trang trại chăn nuôi mặc dù có nhu cầu vốn cao, nhưng do vốn lưu động được quay vòng nhanh hơn các loại hình khác, bình quân 02 lần trong năm, nên mức vốn đầu tư không cao, bình quân một trang trại đầu tư là 187 trang trại, tạo ra giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 228 triệu đồng và thu nhập bình quân một trang trại chăn nuôi là 53 triệu đồng Trang trại trồng cây lâu năm có vốn sản xuất kinh doanh bình quân một trang trại là 152,4 triệu đồng, trong đó trang trại trồng dừa là 100 triệu đồng, cây ăn quả đạt
153 triệu đồng, các trang trại trồng cây ăn quả, trồng cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như cam, sầu riêng, măng cụt, trong các loại hình, trang trại trồng cây lâu năm có vốn đầu tư đạt thấp nhất Năm 2007, bình quân một trang trại trồng cây lâu năm đạt giá trị sản lượng hàng hóa là 100,5 triệu đồng, trong đó dừa là 105 triệu đồng, cây ăn quả 94 triệu đồng, thu nhập bình quân một trang trại trồng cây lâu năm là 53,3 triệu đồng, trong đó dừa là 72 triệu đồng và cây ăn quả là 53 triệu đồng
Trang 33Bảng 4: BIỂU HIỆN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KNH DOANH KINH TẾ
TRANG TRẠI TỈNH BẾN TRE NĂM VỪA QUA
Tổng số
Trồng cây hàng năm
Trồng cây lâu năm
Chăn nuôi
Nuôi trồng thủy sản
Sản xuất kinh doanh tổng hợp
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre năm 2007
Tùy theo năng lực sản xuất của chủ trang trại cũng như các điều kiện , môi trường thuận lợi hay không mà từng loại hình trang trại cho hiệu quả sản xuất khác nhau Nếu xét hiệu quả trên đồng vốn đã đầu tư thì trang trại trồng cây lâu năm có hiệu quả nhất, đạt tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư 49,4%, loại hình trang trại này thường chỉ đầu tư vốn nhiều vào giai đoạn kiến thiết cơ bản, sang thời kỳ cho sản phẩm chi phí hàng năm không nhiều như các loại hình trang trại khác Trang trại tổng hợp cho hiệu quả trên vốn đầu tư đứng thứ hai, đạt 30,1%, đây là các trang trại kết hợp cho hiệu quả trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi thủy sản Trang trại chăn nuôi nhờ quay vòng vốn khá nhanh nên hiệu quả đầu tư trên đồng vốn đạt 28,2%, cao hơn trang trại nuôi thủy sản (19,95%) và trồng cây hàng năm (18,2%)
Nếu xét trên hiệu quả tổng thu thì trang trại trồng cây lâu năm vẫn cho hiệu quả cao nhất, tỷ lệ lợi nhuận trên giá trị tổng thu đạt 59,8%, kế đến là trang trại trồng cây hàng năm đạt 37,2%, nuôi thủy sản đạt 27%, trang trại chăn nuôi đạt 19,9%, trang trại tổng hợp cho tỷ lệ lợi nhuận thấp nhất với 19,5%
Nếu xét hiệu quả đầu tư trên 01 ha đất canh tác thì trang trại chăn nuôi sử dụng đất ít nhất, nhưng lại cho hiệu quả trên đất cao nhất, đạt lợi nhuận 62 triệu
Trang 34đồng/ha, các loại gia súc, gia cầm được nuôi trên đất sản xuất nông nghiệp, vì vậy ngoài việc thu sản phẩm chăn nuôi, các trang trại còn có lợi nhuận thu được trên cây trồng nông nghiệp, do đó hiệu quả đầu tư trên đất của loại hình trang trại này là cao nhất Trang trại sử dụng đất có hiệu quả thứ hai là trang trại trồng cây hàng năm, lợi nhuận đạt 55,4 triệu đồng/ha, do đặc thù trang trại này là trồng hoa
và cây cảnh bonsai, mật độ trồng dày, hệ số quay vòng đất trong năm cao hơn các loại cây trồng khác, ngoài ra một số trang trại trồng cây hàng năm sản xuất cây giống, đặc điểm của cây giống là ươm dưới bóng râm của tán cây lâu năm, vì vậy chủ trang trại ngoài việc thu lợi nhuận từ sản xuất cây giống, còn thu lợi nhuận từ sản xuất cây trồng lâu năm, do vậy hiệu quả sử dụng đất của loại hình trang trại này đạt hiệu quả cao Trang trại tổng hợp sử dụng phương thức sản xuất kết hợp vườn – ao – chuồng, đây là mô hình sử dụng đất có hiệu quả, lợi nhuận bình quân trên một ha đất canh tác trong một năm đạt 49,6 triệu đồng Trang trại trồng cây lâu năm mặc dù có hiệu quả cao nhất trên đồng vốn nhưng lại không cao trong hiệu quả sử dụng đất, bình quân một trang trại trồng cây lâu năm cho lợi nhuận 28,4 triệu đồng/ha Trang trại nuôi thủy sản có hiệu quả sử dụng đất thấp nhất, đạt 14,4 triệu đồng/ha, do trong tổng số trang trại nuôi thủy sản có số lượng trang trại nuôi quảng canh chiếm tỷ lệ hơn 50%, các trang trại này đa số chỉ đạt tiêu chí về quy mô diện tích nhưng tổng thu và hiệu quả đạt rất thấp, tập trung nhiều ở huyện Thạnh Phú
3.2.3.4 Những khó khăn hiện nay trong quá trình phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Bến Tre
Tình hình phát triển kinh tế trang trại hiện nay của tỉnh Bến Tre bên cạnh những mặt thuận lợi thì còn gặp không ít những khó khăn trên nhiều mặt
Thứ nhất, về vốn sản xuất, mặc dù loại hình kinh tế trang trại đã khai thác
có hiệu quả nội lực, tuy nhiên thực tế khả năng vốn vẫn thiếu so với nhu cầu đầu
tư phát triển Toàn tỉnh hiện nay có 1.940 trang trại thiếu vốn, chiếm 55,7% trong tổng số trang trại, trong đó có 1.357 trang trại thủy sản, 249 trang trại chăn nuôi
và 322 trang trại trồng trọt
Thứ hai, về vấn đề tiêu thụ sản phẩm Tổng số có 1.039 trang trại của tỉnh gặp khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, chiếm 29,86% trong tổng số trang trại, tập trung nhiều vào trang trại nuôi thủy sản, trồng cây ăn quả và chăn nuôi Vấn đề
Trang 35đặt ra là sản phẩm muốn tiệu thụ tốt trên thị trường hướng tới xuất khẩu phải là sản phẩm sạch, có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế Trong khi đó, chất lượng sản phẩm trong những năm gần đây tuy ngày càng được nâng lên, nhưng còn nhiều vấn đề gây khó khăn trong tiêu thụ như dư lượng thuốc kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật trong chăn nuôi, trồng trọt, kích cỡ của sản phẩm chưa đồng đều,phẩm chất thịt chưa đạt tiêu chuẩn, sản xuất còn manh mún…
Thứ ba, thiếu khoa học kỹ thuật, đây là yếu tố quan trọng góp phần tạo ra kết quả và hiệu quả sản xuất Mặc dù hiện nay nhà nước có nhiều chương trình khuyến nông, khuyến ngư, tư vấn kỹ thuật đến từng hộ, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất ngày càng phát triển về năng suất, chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Toàn tỉnh hiện nay có 1.843 trang trại gặp khó khăn do thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, chiếm 52,9% trong tổng số trang trại
Thứ tư, thiếu thông tin về thị trường, hiện nay có 1.125 trang trại trong tỉnh gặp khó khăn về vấn đề này, chiếm 32,3% trong tổng số trang trại, tập trung phần lớn đối với trang trại nuôi thủy sản 617 trang trại, trồng cây ăn quả có 310 trang trại, chăn nuôi có 152 trang trại
3.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÒ TẠI HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE
3.3.1 Định hướng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò của Huyện
Ba Tri là một trong những huyện vùng biển của tỉnh Bến Tre, có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế Đất sản xuất tương đối lớn, hệ thống đê bao ngăn mặn được khép kín, đây là điều kiện thuận lợi để người dân của huyện khai thác hết tiềm năng phát triển nền kinh nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng Căn cứ đề
án chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nước lợ trong Tỉnh giai đoạn
2005 – 2010 của Uỷ ban nhân tỉnh Bến Tre; Nghị quyết số 04 – NQ/HU ngày 13/4/2006 của Huyện ủy về đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2006 – 2010; Kế hoạch số 66/UBND ngày 10/6/2006 của Ủy ban nhân huyện Ba Tri về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi giai đoạn 2005 – 2010 Huyện Ba Tri có những định hướng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò như sau:
Trang 36- Nâng cấp phát triển giống bò lai Sind và phát triển mạnh theo hướng thịt Xây dựng các dự án lai tạo giống bò thịt lai Sind và đặc biệt phát triển giống bò đực chất lượng cao để nâng tầm vóc và tỷ lệ nạc, tạo tiền đề cho việc phát triển chăn nuôi bò theo nhu cầu thị trường và chuyển đổi giống vật nuôi trong chăn nuôi, từ đó khuyến khích phát triển chăn nuôi bò theo hình thức trang trại
- Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò nhằm giải quyết việc làm, đồng thời tận dụng sản phẩm phụ trong sản xuất nông nghiệp góp phần tăng thu nhập, tạo nguồn tích lũy nâng cao đờ sống kinh tế ổn định xã hội cho người dân trong Huyện
- Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò đi đôi với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ vùng đất trồng cây hiệu quả thấp sang trồng có phục vụ cho chăn nuôi bền vững Đồng thời phát triển nhiều dịch vụ cho chăn nuôi, sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi bò Tạo điều kiện nâng cao thu nhập mang lại hiệu quả xóa đói giảm nghèo cho người dân
- Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò luôn khuyến khích, tuyên truyền vận động, khuyến cáo người dân phát triển giống tốt, chất lượng cao và thực hiện pháp lệnh về giống, vật nuôi, về quản lý dịch bệnh để chăn nuôi được an toàn và đạt hiệu quả
- Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò luôn đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, có hầm xử lý biogas và các điều kiện xử lý chất thảy khác
- Tiếp tục phát triển đàn bò lai Sind, phấn đấu đến năm 2010 đạt tổng đàn
bò là 86.000 con với 242 trang trại đạt tiêu chí
3.3.2 Hiện trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi bò trong những năm gần đây tại Huyện Ba Tri
3.3.2.1 Kinh tế trang trại chăn nuôi bò của huyện Ba Tri tăng nhanh về
số lượng và phân bố rộng khắp trên địa bàn Huyện
Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi bò hiện nay của Huyện Ba Tri là người dân nuôi với qui mô nhỏ từ 4 – 7 con và đã có truyền thống chăn nuôi từ lâu đời nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm rất lớn từ nông nghiệp Đàn bò của Huyện trong những năm gần đây được người dân phát triển rất mạnh Theo số liệu thống kê hàng năm thường chiếm từ 60% đến 70% tổng số đàn bò của Tỉnh
Có được như vậy là nhờ vào truyền thống nuôi bò của người dân, nguồn thức ăn