của người lao động tỉnh Bắc Ninh chưa thực sự được chú trọng, công tác đào tạo nghề được tiến hành hàng năm nhưng chưa điều tra khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động, chưa đánh [r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đào tạo nghề cho lao động giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của đất nước Trong những năm qua Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến phát triển giáo dục đào tạo nói chung và công tác đào tạo nghề nói riêng Để có lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước thì nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề là vấn đề vô cùng cần thiết Tỉnh Bắc Ninh đang trên đà phát triển, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn
ra mạnh mẽ; nhu cầu về nhân lực càng cao; tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo chưa cao, chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề còn thấp, chưa đảm bảo đáp ứng nhu cầu;
cơ cấu đào tạo nghề chưa hợp lý Nhận định của người sử dụng lao động, đội ngũ lao động nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia
kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề, có tay nghề Do vậy, hoàn thiện công tác đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề là việc làm thiết thực hiện nay nhằm tạo ra một đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các vùng phụ cận Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu của mình
Kết cấu luận văn: Ngoài mục lục, lời mở đầu, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Trong chương này, trình bày 02 vấn đề chính, gồm: tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Mục tổng quan nghiên cứu trình bày một số công trình nghiên cứu đã được công
bố liên quan đến đề tài Tìm hiểu hướng tiếp cận, đối tượng nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, ưu điểm, hạn chế của công trình; vạch rõ vấn đề đã được nghiên cứu đến đâu, những
Trang 2gì còn chưa được xem xét, còn bỏ ngỏ, nguyên nhân của hiện trạng vấn đề… Từ đó, rút
ra được bài học kinh nghiệm cho công trình nghiên cứu của bản thân
Mục phương pháp nghiên cứu: chỉ ra cách tiếp cận, quy trình thực hiện của đề tài, nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Chương 2: Cơ sở lý luận về công tác đào tạo nghề
Trong chương này, tác giả đã khái quát một số vấn đề có tính chất lý luận về nghề, đào tạo nghề và mạng lưới cơ sở đào tạo nghề
Luật dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 đưa ra khái niệm như sau:
“Dạy (đào tạo) nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ
nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề và về hình thức dạy nghề bao gồm cả dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên
Luận văn giới thiệu một số hình thức đào tạo nghề chủ yếu cùng với các ưu và nhược điểm của các hình thức này, bao gồm: ĐTN chính quy; ĐTN tại nơi làm việc; Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp; ĐTN tại các trung tâm dạy nghề
Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề:
- Nhân tố bên trong: cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề; nguồn tài chính; đội ngũ giáo viên; cán bộ quản lý; phương pháp dạy học
- Nhân tố bên ngoài: yếu tố đầu vào, nhận thức của xã hội về học nghề, chính sách của nhà nước
Nội dung công tác đào tạo nghề được xem xét dưới các khía cạnh: mạng lưới cơ
sở đào tạo nghề, nhu cầu đào tạo nghề, mục tiêu đào tạo nghề, chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, đánh giá kết quả đào tạo nghề
Luận văn giới thiệu một số kinh nghiệm đào tạo nghề của một số nước trên thế giới: Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc
Chương 3: Phân tích thực trạng công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 3Đầu tiên, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề như thế nào?
- Vị trí địa lý: giáp ranh với thủ đô Hà Nội (trung tâm của tỉnh nằm cách trung tâm
Hà Nội 30 km), vị trí địa lý của tỉnh là một trong những thuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và khai thác các tiềm năng vốn có của tỉnh
- Bắc Ninh với nhiều làng nghề truyền thống, con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hóa, cần cù, sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như đồ gỗ mỹ nghệ, gốm sứ, đúc đồng, tranh vẽ dân gian
- Bắc Ninh hiện nay có hơn 600.000 người trong độ tuổi lao động, nhưng thiếu lao động có trình độ chuyên môn Nhiều sinh viên ra trường vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế
- Bắc Ninh có 15 khu công nghiệp, 28 cụm công nghiệp và nhiều làng nghề truyền thống Trong những năm qua, nền kinh tế của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực mang tính ổn định và vững chắc Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa Nhu cầu sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có tay nghề cao nhưng nguồn lao động hiện nay chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề hoặc làm việc không đúng chuyên môn được đào tạo nên hiệu quả mạng lại cho doanh nghiệp chưa cao
Thứ hai, phân tích thực trạng công tác đào tạo nghề ở các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh:
*) Thực trạng mạng lưới cơ sở đào tạo nghề
Hệ thống dạy nghề được triển khai rộng rãi trong tỉnh với các loại hình đào tạo cơ bản như sau: Trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, các trung tâm dạy nghề
Đến năm 2013, toàn tỉnh có 49 cơ sở đào tạo nghề (04 trường Cao đẳng nghề, 12 trường trung cấp nghề, 20 trung tâm dạy nghề và 7 cơ sở giáo dục có dạy nghề) Các cơ sở dạy nghề chủ yếu đào tạo ở trình độ sơ cấp, trung cấp nghề Mạng lưới dạy nghề chưa gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, chưa quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề theo nghề, các cơ sở
Trang 4dạy nghề đào tạo theo hướng đa ngành nghề, chưa chú ý đến việc đào tạo các nghề chuyên ngành
*) Thực trạng xác định nhu cầu đào tạo nghề
- Nhu cầu sử dụng lao động: xác định dựa trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát của Sở LĐTBXH Hàng năm Sở LĐTBXH chủ trì, phối hợp với Cục Thống kê tỉnh điều tra cầu lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
- Xác định nhu cầu học nghề của người lao động: Việc xác định nhu cầu học nghề của người lao động tỉnh Bắc Ninh chưa thực sự được chú trọng, công tác đào tạo nghề được tiến hành hàng năm nhưng chưa điều tra khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động, chưa đánh giá đầy đủ được đặc điểm, những khó khăn của người học nghề trước khi tiến hành đào tạo
Việc xác định nhu cầu đào tạo nghề có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đào tạo nghề, giúp quá trình nghiên cứu, thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo đảm bảo thiết thực với sự đòi hỏi thực tiễn, giúp đào tạo được gắn liền với thực tế
*) Xác định mục tiêu đào tạo nghề: đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng thị trường cả
về số lượng và chất lượng, phù hợp với nhu cầu nhân lực của tỉnh và các vùng lân cận; đào tạo gắn với việc làm; đảm bảo người lao động sau khi được đào tạo có khả năng làm việc hoặc tự tạo việc làm; phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo là 75%
*) Chương trình, giáo trình
Xây dựng chương trình đào tạo theo quy định tại quyết định số 01/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/1/2007 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ban hành quy định về chương trình khung trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề
Trong thời gian qua nội dung chương trình đào tạo nghề đã và đang được biên soạn
để phù hợp với sự thay đổi về kỹ thuật, công nghệ, sản xuất Tiếp cận và xây dựng chương trình đào tạo nghề theo mô đun Hàng năm, các cơ sở đều tổ chức rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo cho phù hợp với thực tế, tuy nhiên quá trình rà soát này mới thực hiện trong phạm vi nội bộ từng cơ sở, chưa thu thập được nhiều ý kiến phản hồi từ bên ngoài
*) Phương pháp đào tạo
Trang 5Các cơ sở dạy nghề của tỉnh chủ yếu vẫn áp dụng theo phương pháp giảng dạy truyền thống, thầy giảng – trò chép, nặng về lý thuyết, thực hành có nhưng không được thường xuyên Phương pháp đào tạo chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn một số bất cập; chưa tập trung nghiên cứu, kiểm định về phương pháp đào tạo; chưa xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp, doanh nghiệp tham gia dạy nghề
*) Kết quả đào tạo
Từ 2009-2013 đã dạy nghề cho 133.268 người, trong đó cao đẳng nghề là 1.475 người, trung cấp nghề 9.824 người, sơ cấp nghề là 122.326 người Số lượng lao động được đào tạo tăng lên đáng kể
Cơ cấu đào tạo nghề đã có những chuyển biến hợp lý, đi theo hướng phù hợp với
sự phát triển của tỉnh Tuy nhiên trong cơ cấu đào tạo nghề các nghề vẫn còn nhiều bất cập, một số ngành nghề có nhu cầu cao nhưng chưa được tập trung đào tạo
Chất lượng đào tạo:
+ Kết quả học tập của học sinh học nghề: số học sinh, sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá giỏi chiếm tỷ lệ trên 50%, tỷ lệ này có xu hướng tăng theo từng năm
+ Sự phù hợp công việc và ngành nghề đào tạo: Theo khảo sát của tác giả chỉ có 20% học sinh học nghề được làm đúng nghề đào tạo
+ Đánh giá về việc làm và thu nhập của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp: tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tại các trường tìm được việc làm trong vòng 12 tháng sau khi tốt nghiệp có xu hướng tăng lên qua các năm Khảo sát 50 người đã tốt nghiệp trường nghề,
có khoảng 70% sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm với mức lương khởi điểm từ 2-4 triệu đồng/tháng
+ Mức độ đáp ứng yêu cầu của công việc của người lao động đã qua đào tạo nghề:
ở mức trung bình – khá
+ Phẩm chất, thái độ lao động: hầu hết có phẩm chất, thái độ lao động tốt, có trách nhiệm với công việc được giao
Thứ ba, phân tích thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 6*) Nhân tố bên trong
- Đội ngũ giáo viên: Tổng số giáo viên dạy nghề năm 2013 là 1440 người trong đó giáo viên dạy ở các trường cao đẳng nghề là 329 người, giáo viên dạy ở các trường TCN
là 369 người, giáo viên dạy ở các TTDN là 523 người, ở các cơ sở khác có dạy nghề là
219 người Đội ngũ giáo viên ngày càng phát triển về số lượng, phù hợp về cơ cấu ngành nghề, không ngừng nâng cao năng lực
- Cán bộ quản lý dạy nghề: còn chưa chuyên nghiệp, thiếu kinh nghiệm quản lý dạy nghề, số lượng cán bộ QLDN ở địa phương còn ít, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao
- Tài chính cho đào tạo: có vai trò quan trọng trong việc mở rộng quy mô đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề Hiện nay, ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương vẫn là nguồn tài chính chủ yếu chi cho đào tạo nghề tại các trường trong tỉnh, các nguồn khác chỉ chiếm một phần nhỏ Đây là một khó khăn trong quá trình đào tạo vì NSNN cấp rất hạn chế và ở mức thấp so với khu vực và quốc tế
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề: đã được quan tâm đầu tư, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo hiện nay Trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo nghề hiện nay còn thiếu và lạc hậu Cơ sở vật chất thì chật hẹp, xưởng thực hành chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo
*) Nhân tố bên ngoài
- Yếu tố đầu vào: chất lượng đầu vào của các trường nghề thấp do học sinh ở các trường nghề phần lớn là do thi trượt các trường ĐH, CĐ hoặc khả năng học văn hóa yếu Hầu hết các học sinh nộp hồ sơ đều có thể tham gia học nghề do chỉ tiêu đào tạo lớn hơn
số học sinh tham gia dự tuyển
- Chủ trương chính sách: có cơ chế chính sách để người có nhu cầu học nghề có thể tham gia học nghề một cách dễ dàng; các điều kiện đảm bảo chất lượng được cải thiện
Cơ chế chính sách quản lý và phát triển dạy nghề chưa đồng bộ
Công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề ở tỉnh Bắc Ninh vẫn còn hạn chế: chất lượng đào tạo nghề đã có chuyển biến nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm Cơ cấu đào tạo theo cấp trình độ và nghề đào
Trang 7tạo chưa hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho sản xuất và thị trường lao động Việc chuyển đào tạo nghề từ năng lực có sẵn của cơ sở dạy nghề sang đáp ứng nhu cầu xã hội và thị trường lao động còn chậm, chưa thiết lập được mối liên hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp với cơ sở dạy nghề
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương này trình bày sơ lược định hướng và mục tiêu phát triển của đào tạo nghề trong thời gian tới và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề tại các cơ
sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Đổi mới nhận thức về đào tạo nghề: Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, thay đổi cách nhìn về học nghề, từ đó hướng nghiệp, phân luồng học sinh hợp lý
- Giải pháp về cơ chế, chính sách: tạo lập cơ chế, chính sách thu hút các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục đào tạo nghề; xây dựng cơ chế phối hợp giữa ba bên: các cơ sở dạy nghề - trung tâm GTVL – doanh nghiệp; đổi mới chính sách tài chính về dạy nghề; chính sách đối với người lao động qua đào tạo nghề; quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề; bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo thuận lợi cho việc phân luồng, dổi mới hoạt động giáo dục và tư vấn hướng nghiệp trong trường phổ thông và ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; xây dựng chính sách phát triển dạy nghề trong các làng nghề; nâng cao năng lực QLNN về dạy nghề
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực đào tạo cho các cơ sở dạy nghề: nâng cấp cơ
sở vật chất, trang thiết bị cho đào tạo nghề, liên kết với các doanh nghiệp để tận dụng trang thiết bị có sẵn của doanh nghiệp phục vụ dạy nghề; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo; tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong quá trình đào tạo và sử dụng lao động; đa dạng hóa hình thức đào tạo; đổi mới phương pháp dạy học; giải pháp đối với giáo viên dạy nghề
KẾT LUẬN
Như vậy, luận văn đã hệ thống hóa và phát triển những lý luận về công tác đào tạo nghề Trên cơ sở đó, luận văn đã thu thập thông tin, tìm hiểu và phân tích thực trạng về
Trang 8công tác đào tạo nghề, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh