Là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện nh[r]
Trang 1@˜™?
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI -
- 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài - 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 3
1.2.1 Mục tiêu chung -3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể - 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu - 3
1.3.1 Không gian - 3
1.3.2 Thời gian - 3
1.3.3 Đối t ượng nghiên cứu - 3
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LU ẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -
- 4
2.1 Phương pháp luận - 4
2.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại - 4
2.1.2 Tổng quan về hoạt động tín dụng trong ngân hàng - 5
2.1.2.1 Khái niệm tín dụng - 5
2.1.2.2 Nội dung phân tích hoạt động tín dụng - 5
2.1.2.3 Nguyên tắc của tín dụng - 7
2.1.2.4 Hợp đồng tín dụng - 8
2.1.2.5 Điều kiện cấp tín dụng - 8
2.1.2.6 Tín dụng trung và dài hạn - 9
2.1.2.7 Rủi ro tín dụng - 10
2.1.3 Những chỉ tiêu được sử dụng để phân tích và đánh giá - 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu - 12
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu - 12
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu - 13
2.2.2.1 Phương pháp so sánh - 13
Trang 2Chương 3: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HẬU GIANG -14
3.1 Vài nét về ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - 14
3.2 Giới thiệu chung về ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hậu Giang - 14
3.3 Sơ đồ tổ chức ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hậu Giang 15
3.3.1 Sơ đồ tổ chức - 15
3.3.2 Chức năng của từng bộ phận - 16
3.4 Quy trình xét duyệt cho vay - 17
3.5 Đánh giá chung về hoạt động của ngân hàng -18
3.5.1 Tình hình nguồn vốn - 18
3.5.2 Tình hình tài sản - 25
3.5.3 Kết quả hoạt động kinh doanh - 29
Chương 4: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HẬU GIANG -32
4.1 Phân tích tổng quát tình hình hoạt động tính dụng của ngân hàng - 32
4.1.1 Về tình hình dư nợ và vòng quay vốn tín dụng - 33
4.1.2 Tình hình nợ xấu, tổng quỹ dự phòng và tổng giá trị tài sản đảm bảo 37
4.2 Phân tích hoạt động tín dụng trung và dài hạn - 39
4.2.1 Về tình hình dư nợ trung và dài hạn - 40
4.2.2 Về vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn -40
4.2.3 Hệ số thu nợ của ngân hàng trong ba năm qua - 42
4.2.4 Về tình hình nợ xấu trung và dài hạn - 43
4.3 Phân tích hoạt động tính dụng trung và dài hạn theo ngành kinh tế - 44
4.3.1 Tình hình dư nợ trung và dài hạn phân theo ngành kinh tế - 44
4.3.2 Vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn theo nganh kinh tế - 48
4.3.3 Tình hình thu nợ trung và dài hạn phân theo ngành kinh tế - 50
4.3.3 Nợ xấu trung và dài hạn phân theo ngành kinh tế - 52
Trang 3ngành kinh tế - 56
4.4 Phân tích hoạt động tín dụng trung và dài hạn theo loại hình doanh nghiệp- - 58
4.4.1 Dư nợ trung và dài hạn theo loại hình doanh nghiệp - 58
4.4.2 Phân tích tình hình nợ xấu trung và dài hạn phân theo loại hình DN - 64
4.4.3 Phân tích chỉ số nợ xấu trên dư nợ trung và dài hạn phân theo loại hình doanh nghiệp - 68
4.5 Tổng hợp nhữ nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng trong ba năm qua - 70
Chương 5: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG - 71
5.1 Những mặt đạt được và hạn chế của ngân hàng - 71
5.1.1 Những mặt đạt được trong ba năm qua - 71
5.1.2 Những còn hạn chế - 73
5.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng - 75
5.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động - 77
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1 Kết luận - 78
6.2 Kiến nghị - 79
6.2.1 Kiến nghị đối với NHNN - 79
6.2.2 Kiến nghị đối với NHNo&PTNT TW - 80
6.2.3 Kiến nghị đối với Chính quyền địa phương - 81
6.2.4 Kiến nghị đối với Ban giám đốc NHNo&PTNT Hậu Giang - 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 83
Trang 4@˜™?
Trang
Bảng 1: Khung lãi suất huy động bình quân dành cho TCKT và cá nhân
trong ba năm (2006-2008) - 21 Bảng 2: Tổng hợp nguồn vốn của ngân hàng trong ba năm (2006-2008) - 24 Bảng 3: Khung lãi suất cho vay bình quân dành cho TCKT và cá nhân
trong ba năm (2006-2008) - 25 Bảng 4: Tổng hợp tài sản của ngân hàng trong ba năm (2006-2008) - 27 Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
trong ba năm (2006-2008) - 29 Bảng 6: Tổng hợp tình hình hoạt động tín dụng trong ba năm (2006-2008) - 32 Bảng 7: Tình hình vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng
trong ba năm (2006-2008) - 36 Bảng 8: Hệ số thu nợ của ngân hàng trong ba năm (2006-2008) - 36 Bảng 9: Tình hình hoạt động tín dụng trung và dài hạn
trong ba năm (2006-2008) - 39 Bảng 10: Tình hình vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn
trong ba năm (2006-2008) - 40 Bảng 11: Tình hình thu nợ trong cho vay trung và dài hạn
trong ba năm (2006-2008) - 42 Bảng 12: Dư nợ trung và dài hạn phân theo nghành kinh tế ba năm (2006-2008) - 44 Bảng 13: Bảng tổng hợp tình hình vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn
phân theo ngành kinh tế trong ba năm (2006-2008) - 48 Bảng 14: Hệ số thu nợ trung và dài hạn phân theo ngành kinh tế
trong ba năm (2006-2008) - 50 Bảng 15: Tình hình nợ xấu trung và dài hạn phân theo nghành kinh tế
trong ba năm (2006-2008) - 52 Bảng 16: Tổng hợp chỉ số nợ xấu trên dư nợ phân theo ngành kinh tế
Trang 5Bảng 17: Tình hình dư nợ trung và dài hạn phân theo loại hình doanh nghiệp
trong ba năm (2006-2008) - 58 Bảng 18: Tổng hợp tình hình nợ xấu trung và dài hạn phân theo loại hình
doanh nghiệp trong ba năm (2006-2008) - 64 Bảng 19: Chỉ số nợ xấu trên dư nợ trung và dài hạn phân theo
loại hình doanh nghiệp trong ba năm (2006-2008) - 68
Trang 6@˜™?
Trang
Hình 1: Quy trình cho vay theo dự án đầu tư - 9
Hình 2: Sơ đồ tổ chức của NHNo&PTNT Hậu Giang -15
Hình 3: Đồ thị biểu diễn tỷ trọng dư nợ phân theo thời hạn tín dụng -34
Hình 4: Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn phân theo nghành kinh tế -44
Hình 5: Tỷ trọng nợ xấu trung và dài hạn phân theo ngành kinh tế -53
Hình 6: Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn phân theo loại hình doanh nghiệp -59
Hình 7: Tỷ trọng nợ xấu trung và dài hạn phân theo loại hình doanh nghiệp -65
Trang 7@˜™?
- CTCP: Công ty cổ phần
- CN&TMDV: Công nghiệp và thương mại dịch vụ
- DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
- DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
- ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
- KBNN: Kho bạc Nhà nước
- NHNN: Ngân hàng Nhà nước
- NHTM: Ngân hàng thương mại
- NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
- NHNo&PTNT: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 8Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hậu Giang từ năm 2006 đến năm
2008 đề tài “Phân tích hoạt động tín dụng trung hạn và dài hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hậu Giang” bằng phương pháp so sánh,
phương pháp tỷ trọng và sử dựng các chỉ số đã phân tích và đánh giá được tính hiệu quả của hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại đơn vị trong ba năm qua
Nguồn vốn của ngân hàng trong ba năm qua tuy có tăng nhưng với tốc độ khá chậm và chưa thật sự ổn định Nguồn vốn của ngân hàng đa phần là vốn huy động trong đó vốn huy động không kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng rất cao Lãi suất huy động trong ba năm qua có chiều hướng gia tăng làm cho chi phí huy động vốn trở thành gánh nặng đối với ngân hàng
Tài sản sinh lời chủ yếu của ngân hàng là các khoản đầu tư vào hoạt động tín dụng, nhưng trong năm 2008 hoạt động tín dụng gặp rất nhiều khó khăn đã dẫn đến
sự thua lỗ của ngân hàng Nợ xấu trong ba năm qua có tốc độ gia tăng chóng mặt và chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự tiến triển trong hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng trung và dài hạn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn và còn thấp hơn nhiều so với hiệu quả của tín dụng ngắn hạn Vì thế trong những năm sắp tới ngân hàng cần chú trọng hơn nửa vào hoạt động tín dụng trung và dài hạn vì đây là một nghiệp vụ mang lại thu nhập ổn định cho ngân hàng đồng thời đáp ứng nhu cầu nguồn vốn phục vụ cho những dự án đầu tư mang lại lợi ích kinh tế và xã hội cho địa phương
Tín dụng trung và dài hạn có hiệu quả nhất khi đẩy mạnh đầu tư vào ngành nông nghiệp và hạn chế cho vay vào nhóm ngành lâm nghiệp, ngư nghiệp và tiêu dùng Bên cạnh đó, hiệu quả của tín dụng trung và dài hạn cũng được nâng cao khi đẩy mạnh cho vay vào doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đồng thời hạn chế cho vay trung và dài hạn vào hộ gia đình và cá thể
Trang 9kỳ một sự bất ổn nào của kinh tế thế giới đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến nền kinh tế Việt Nam Thật vậy, trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn và thách thức như tình trạng khủng hoảng của
hệ thống tài chính trên phạm vi toàn cầu, nguy cơ khủng hoảng năng lượng, lương thực trên toàn thế giới cùng với sự bất ổn về chính trị của nhiều quốc gia đã đẩy nền kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái Là một bộ phận của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi lâm vào tình trạng trì trệ và mất ổn định trong gần hai năm trở lại đây Lạm phát ở mức cao làm cho giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu trở nên đắt đỏ, sản xuất và tiêu dùng trong nước bị đình trệ dẫn đến hầu hết các đơn vị kinh tế trong nước đều gặp nhiều khó khăn Cùng với việc trong những năm qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không ngừng đẩy mạnh chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua nâng lãi suất cơ bản Điều đó đã làm cho lãi suất huy động và lãi suất cho vay không ngừng tăng cao (hiện tại đã có những điều chỉnh theo chiều hướng giảm) đã trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các thành phần kinh tế trong công tác mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn vay từ các ngân hàng Đồng thời nó cũng đã tạo ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc trả lãi và nợ gốc cho ngân hàng Chính điều này đã gây ra những khó khăn cho hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động của các Ngân hàng thương mại (NHTM) nói chung Bên cạnh đó, theo lộ trình cam kết 7 năm của Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và 5 năm với WTO thì lĩnh vực tài chính ngân hàng, một lĩnh vực hết sức nhạy cảm trong nền kinh tế nước ta hiện nay, gần như phải mở cửa hoàn toàn vào năm 2007, tạo ra một áp lực cạnh tranh cực lớn lên các NHTM Việt nam đặc biệt là trong hoạt động tín dụng và thanh toán quốc tế
Trang 10Là một ngân hàng chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT) Việt Nam (một NHTM Quốc doanh), NHNo&PTNT Hậu Giang ngoài những khó khăn của một đơn vị kinh tế còn non trẻ (được thành lập vào ngày 15/3/2004) đã không tránh khỏi những khó khăn chung của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay Hoạt động tín dụng (đây là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng) không mang lại hiệu quả như mong muốn, các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế bị cạnh tranh gây gắt, quy mô thu hút vốn trong khu vực
có nguy cơ bị thu hẹp do sự xuất hiện của nhiều NHTM trên địa bàn đặc biệt là NHTM Cổ phần Liên Việt có trụ sở tại đây
Bên cạnh đó, như chúng ta điều biết hoạt động tín dụng trung và dài hạn là một hoạt động mang lại nguồn thu khá ổn định, lâu dài và tốn ít chi phí nghiệp vụ đối với các NHTM Đồng thời nó cũng tạo ra lợi ích rất lớn cho cả nền kinh tế, vì hầu hết các hợp đồng vay vốn trung và dài hạn đều đầu tư vào những dự án mang lại lợi ích kinh tế và xã hội trong tương lai Mặt khác, Hậu Giang là một tỉnh mới chia tách và đang là một trong những trung tâm thu hút đầu tư của Đồng bằng Sông Cửu Long nên nhu cầu về vốn để kiến thiết và xây dựng tỉnh nhà là rất lớn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn Chính vì vậy hầu hết các NHTM trên địa bàn đều dành nhiều
sự quan tâm đến hoạt động này Tuy nhiên, tín dụng trung và dài hạn là một hoạt động ẩn chứa nhiều rủi ro hơn tín dụng ngắn hạn nên đòi hỏi các NHTM cần có sự quản lý đăc biệt, phân tích và dự báo tình hình kinh tế thật sự chính xác, thẩm định khoa học để lựa chọn khách hàng nhằm tránh gặp phải rủi ro có thể xảy ra
Nhận thấy được những khó khăn trước mắt và tầm quan trọng của nghiệp vụ tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là tín dụng trung và dài hạn, nên
tôi quyết định chọn đề tài thực tập tốt nghiệp là: “Phân tích hoạt động tín dụng trung hạn và dài hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hậu Giang” Việc thực hiện đề tài là để thấy được những thuận lợi và khó khăn của đơn
vị trong thời điểm hiện tại qua đó đề xuất những giải pháp khắc phục khó khăn và phát huy những thế mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị nói chung và hoạt động tín dụng trung và dài hạn nói riêng
Trang 111.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hoạt động tín dụng trung hạn và dài hạn tại NHNo&PTNT Hậu
- Tìm ra những mặt làm được và chưa làm được của đơn vị trong thời gian qua
từ đó xuất những giải pháp để nâng hiệu quả của hoạt động tín dụng trung và dài hạn nói riêng và hoạt động của cả ngân hàng nói chung trong thời gian sắp tới
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Không gian
Đề tài được nghiên cứu tại phòng hành chính nhân sự và phòng kế hoạch kinh doanh của NHNo&PTNT Hậu Giang
1.3.2 Thời gian
Đề tài này sử dụng số liệu và thông tin được NHNo&PTNT Hậu Giang thu thập và tổng hợp trong ba năm 2006, 2007, 2008 Đề tài này được thực hiện từ ngày 02/02/2009 đến 24/04/2009
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại NHNo&PTNT Hậu Giang chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trang 12Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa
nó kinh doanh loại hàng hóa rất đặc biệt đó là tiền tệ Thực chất là các NHTM kinh doanh quyền sử dụng vốn Nghĩa là NHTM nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế xã hội, và sử dụng số tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn trả lại vốn gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thỏa thuận
Theo luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) 2003 thì hoạt động ngân hàng được xác định là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
Nói theo bản chất thì hoạt động của NHTM một phần nào đó tương tự như một doanh nghiệp kinh doanh bình thường khác NHTM giống một doanh nghiệp bình thường ở chổ cũng là một đơn vị kinh doanh vì lợi nhuận, có vốn chủ sở hữu, có bộ máy tổ chức để quản lý và hoạt động trong lĩnh vực riêng của mình theo quy định của luật pháp Tất cả những điều kiện đó nói lên rằng kinh doanh của các NHTM cũng là một loại kinh doanh bình thường không có gì đặc biệt Nhưng khi nhìn vào đối tượng kinh doanh của NHTM chúng ta sẽ thấy kinh doanh của NHTM là một loại hình kinh doanh đặc biệt
Khác với các doanh nghiệp, NHTM không trực tiếp tham gia sản xuất và lưu thông hàng hóa, nhưng nó góp phần phát triển nền kinh tế xã hội thông qua việc cung cấp vốn tín dụng cho nền kinh tế, thực hiện chức năng trung gian tài chính và
và dịch vụ tài chính Đối tượng kinh doanh của NHTM như đã nêu ở trên là quyền
sử dụng vốn thông qua các nghiệp vụ tín dụng và thanh toán của các NHTM Việc tạo tiền của NHTM lại được thực hiện bằng thu hút tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước
Trang 132.1.2 Tổng quan về hoạt động tín dụng trong ngân hàng 2.1.2.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một hoạt động ra đời và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hoá Tín dụng là một mối quan hệ kinh tế thể hiện dưới hình thức vay mượn và có hoàn trả Ngày nay tín dụng được hiểu theo những định nghĩa sau đây:
- Định nghĩa 1: Tín dụng là một quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái
tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định
- Định nghĩa 2: Tín dụng là một phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng
vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa
- Định nghĩa 3: Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái
chủ - người cho vay) cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán… dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (thụ trái – người đi vay)
Mặc dù tín dụng được diễn đạt bằng nhiều lời lẽ khác nhau, nhưng chúng cùng chỉ những hành động thống nhất: Hoạt động cho vay và đi vay, quan hệ này được ràng buộc trên cơ sở pháp luật hiện hành
2.1.2.2 Nội dung phân tích hoạt động tín dụng
- Doanh số cho vay: Là tất cả các khoản tín dụng (số tiền) mà ngân hàng cho
khách hàng vay trong một thời gian nhất định (thông thường là một năm)
- Doanh số thu nợ: Là tất cả các khoản tín dụng (số tiền) mà ngân hàng đã thu
hồi trong một thời gian nhất định (thường là một năm)
- Dư nợ: Là tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cho vay và chưa được
thu hồi tại một thời điểm nhất định
- Nợ xấu: Là những khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 theo quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN và quyết định sửa đổi bổ sung số 18/2007/QĐ-NHNN về phân loại nợ trong hoạt động tín dụng
Theo quyết định phân loại nợ này thì nợ được chi thành 5 nhóm sau đây:
Ø Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn)
Trang 14- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo qui định (khoản 2 điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN)
Ø Nhóm 2 (Nợ cần chú ý)
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo qui định (khoản 2 điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN)
Ø Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 10 ngày, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu tiên phân loại vào nhóm 2 theo quy định;
- Các khoản nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo qui định (khoản 2 điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN)
Ø Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo qui định (khoản 2 điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN)
Trang 15Ø Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
Hiện nay ở Việt Nam, các NHTM đặt ra các nguyên tắc sau:
- Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng
Theo nguyên tắc này, tiền vay phải được sử dụng đúng theo mục đích đã được người đi vay thỏa thuận với ngân hàng và ngân hàng đã đồng ý Đối tượng ngân hàng xem xét cho vay là các khoản chi phí mà người đi vay cấn thực hiện phù hợp với nhu cầu đầu tư vào sản xuất kinh doanh
- Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng
Như mọi người đều biết, ngân hàng cũng là một đơn vị kinh doanh và mục tiêu của ngân hàng cũng là vì lợi nhuận có được từ các khoản đầu tư – tín dụng Một ngân hàng không thể tồn tại nếu các khoản cho vay của mình chỉ thu về được gốc hoặc chỉ có tiền lãi vì vốn mà ngân hàng sử dụng cho vay cũng là nguồn vốn ngân
Trang 16hàng đi vay, phải trả lãi Như vậy, điều kiện vật chất để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển là có thể thu về cả gốc và lãi sau khoảng thời gian nhất định
2.1.2.4 Hợp đồng tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường tất cả các hoạt động, đặc biệt là hoạt động kinh tế đòi hỏi phải được xác lập bằng pháp luật Do vậy, nếu cơ sở để điều chỉnh các hoạt động kinh tế nói chung là hợp đồng kinh tế, thì hoạt động tín dụng nói riêng được thực hiện và điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng được định nghĩa như sau:
Hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế mang tính chất dân sự, được ký kết giữa ngân hàng với một pháp nhân hay thể nhân vay vốn để đầu tư hay sử dụng vốn cho mục đích hợp pháp nào đó
Trong giao dịch vay vốn giữa ngân hàng và người đi vay thì có thể có nhiều
loại hợp đồng được ký kết như: hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản, hợp đồng bảo lãnh…Nhưng trong đó, hợp đồng tín dụng được coi là hợp đồng cơ bản và rất quan trọng bởi lẽ hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý được thiết lập giữa người đi vay và người cho vay Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay bị chi phối bởi toàn bộ các điều kiện đã thỏa thuận trên hợp động tín dụng đã ký Như vậy, khi thực hiện quan hệ tín dụng ngân hàng phải xem xét toàn bộ điều khoản liên quan, phải thiết lập và giải quyết chúng một cách toàn diện
2.1.2.5 Điều kiện cấp tín dụng
Là những yêu cầu của ngân hàng đối với người vay để làm cơ sở xem xét, ra quyết định cho vay hay không cho vay Các khách hàng muốn được ngân hàng cho vay vốn cần phải có các điều kiện sau đây:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
- Thực hiện quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam
Trang 17- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật
2.1.2.6 Tín dụng trung và dài hạn
Theo quy định của Việt Nam, tín dụng trung hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên một năm đến năm năm nhằm để cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị đầu tư vào những dự án vừa và nhỏ; tín dụng dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên năm năm nhằm cho các doanh nghiệp vay vốn đầu tư vào các dự án lớn Tín dụng trung và dài hạn có hai nghiệp vụ chính là cho vay theo dự án đầu tư và cho thuê tài chính
a) Cho vay theo dự án đầu tư
Nói đến tín dụng trung và dài hạn là nói đến cho vay yheo dự án, cho vay theo
dự án đầu tư là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn chủ yếu nhất mà các NHTM dành cho các chủ doanh nghiệp, các chủ đầu tư
Đối với những dự án muốn được ngân hàng tài trợ vốn phải là những dự án được cấp phép đầu tư và là những dự án khả thi, có hiệu quả kinh tế Như vậy, các doanh nghiệp và chủ đầu tư phải chứng minh được dự án của mình là một dự án khả thi bằng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của dự án Điều này cũng được ngân hàng thẩm định chi tiết trước khi cho vay
Cho vay theo dự án đầu tư được tuân thủ theo các bước sau:
Hình 1: Quy trình cho vay theo dự án đầu tư
Khách hàng Tiếp nhận dự
án
Ký kết HĐ Thỏa thuận các điều khoản
Cán bộ TD Thẩm định tính khả thi của dự án
Lãnh đạo NH Quyết định
Tất toán HĐ Hoàn tất việc trả nợ gốc và lãi
Giải ngân Chuyển tiền cho khách hàng
Kiểm tra Các điều kiện
sử dụng vốn
Trang 18b) Nghiệp vụ cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một hoạt động tài trợ tài chính trung và dài hạn thông qua việc mua cho thuê máy móc thiết bị và các tài sản khác Bên cho thuê sẽ mua máy móc thiết bị và các tài sản theo yêu cầu của bên thuê cho bên đi thuê được sử dụng
và người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn
Trong cho thuê tài chính, khi kết thúc hợp đồng, bên thuê được quyền chuyển quyền sở hữu khi mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê hoặc trả lại tài sản theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng
Nghiệp vụ cho thuê tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng đầu tư, mua, đổi mới máy móc, trang thiết bị cho các doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ, tăng quy mô sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn Đặc biệt cho thuê tài chính rất phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có điều kiện vay vốn ngân hàng
2.1.2.7 Rủi ro tín dụng
Là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa
vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng
Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn từ đó tác động xấu đến hoạt động và có thể làm cho ngân hàng bị phá sản
Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho các ngân hàng Còn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhiều ngân hàng vẫn có nguồn thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng thu nhập Tín dụng đồng thời cũng là hoạt động tìm ẩn nhiều rủi ro tác động bởi nhiều yếu tố của môi trường kinh doanh ngân hàng
Trang 192.1.3 Những chỉ tiêu được sử dụng để phân tích và đánh giá
a) Chỉ số phân tích tổng quát nguồn vốn
Chỉ số này sẽ giúp nhà phân tích biết được cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng Mỗi một khoản mục nguồn vốn có những yêu cầu khác nhau về chi phí, tính thanh khoản, thời hạn hoàn trả…Do đó, ngân hàng cần phải quan sát đánh giá chính xác từng loại nguồn vốn để kịp thời có những chiến lược huy động vốn tốt nhất trong từng thời kỳ nhất định
b) Dư nợ trên tổng nguồn vốn
Chỉ số này cho biết trong 1 đồng nguồn vốn có bao nhiêu đồng ngân hàng đem cho khách hàng vay
Tổng nguồn vốn
Số dư từng khoản mục nguồn vốn
Dư nợ trên tổng nguồn vốn
Tổng dư nợ
Nợ xấu
Trang 20Chỉ số này cho chúng ta biết trong tổng dư nợ của ngân hàng có bao nhiêu phần trăm là nợ xấu (nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 theo quyết định phân loại nợ của NHNN), một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên 3% được coi là xấu và cần phải đề phòng rủi ro tín dụng có thể xảy ra
e) Vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, phản ánh số vốn đầu tư được quay vòng nhanh hay chậm Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng càng nhanh
Trong đó dư nợ bình quân được tính theo công thức sau:
f) Chỉ tiêu nợ xấu trên tổng quỷ dự phòng rủi ro
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bù đắp tổn thất của ngân hàng một khi rủi ro tín dụng xảy ra Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng bù đắp tổn thất của ngân hàng càng lớn
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh, báo cáo hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT Hậu Giang, từ wedsite: http//: www.haugiang.Agribank.com.vn
Vòng quay vốn tín dụng (lần)
Tổng quỹ dự phòng
Nợ xấu
Trang 212.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 2.2.2.1 Phương pháp so sánh
a) So sánh số tuyệt đối
Là hiệu giữa 2 chỉ tiêu: Chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu gốc Biểu hiện mức độ quy mô, khối lượng, giá trị của một chỉ tiêu kinh tế ở thời điểm cụ thể Dùng phương pháp so sánh số liệu thực tế năm nay so với số thực tế năm trước, xem mức
độ tăng giảm như thế nào từ đó tìm ra những nguyên nhân gây ra sự thay đổi đó
b) So sánh số tương đối
Là phương pháp so sánh dựa trên kết quả của phép chia giữa trị số của năm sau
so với năm trước hay của kỳ phân tích so với kỳ gốc, từ đó biết được số phần trăm
thay đổi của năm sau so với năm trước đó hoặc của kỳ phân tích so với kỳ gốc 2.2.2.2 Sử dụng các tỷ số để phân tích đánh giá
Sử dụng các tỷ số như: dư nợ trên tổng nguồn vốn, nợ xấu trên tổng dư nợ,
nợ xấu trên tổng quỹ dự phòng, hệ số thu nợ, vòng quay vốn tín dụng để phân tích
và đánh giá hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại NHNo&PTNT Hậu Giang trong
ba năm 2006, 2007 và 2008
Trang 22Chương 3
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HẬU GIANG 3.1 VÀI NÉT VỀ NHNo&PTNT VIỆT NAM
Năm 1988 Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ NHNN: tất cả các chi nhánh NHNN huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Trung ương (TW) được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp NHNN và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật.Với phương châm vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững của khách hàng và ngân hàng, mục tiêu của NHNo&PTNT là tiếp tục giữ vững vị trí ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam tiên tiến trong khu vực và có uy tín cao trên trường quốc tế
3.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHNo&PTNT HẬU GIANG
NHNo&PTNT Hậu Giang là một ngân hàng chi nhánh của NHNo&PTNT Việ Nam Trước đây là NHNN huyện Vị Thanh (sau ngày 30/04/1975 được tiếp quản từ NHNN chế độ cũ) Từ năm 1978-1982 được đổi tên thành NHNN huyện Long Mỹ,
từ năm 1983 được đổi tên thành NHNN huyện Vị Thanh Đến năm 1990 đổi tên thành ngân hàng Nông nghiệp huyện Vị Thanh theo quyết định 400/HĐBT ngày
Trang 2301/11/1990 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ) Đến tháng 12 năm 1996 được đổi tên thành NHNo&PTNT huyện Vị Thanh Vào ngày 01/01/2000 tách ra thành NHNo&PTNT Thị xã Vị Thanh và NHNo&PTNT huyện Vị Thủy Đến ngày 01/01/2004 Tỉnh Cần Thơ được chia tách thành Thành phố Cần Thơ và Tỉnh Hậu Giang Đến ngày 15/03/2004 NHNo&PTNT Cần Thơ cũng chia tách thành hai chi nhánh hoạt động theo địa giới hành chính Tỉnh và Thành phố Theo đó, NHNo&PTNT chi nhánh Vị Thanh chuyển thành chi nhánh cấp một và đổi tên thành NHNo&PTNT Hậu Giang
3.3 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA NHNo&PTNT HẬU GIANG 3.3.1 Sơ đồ tổ chức
Hình 2: Sơ đồ tổ chức của NHNo&PTNT Hậu Giang
Ghi chú:
- PGĐ: Phó giám đốc
- KT-KS: Kiểm tra kiểm soát
- KHKD: Kế hoạch kinh doanh
- KSNB: Kiểm soát nội bộ
PGĐ KT-KS Nội bộ
PGĐ
Kế toán Ngân quỹ
P
DV- MAR
Chi nhánh loại 3
Trang 24- Phó giám đốc kinh doanh: Phụ trách về mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng từ tín dụng, đầu tư tài chính, lập các kế hoạch kinh doanh, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trực tiếp quản lý phòng kế hoạch kinh doanh Chịu trách nhiệm trước giám đốc về mọi hoạt động thuộc thẩm quyền của mình
- Phó giám đốc kiểm tra kiểm soát nội bộ: Có trách nhiệm kiểm tra giám sát các phòng ban về việc thực hiện các quy định của NHNN và Hội sở chính, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về tiền tệ ngân hàng, trực tiếp quản lý phòng kiểm tra kiểm soát Chịu trách trước giám đốc về những sai phạm trong phạm vi quản lý của mình
- Phó giám đốc kế toán ngân quỹ: Quản lý các khoản thu chi của ngân hàng, trực tiếp quản lý phòng kế toán ngân quỹ
- Phòng kế hoạch kinh doanh: Thực hiện các nghiệp vụ tín dụng bao gồm tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, giải ngân, thu hồi nợ, xử lý nợ… Đồng thời phụ trách công tác thống kê, báo cáo, và lập kế hoạch kinh doanh
- Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ: Đôn đốc, nhắc nhở cán bộ nhân viên làm việc đúng nguyên tắc, phối hợp với các đoàn thanh tra, kiểm tra đột xuất theo yêu cầu của NHNN và Hội sở chính
- Phòng hành chính nhân sự: Tổ chức, sắp xếp bố trí nhân sự giữa các phòng, tham mưu cho giám đốc trong công tác tuyển dụng đề bạt, chính sách có liên quan đến cán bộ công nhân viên, tổ chức điều chỉnh lương, trợ cấp, bảo hiểm
- Phòng điện toán: Thực hiện, quản lý toàn bộ hệ thống vi tính của ngân hàng, đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng một cách thông suốt thông qua hệ thống máy
Trang 25tính Quản lý các tài khoản nhân viên, giải quyết các vấn đề liên quan đến tài khoản như username, password, các trục trặc của hệ thống máy tính…
- Phòng dịch vụ Marketing: Thực hiện các dịch vụ hậu mãi, quảng bá hình ảnh của ngân hàng đến với khách hàng tiềm năng
- Chi nhánh loại 3: Thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, dich vụ thanh toán, huy động vốn ở các địa điểm khác nhau trên địa bàn
- Phòng kế toán ngân quỹ: Thực hiện các bút toán có liên quan trong quá trình thanh toán, kế toán các khoản thu chi trong ngày, thực hiện các bút toán giữa ngân
hàng nới khách hàng, với ngân hàng khác, với NHNN
- Phòng giao dịch: Có nhiệm vụ huy động vốn, mua bán trao đổi ngoại tệ, giấy
tờ có giá, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nước và quốc tế, nghiệp vụ
chuyển tiền Western Union…
3.4 QUY TRÌNH XÉT DUYỆT CHO VAY CỦA NHNo&PTNT HẬU GIANG
Để có thể đầu tư cho vay vào một khách hàng thì bất kỳ một ngân hàng nào cũng đòi hỏi phải tuân thủ những quy tắc nhất định do chính ngân hàng đó đặc ra, phù hợp với pháp luật và những yêu cầu của khách hàng Đối với NHNo&PTNT Hậu Giang cũng có một quy trình cho vay cụ thể và quy trình đó được thể hiện qua các bước sau:
- Bước 1: Tiếp nhận khách hàng và hướng dẫn về hồ sơ vay
- Bước 2: Thẩm định các điều kiện tín dụng Cán bộ tín dụng thẩm định khách hàng về các điều kiện: năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, khả năng tài chính, tài sản bảo đảm, tính khả thi của dự án đầu tư… Nếu đủ điều kiện thì ngân hàng tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng, nếu không phải thông báo cho khách hàng biết rõ lý do
- Bước 3: Xét duyệt cho vay và ký hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng được lập thành 02 bản, khách hàng và ngân hàng mỗi bên giữ một bản
- Bước 4: Tiến hành giải ngân
- Bước 5: Theo dõi và kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, nếu thấy khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích thì tiến hành thu hồi vốn trước hạn bằng những biện pháp nghiệp vụ
Trang 26- Bước 6: Tiến hành thu lãi, nợ gốc hoặc xử lý rủi ro (nếu có)
- Bước 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng Tóm lại, quy trình cho vay mới chỉ là điều kiện cần, điều quan trọng là ngân hàng phải biết vận dụng quy trình đó như thế nào để vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, vừa mang lại hiệu quả cho ngân hàng Trong quy trình trên khâu thẩm định khách hàng là khâu quan trọng nhất, vì khi thẩm định ngân hàng có thể biết được tình hình tài chính, khả năng quản lý tài chính, khả năng trả nợ đầy đủ của khách hàng từ đó hạn chế rủi ro có thể xảy ra
3.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 3.5.1 Tình hình nguồn vốn
Ø Tổng nguồn vốn
Nhìn chung, trong ba năm qua tổng nguồn vốn của ngân hàng có chiều hướng sụt giảm và tốc độ giảm ngày một nhanh hơn (-2,3% năm 2007 và -18,2% năm 2008) Trong khi đó vốn huy động lại tăng, đồng nghĩa với việc vốn chủ sở hữu giảm, đặc biệt trong năm 2008 tổng nguồn vốn lại nhỏ hơn vốn huy động Nguyên nhân chính của sự sụt giảm đó là do chính sách điều chuyển vốn của NHNo&PTNT
TW, trong khi ngân hàng NHNo&PTNT Hậu Giang cần vốn để đầu tư cho vay thì NHNo&PTNT TW lại rút bớt vốn theo yêu cầu của NHNN để thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát Cụ thể trong năm 2007, trong khi vốn huy động chỉ tăng 11.458 Trđ thì ngân hàng phải điều chuyển đi một lượng là 15.752 Trđ, cùng với việc lợi nhuận của ngân hàng giảm so với năm 2006 làm cho tổng nguồn vốn của ngân hàng cũng giảm tương ứng Đến năm 2008 trong khi vốn huy động tăng chỉ có 29.009 Trđ thì ngân hàng vẫn phải tiếp tục điều chuyển đi tất cả nguồn vốn đã nhận điều chuyển tính đến năm 2008 là 64.440 Trđ, đồng thời trong năm 2008 hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ đến 13.686 Trđ làm cho tổng nguồn vốn nhỏ hơn vốn huy động, một điều rất hiếm xảy ra ở các NHTMCP Nhìn vào bảng tổng hợp tình hình nguồn vốn của ngân hàng chúng ta dễ dàng nhận ra không có khoản mục tiền gửi của KBNN và vay từ NHNN, một nguồn vốn
có chi phí khá thấp, ổn định và khá chủ động Từ đó cho thấy NHNo&PTNT Hậu Giang chưa tiếp cận được với nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước do nhiều nguyên
Trang 27nhân khác nhau Nguyên nhân thứ nhất là do Hậu Giang là một tỉnh mới chia tách kém phát triển nên nguồn thu về Ngân sách Nhà nước còn hạn chế, chỉ đủ chi và không có thặng dư Ngân sách để gửi vào các NHTM Nguyên nhân thứ hai là do NHNN chi nhánh Hậu Giang mới được thành lập trong những năm gần đây nên nguồn vốn do NHNN Việt Nam phân bổ còn ít, không đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các NHTM trên địa bàn, trong đó có NHNo&PTNT Hậu Giang Nguyên nhân thứ ba là do ngân hàng chưa tạo dựng mối quan hệ và thanh tóan với kho bạc Nhà nước Tỉnh và Thị xã trên địa bàn nên kho bạc chưa mở tài khoản và gửi tiền vào ngân hàng nhằm phục vụ cho các giao dịch của KBNN với các thành phần kinh
tế khác
Một khoản mục khác cũng không có phát sinh trong những năm qua đó là khoản mục nguồn vốn ủy thác đầu tư, một nguồn vốn tốn chi phí rất thấp và có thời hạn dài Nguyên nhân tạo ra điều này là do trong những năm trước trên địa bàn thị
xã Vị Thanh có rất ít dự án được đầu tư từ nguồn vốn ủy thác đầu tư của Chính phủ hay nguồn vốn tài trợ từ nước ngoài nên việc tiếp cận nguồn vốn này gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên trong những năm sắp tới đặc biệt là trong năm 2009 trên địa có nhiều dự án được đầu tư từ nguồn vốn này đồng lọt được khởi động, vì vậy đòi hỏi NHNo&PTNT Hậu Giang phải chủ động tiếp cận và tận dụng nguồn vốn này nhằm tìm kiếm một nguồn vốn ổn định và hiệu quả
Ø Tiền gửi của các TCTD trong nước
Tiền gửi của các TCTD trong nước là nhằm phục vụ cho nhu cầu thanh toán vốn giữa các khách hàng thông qua ngân hàng Một khi nhu cầu về thanh toán của các TCKT và cá nhân giảm sút thì lượng vốn này cũng ít đi Điều đó đã xẩy ra trong năm 2008, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái các TCKT và cá nhân cắt giảm đầu tư, sản xuất kinh doanh làm cho nhu cầu thanh toán vốn giữa các khách hàng có mở tài khoản thanh toán tại các NHTM trên địa bàn cũng giảm theo, dẫn đến tiền gửi thanh toán của các TCTD trong nước giảm đột ngột Ngược lại, trong hai năm 2006 và 2007 tình hình nền kinh tế khá khả quan, hầu hết các TCKT và cá nhân điều mạnh dạng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh khiến nhu cầu thanh
Trang 28toán qua ngân hàng tăng đột biến, vì vậy lượng tiền gửi của các TCTD cũng tăng theo để đáp ứng những yêu cầu đó
Ø Kỳ phiếu và trái phiếu
Một khoản mục cũng có nhiều sự biến động chính là khoản mục kỳ phiếu và trái phiếu, năm 2006 là 10.194 Trđ đến năm 2007 chỉ còn 1.179 Trđ, nhưng đến năm
2008 lại tăng lên đến 23.369 Trđ Sở dĩ xẩy ra điều này là do trong năm 2006 nhu cầu sử dụng vốn để đầu tư cho vay đột ngột tăng khiến ngân hàng phải đẩy mạnh huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu Nhưng đến năm 2007
do lượng vốn huy động và nhu cầu đầu tư cho vay khá ổn định nên ngân hàng không phát sinh nhu cầu vốn đột xuất từ đó giảm phát hành thêm kỳ phiếu và trái phiếu Đến năm 2008 hầu hết các NHTM điều đưa ra mức lãi suất huy động rất cao nhằm cạnh tranh để thu hút vốn làm cho một bộ phận khách hàng rút vốn gửi nơi khác lãi suất cao hơn Nhận thấy được điều này nên ban giám đốc đã mạnh dạng phát hành
kỳ phiếu và trái phiếu với lãi suất cao hòng tìm kiếm một nguồn vốn ổn định hơn và
an toàn hơn Mặt khác, được sự yêu cầu của NHNo&PTNT TW, NHNo&PTNT Hậu Giang phải điều chuyển về trên 64.440 Trđ mà một phần của nguồn vốn này đang được ngân hàng đầu tư không thu hồi kịp nên phải huy động bằng kỳ phiếu và trái phiếu để điều chuyển đi, từ đó làm cho khoản mục này có sự gia tăng đột biến
Ø Vốn huy động từ các TCKT và cá nhân
Vốn huy động của ngân hàng từ các TCKT và cá nhân trong ba năm qua có sự biến động trái ngược so với tình hình của nền kinh tế Thật vậy, trong năm 2006 nền kinh tế hoạt động tương đối ổn định, lãi suất ngân hàng ở mức vừa phải, lạm phát thấp (dưới hai chỉ số) nên các TCKT và cá nhân có nhiều sự lựa chọn đầu tư vừa có thể đầu tư sản xuất kinh doanh vừa có thể gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất
Vì vậy, trong năm này nguồn vốn ngân hàng huy động từ các TCKT và cá nhân tăng đáng kể so với năm trước đó và đạt đến 216.270 Trđ Đến năm 2007 nền kinh tế vẫn chưa lâm vào tình trạng trì trệ, môi trường đầu tư của các TCKT và cá nhân khá thuận lợi, trong khi lãi suất ngân hàng vẫn chưa tăng cao chưa đủ sức hấp dẫn khách hàng, nên hầu hết nhóm khách hàng này hạn chế gửi tiền vào ngân hàng mà sử dụng
nó để tự đầu tư sản xuất kinh doanh khiến cho khoản mục này có sự giảm đôi chút
Trang 29so với năm 2006, tiền gửi của TCKT và cá nhân chỉ đạt 204.148 Trđ giảm12.122 Trđ Nhưng đến năm 2008 nền kinh tế bắt đầu lâm vào tình trạng trì trệ, lãi suất ngân hàng tăng vọt, lạm phát ở mức cao (hơn 20%/năm), giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng vọt khiến cho hầu hết TCKT và cá nhân đều gặp phải nhiều khó khăn trong việc mở rộng đầu tư vì vậy họ chọn giải pháp gửi tiền vào ngân hàng vừa an toàn hơn vừa mang lại thu nhập cao hơn do lãi suất huy động của hầu hết các NHTM đều cao ngất ngưỡng Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và là nguyên nhân chính tạo nên sự gia tăng đột biến của khoản mục tiền gửi của TCKT và cá nhân trong năm 2008, tăng hơn 50.000 Trđ so với năm 2007 và đạt đến 256.309 Trđ
Bảng 1: Khung lãi suất huy động bình quân dành cho TCKT và cá nhân
(Nguồn: Phòng kế hoạch kinh doanh, năm 2009)
Nhìn vào khung lãi suất huy động của ngân hàng trong ba năm qua chúng ta dễ dàng nhận ra tất cả vốn huy động của ngân hàng đều là vốn huy động ngắn hạn Điều đó cho chúng ta biết rằng hầu hết nguồn vốn huy động của ngân hàng đều là nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất, một khi lãi suất cơ bản của NHNN công bố thay đổi thì chi phí trả cho việc huy động vốn cũng thay đổi theo, vì thế làm cho công tác quản lý chi phí càng trở nên phức tạp hơn Đặc biệt trong năm 2008 ngân hàng huy động vốn từ các TCKT và cá nhân có kỳ hạn tối đa chỉ là 6 tháng Sỡ dĩ ngân hàng phải huy động vốn với kỳ hạn ngắn như vậy là vì đầu năm 2008 lãi suất cơ bản do NHNN ấn định liên tục biến động theo chiều hướng gia tăng kéo theo đó là sự gia
Trang 30tăng của lãi suất huy động, nhận biết được điều này nên hầu hết khách hàng chỉ gửi tiền vào ngân hàng với kỳ hạn tối đa là 6 tháng nhằm tránh bị thiệt hại khi lãi suất gia tăng Đến cuối năm 2008 tình hình lại biến động ngược lại, NHNN lại liên tục điều chỉnh lãi suất theo chiều hướng giảm, làm cho hầu hết các NHTM (trong đó có NHNo&PTNT Hậu Giang) hạn chế huy động vốn với kỳ hạn dài vì e ngại đến khi lãi suất giảm mà vẫn phải trả lãi cao cho các khoản huy động trước đó Từ những nguyên nhân nêu trên mà trong năm 2008 NHNo&PTNT Hậu Giang chỉ huy động vốn với kỳ hạn tối đa là 6 tháng
Ø Khoản mục nợ phải trả khác
Nợ phải trả khác là các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng, như phải trả người bán, phải nộp Ngân sách Nhà nước, phải trả công nhân viên Thực tế ở NHNo&PTNT Hậu Giang các khoản nợ này thường được phát sinh khi ngân hàng mua sắm tài sản cố định và trả theo hình thức nhiều lần Khoản mục này của ngân hàng trong ba năm qua cũng có nhiều biến động Năm 2006 là 1.174 Trđ nhưng đến năm 2007 lại giảm xuống chỉ còn 368 Trđ Nguyên nhân là do trong năm 2007 ngân hàng đã không đầu tư thêm nhiều tài sản cố định như máy tính, máy ATM, phương tiện giao thông…vì trong năm nhu cầu về các tài sản nói trên chưa thật sự cấp thiết và vẫn còn đáp ứng được nhu cầu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng và cũng chính vì thế các khoản nợ phải trả cho việc mua sắm tài sản cũng giảm theo Nhưng đến năm 2008 ngân hàng đã tăng cường hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và đẩy mạnh phát triển dịch vụ thẻ Cụ thể, trong năm ngân hàng đã thay đổi hầu như hoàn toàn hệ thống máy vi tính đang được sử dụng, đặt thêm nhiều máy rút tiền tự động trên địa bàn toàn tỉnh đồng thời còn trang bị thêm nhiều phương tiện giao thông hiện đại cụ thể là xe ô tô Vì thế các khoản nợ phải trả cho việc mua sắm này cũng tăng lên trong năm 2008 và lên đến 5.433 Trđ
Ø Nhận xét chung về nguồn vốn
Nhìn vào bảng tổng hợp nguồn vốn của ngân hàng trong ba năm (trang 24) qua chúng ta dễ dàng nhận ra vốn huy động và vốn đi vay đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Tỷ trọng của vốn huy động và vốn vay của ngân hàng trong băm năm qua luôn đạt từ 70% trở lên, đặt biệt trong năm 2008 vốn
Trang 31huy động và vốn vay còn vượt xa so với tổng nguồn vốn (điều này đã được giải thích ở phần tổng nguồn vốn) Điều đó phần nào cho thấy công tác quản trị nguồn vốn của ngân hàng đã phát huy được hiệu quả nhất định, đặt biệt là trong huy động vốn Tuy nhiên khi xem xét về tổng thể thì công tác quản trị nguồn vốn còn gặp nhiều khó khăn và thiếu sót, một số nguồn vốn chưa được khai thác và khai thác chưa đúng mức Cụ thể, nguồn vốn ủy thác đầu tư và vốn từ Ngân sách Nhà nước ngân hàng chưa tiếp cận được, trong tiền gửi của TCKT và cá nhân thì tiền gửi có
kỳ hạn còn chiếm tỷ trọng khá thấp (70,8% vào năm 2006, 73,2% vào năm 2007, chỉ còn 65% năm 2008) và kỳ hạn tối đa chỉ là 12 tháng
Trang 32Bảng 2: Tổng hợp nguồn vốn của ngân hàng trong ba năm (2006-2008)
- HĐ; NV; TG; TT; TTLH: Huy động; Nguồn vốn; Tiền gửi; Thanh toán; Thanh toán liên hàng
- TN; CP; TCTD; TCKT : Thu nhập; Chi phí; Tổ chức tín dụng; Tổ chức kinh tế
Trang 333.5.2 Tình hình tài sản
Ø Dự trữ thanh toán
Tại NHNo&PTNT Hậu Giang dự trữ thanh toán bao gồm tiền giấy và tiền kim loại dự trữ tại quỹ của ngân hàng, cùng với các chứng khoán có tính thanh khoản cao như tín phiếu KBNN và trái phiếu Chính phủ Trong những năm qua quỹ dự trữ thanh toán của ngân hàng luôn được duy trì trong khoản 8.113 Trđ đến 9.116 Trđ, tuy có biến động nhưng ở mức khá thấp Trong năm 2007 dự trữ thanh khoản tăng 1.003 Tr so với năm 2006, nguyên nhân là do trong năm này nền kinh tế khá ổn định các thành phần kinh tế điều đẩy mạnh đầu tư nên nhu cầu rút tiền từ tài khoản tiền gửi để đầu tư và thanh toán qua ngân hàng cũng tăng đáng kể Vì vậy ngân hàng cần phải dự trữ thêm 1.003 Trđ để có thể đáp ứng đầy đủ những nhu cầu đó của khách hàng Đến năm 2008 nền kinh tế có dấu hiệu chững lại làm cho nhu cầu vay vốn đầu
tư và thanh toán qua ngân hàng của khách hàng cũng giảm đi Nhận biết được điều này nên NHNo&PTNT Hậu Giang đã rút bớt quỹ dự trữ thanh toán xuống còn 8.650 Trđ nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản Từ những nhận định trên có thể thấy công tác quản trị thanh khoản của NHNo&PTNT Hậu Giang trong những năm qua
đã phát huy được hiệu nhất định, giúp ngân hàng dự trữ một lượng thanh khoản vừa phải, không để xảy ra rủi ro thanh khoản và góp phần tiết kiệm chi phí trong hoạt động cho ngân hàng
Ø Dư nợ cho vay bằng VND
Bảng 3: Khung lãi suất cho vay bình quân dành cho TCKT và cá nhân
trong ba năm (2006-2008)
Đơn vị tính: %/tháng
(Nguồn: Phòng kế hoạch kinh doanh, năm 2009)
Nhìn vào bảng tổng hợp tình hình tài sản (trang 27) và khung lãi suất cho vay bình quân dành cho TCKT và cá nhân chúng ta dễ dàng nhận ra tình hình dư nợ cho vay trong ba năm qua có quan hệ ngược chiều với lãi suất cho vay bình quân Khi lãi
Trang 34suất cho vay bình quân của ngân hàng càng tăng thì dư nợ cho vay càng giảm Cụ thể như sau, năm 2006 khi lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng là 1,04%/tháng thì dư nợ cho vay là 295.993 Trđ Đến năm 2007 khi lãi suất cho vay bình quân lên 1,12%/tháng thì dư nợ cho vay giảm xuống còn 290.552 Trđ Và đến năm 2008 lãi suất cho vay bình quân tăng lên 1,21%/tháng thì dư nợ cho vay chỉ còn 252.803 Trđ
Từ đó ta có thể khẳng định rằng khi khách hàng có nhu cầu vay vốn thì yếu tố đầu tiên mà khách hàng xem xét là lãi suất cho vay của ngân hàng
Trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng thì dư nợ cho vay trung và dài hạn còn chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn, dưới 31% Cụ thể trong năm 2006 là 28,6%, năm 2007 là 28,5% còn đến năm 2008 tăng lên được 30,3% Điều này báo hiệu cho ngân hàng biết cần phải tập trung hơn nữa trong mãng tín dụng trung và dài hạn, vì đây là một nghiệp vụ mang lại nguồn thu ổn định và lâu dài cho ngân hàng
Ø Chênh lệch nợ thanh toán nội bộ
Về khoản mục chênh lệch thanh toán nội bộ có sự sụt giảm có nguyên nhân xâu xa là từ sự suy thoái của nền kinh tế Cụ thể, khi nền kinh tế bị suy thoái các thành phần kinh tế điều hạn chế hoạt động kinh doanh, từ đó việc thanh toán qua ngân hàng cũng giảm sút làm cho thanh toán nội bộ của ngân hàng với các ngân hàng khác cùng hệ thống cũng giảm theo, số dư chênh lệch thanh toán nhỏ
trong huy động vốn và cung cấp dịch vụ thanh toán trong tương lai gần
Trang 35Bảng 4: Tổng hợp tài sản của ngân hàng trong ba năm (2006-2008)
Trang 36- TTLH: Thanh toán liên hàng
- TTNB: Thanh toán nội bộ
Trang 373.5.3 Phân tích sơ nét về kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
6.736 5.413 101.759 -1.323 -19,6 96.346 1779,9
3 Chi nhân viên 3.130 4.775 5.004 1.645 52,6 229 4,8
4 Chi khác 10.787 15.940 27.898 5.153 47,8 11.958 75,0
III Lợi nhuận 19.307 16.514 -13.686 -2.793 -14,5 -30.200 -182,9
(Nguồn: Phòng kế hoạch kinh, năm 2009) Ghi chú: HĐKD: Hoạt động kinh doanh
Trong hai năm 2006 và 2007 hoạt động của ngân hàng vẫn diễn ra bình thường và mang lại lợi nhuận khá cao (tuy năm 2007 có sự sụt giảm về lợi nhuận đôi chút so với năm 2006) Tuy nhiên, đến năm 2008 tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng đã gặp phải nhiều khó khăn, nguyên nhân là do nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng trì trệ, suy thoái cùng với sự bất ổn của hệ thống tài chính đã trực tiếp tạo ra những khó khăn trong mọi hoạt động của ngân hàng (từ hoạt động tín dụng, huy động vốn đến việc cung cấp các dịch vụ), từ đó đã làm cho ngân hàng bị thua lỗ đến 13.686 Trđ Trong năm này, chi phí trả lãi của ngân
Trang 38hàng tăng cao đột ngột khiến cho thu nhập từ cho vay và dịch vụ không thể bù đắp nổi Chi phí trả lãi của ngân hàng tăng cao đột ngột có nguyên nhân xâu xa
từ những chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ thông qua NHNN, cụ thể là thông qua lãi suất cơ bản Bên cạnh đó trong thời gian này các NHTM có chi nhánh trên địa bàn đẩy mạnh chính sách cho vay và huy động khiến cho hoạt động của ngân hàng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt
Nguyên nhân làm cho chi phí hoạt động của ngân hàng tăng cao trong năm
2008 là do công tác huy động vốn từ các TCKT và cá nhân gặp vấn đề và không mang lại hiệu quả, trong khi lãi suất huy động vẫn cao, vì vậy ngân hàng phải đi vay vốn từ các TCTD trong nước với chi phí cao để đảm bảo cho hoạt động Cụ thể trong năm 2008 ngân hàng đã phải bỏ ra 101.759 Trđ (tăng gần 20 lần so với năm 2007) để trả lãi tiền vay trong khi thu nhập từ tiền lãi chỉ có 141.912 Trđ (chỉ tăng hơn hai lần so với năm 2007).Việc vay vốn với chi phí cao để đầu tư cho vay không mang lại hiệu quả khiến ngân hàng phải gánh chịu thua lỗ và tiếp tục gặp khó khăn trong huy động vốn do mất nhiều khách hàng thân thiết Thu nhập của ngân hàng trong ba năm qua tuy có sự gia tăng đáng kể nhưng không thể theo kịp tốc độ gia tăng của chi phí Nguyên nhân của sự gia tăng trong thu nhập là do lãi suất cho vay tăng mạnh, đặc biệt là trong năm 2008, từ những khoản cho vay bằng nhau nhưng ngân hàng thu về khoản lãi cao hơn
Nhìn vào kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hậu Giang chúng ta dễ dàng nhận ra ngân hàng chưa chú trọng nhiều đến mãng dịch vụ, cụ thể là thu nhập về dịch vụ tăng chậm và chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập hoạt động (0,8% năm 2006, 1% năm 2007 và 0,5% vào năm 2008) điều đó đồng nghĩa với việc nguồn thu của ngân hàng chủ yếu dựa vào nghiệp vụ tín dụng, một nghiệp vụ ẩn chứa nhiều rủi ro và khó dự báo Một khi nghiệp vụ tín dụng không mang lại hiệu quả sẽ dẫn đến thua lỗ cho ngân hàng vì không có nguồn thu khác để bù đắp, thực tế điều đó đã xảy ra vào năm 2008
Một khoản mục khác cũng gây được nhiều sự chú ý vì sự gia tăng khá nhanh chóng của nó, đó là khoản mục chi phí khác, tăng 47,8% vào năm 2007 và 75% vào năm 2008 Tính từ năm 2006 đến năm 2008 chi phí khác tăng gần ba lần và lên đến 27.898 Trđ Nguyên nhân của sự gia tăng đó cũng không có gì khó hiểu khi trong khoản thời gian này nền kinh tế nước ta phải đối mặt với tình trạng
Trang 39lạm phát cao, giá cả của hầu hết các mặt hàng điều tăng vọt từ thiết bị văn phòng, xăng dầu cho đến chi phí sinh hoạt đều trở nên đắt đỏ đã trực tiếp đẩy khoản mục chi phí khác tăng nhanh và trở thành một gánh nặng về chi phí cho hoạt động của ngân hàng
Trang 40Chương 4
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
TẠI NHNo&PTNT HẬU GIANG
4.1 PHÂN TÍCH TỔNG QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
Bảng 6: Tổng hợp tình hình hoạt động tín dụng trong ba năm (2006-2008)
29.362 16.159 11.364 -13.203 -45,0 -4.795 -29,7
(Nguồn: Phòng kế hoạch kinh doanh, năm 2009)
Ghi chú: TSĐB: Tài sản đảm bảo
Nhìn vào bảng tổng hợp tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng trong
ba năm qua chúng ta dễ dàng nhận ra hoạt động tín dụng của ngân hàng đang trên đà lao dốc không phanh và không có dấu hiệu nào của sự phục hồi Thật vậy,
từ dư nợ đến doanh số cho vay và doanh số thu nợ đều có dấu hiệu giảm sút, trong khi đó nợ xấu của ngân hàng không ngừng gia tăng với tốc độ chóng mặt, báo hiệu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời Điều đó đã cảnh báo cho Ban giám đốc biết rằng đã đến lúc cần phải có những chính sách, chiến lược đặc biệt để vực dậy hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung Muốn làm được điều này đòi hỏi ngân hàng cần phải có những phân tích thật sự chi tiết nguyên nhân dẫn đến những hậu quả
kể trên, từ đó mới có huy vọng tìm ra những giải pháp thực sự hữu hiệu Sau đây
là những phân tích về tình hình hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Hậu Giang trong ba năm qua