Cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường như hệ thống thoát nước mặt, hệ thống thu gom nước thải, rác sinh hoạt chưa được xây dựng. Công tác[r]
Trang 1TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Công trình Thủy điện Sơn La đã được khánh thành vào tháng 12 năm 2012, về đích trước 3 năm Hơn 20.000 hộ với hơn 90.000 nhân khẩu đã tự nguyện rời quê hương bản quán để nhường đất xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La Công tác di dân, tái định
cư thủy điện Sơn La đã được các địa phương triển khai thực hiện đạt kết quả tốt nhưng vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục, nhất là vấn đề về môi trường Hầu hết các điểm tái định cư thủy điện Sơn La đều chưa có hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý phân loại rác Mỗi hộ gia đình thường tự xử lý rác thải của gia đình Điều này, không chỉ gây ô nhiễm môi trường, mất cảnh quan nơi ở mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người Chính vì vậy, cần có các giải pháp quản lý môi trường tại các khu tái định cư nhằm bảo vệ môi trường và đảm bảo sức khỏe cho người dân địa phương
Đề tài “Hiện trạng và giải pháp quản lý môi trường tại khu vực hồ chứa Sơn La”
được thực hiện nhằm nghiên cứu, đánh giá, tìm ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý môi trường tại các khu tái định cư thủy điện Sơn La Những kết quả thu được
từ bài nghiên cứu tạo cơ sở đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tại địa phương
Để thực hiện được nghiên cứu này chủ yếu dựa vào số liệu thứ cấp và sử dụng 3 phương pháp: Phương pháp tổng quan tài liệu (Dựa trên các tài liệu có sẵn để tổng hợp, phân tích hiện trạng tại khu vực nghiên cứu, các tài liệu sử dụng); Phương pháp phân tích tổng hợp (phân tích, đánh giá những tài liệu sẵn có để chọn lọc ra những số liệu, đánh giá phù hợp với đề tài, và hệ thống hóa các tài liệu rời rạc có sẵn theo định hướng nghiên cứu); Phương pháp chuyên gia (Tham vấn ý kiến của chuyên gia trong lĩnh vực môi trường, các cán bộ có kinh nghiệm quản lý môi trường đã hoặc đang làm việc tại địa phương có liên quan để đánh giá các giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường được đề xuất trong nghiên cứu, bổ sung các giải pháp khác có thể áp dụng, từ đó, hoàn thiện)
Đề tài nghiên cứu được xây dựng thành luận văn tốt nghiệp với 4 chương, kết quả
Trang 2nghiên cứu đã đạt được như sau:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về quản lý môi trường và các vấn đề quản lý
môi trường tại các khu tái định cư thủy điện
Nội dung của chương tập trung làm rõ một số vấn đề chung về quản lý môi trường gồm khái niệm quản lý môi trường, giải pháp quản lý môi trường, quản lý nhà nước về môi trường, quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng… Từ đó, đi tìm hiểu công tác quản lý môi trường tại các khu tái định cư thủy điện ở nước ta hiện nay và giải pháp
có thể áp dụng trong quản lý môi trường tại các khu tái định cư thủy điện
Quản lý môi trường tại các khu tái định cư thủy điện thực chất là là hoạt động quản lý môi trường với quy mô cấp vùng Do đó, nó mang các đặc điểm của hoạt động quản lý môi trường nói chung
Chương 2: Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và môi trường tại các khu tái định
cư thủy điện Sơn La
Nội dung chương này tìm hiểu đặc điểm khu vực nghiên cứu, tập trung vào hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và môi trường tại khu vực nghiên cứu, thông qua phân tích, tổng hợp từ các nguồn số liệu thứ cấp, cho thấy:
Các khu tái định cư thủy điện Sơn La bao gồm một số huyện, thành phố trực thuộc các tỉnh: Sơn La (các huyện: Mường La, Quỳnh Nhai, Mộc Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu, Yên Châu và thành phố Sơn La), Lai Châu (các huyện: Phong Thổ, Tam Đường, Sìn Hồ, Mường Tè và thành phố Lai Châu), Điện Biên (các huyện: Tủa Chùa, Mường Lay, Mường Chà, Mường Nhé và thành phố Điện Biên)
Tổng số dân di chuyển thuộc Dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La là 20.340
hộ, 92.301 khẩu, trong đó: Tỉnh Sơn La 12.584 hộ, 58.337 khẩu; tỉnh Điện Biên 4.459 hộ, 17.010 khẩu; tỉnh Lai Châu 3.297 hộ, 16.954 khẩu Các hộ tái định cư tập trung chủ yếu tại tỉnh Sơn La với 12.584/20.340 hộ, chiếm khoảng 62% tổng số hộ tái định cư Cơ bản các khu tái định cư chủ yếu là tái định cư nông thôn Dân cư gồm các nhóm tộc người, yếu tố quan trọng liên quan tới kinh tế - xã hội và sử dụng đất đai gồm Thái (48,4%),
Trang 3Kinh (44,2%), Dao (7,4%), Mường (4,0%), Khơ mú (2,6%), H’mông (1,3%), Hà nhì (0,5%), Xinh mul (0,4%), còn lại là Mảng, Giáy, Si la, Lự, Kháng, các nhóm khác lưu trú khác Trong nhóm trên, người Thái và người Kinh chiếm phần lớn Tổng diện tích đất ở
và đất sản xuất là 58.489,3 ha, trong đó: Đất ở 826,4 ha; đất sản xuất nông nghiệp 23.571,8 ha; đất lâm nghiệp 34.290 ha
Hiện nay, nguồn nước cấp cho sinh hoạt cho các khu tái định cư chủ yếu chưa qua
xử lý, chỉ có một số điểm tái định cư đô thị là xây dựng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt nhưng mới chỉ là xử lý lọc nước đơn giản Hệ thống đường giao thông trong các khu điểm tái định cư cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân
Công tác di dân tái định cư thủy điện Sơn La được tiến hành bắt đầu từ năm 2004, theo kế hoạch hoàn thành vào năm 2010 nhưng đến nay, vẫn chưa kết thúc Các khu tái định cư chủ yếu chủ yếu là tái định cư nông thôn, do đó, hoạt động sản xuất chính của vùng là nông, lâm nghiệp Hoạt động sản xuất có những biến đổi tích cực nhưng thu nhập
từ nông nghiệp, lâm nghiệp bình quân/người ở mức thấp
Về chất lượng môi trường tại các khu tái định cư thủy điện Sơn La tương đối tốt, nước ngầm thuộc loại trung tính và có xu hướng ô nhiễm chất hữu cơ Chất lượng nước mặt đáp ứng tiêu chuẩn cấp nước cho mục đích sinh hoạt Tại các khu tái định cư thủy điện Sơn La, khối lượng chất thải rắn phát sinh ước tính khoảng 17 nghìn tấn mỗi năm
Chương 3: Quản lý môi trường tại các khu tái định cư thủy điện Sơn La
Về cơ bản, công tác quản lý môi trường tại các khu tái định cư thủy điện Sơn La chịu chi phối bởi công tác quản lý môi trường chung (trung ương, cấp tỉnh), cụ thể:
Đối với công tác xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường: Luật Bảo vệ
môi trường 2014 (thay thế luật năm 2005) với rất nhiều quy định mới được bổ sung, trong đó, liên quan tới khu tái định cư thủy điện được quy định tại Chương VIII Bảo vệ môi trường khu đô thị, khu dân cư Ngay sau khi Luật bảo vệ môi trường 2014 được thông qua, các văn bản quy định chi tiết thi hành luật đã được ban hành Các quy định bảo vệ môi trường liên quan tới tái định cư thủy điện được quy định tại một số văn bản,
Trang 4đó là: Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT 2014 có chương XIII quy định về cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ môi trường (từ Điều 50 đến Điều 54) và Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường đã có điều chỉnh “Dự án
có hạng mục di dân tái định cư” thành “Dự án di dân tái định cư” trong danh mục dự án phải lập đánh giá tác động môi trường Đây chính là căn cứ bắt buộc các dự án di dân tái định cư phải thực hiện đánh giá tác động môi trường Như vậy, so với giai đoạn trước khi Luật bảo vệ môi trường 2014 ban hành, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã được cụ thể hóa; này góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật môi trường trong công tác tái định cư thủy điện
Đối với công tác quản lý môi trường chung cấp tỉnh
Công tác quản lý môi trường chung được tăng cường và dần đi vào nề nếp, kịp thời ban hành các văn bản cụ thể hoá các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực quản lý môi trường Việc phối hợp giữa các ban ngành, các tổ chức đoàn thể, cơ quan thông tấn báo chí trong lĩnh vực tài nguyên và bảo vệ môi trường được các tỉnh quan tâm chỉ đạo Đã có sự phối hợp thường xuyên giữa các ban, ngành, các tổ chức đoàn thể, các cơ quan thông tấn báo chí trong công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường Việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong Kế hoạch bảo vệ môi trường về
cơ bản đã được triển khai Hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm, phát hiện và
xử lý kịp thời các cơ sở sản xuất kinh doanh vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; rà soát, hỗ trợ các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; tổ chức thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, dự án cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; đề án bảo vệ môi trường, xác nhận cam kết bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh được quan tâm thực hiện đồng bộ
Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại trong công tác quản lý môi trường cấp tỉnh Cụ thể, tiến độ triển khai các dự án, đề án về bảo vệ môi trường vẫn còn chậm, nhiều nội dung, chương trình về bảo vệ môi trường trong kế hoạch chưa triển khai được do thiếu kinh phí, cần ưu tiên tập trung cho những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm Việc xử lý các
Trang 5cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng trên địa bàn các tỉnh còn chậm Công tác quan trắc môi trường còn nhiều bất cập, thiết bị đầu tư chưa kịp thời, việc kiểm tra hoạt động sau cam kết đánh giá tác động môi trường chưa thường xuyên Nguồn kinh phí chi cho sự nghiệp môi trường tính trên 1%/tổng chi ngân sách nhà nước chưa đảm bảo, việc phân bổ đôi khi chưa khoa học, chưa thực sự hiệu quả Việc nhân rộng các điển hình tiên tiến, mô hình bảo vệ môi trường còn hạn chế
Đối với công tác quản lý môi trường tại các khu tái định cư thủy điện Sơn La
Hiện nay tổ vệ sinh của các khu tái định cư vẫn chưa có, hàng ngày chất thải phát sinh chưa được quét dọn, thu gom Cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường như hệ thống thoát nước mặt, hệ thống thu gom nước thải, rác sinh hoạt chưa được xây dựng Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường còn hạn chế Đánh giá tác động môi trường cho tái định cư chưa được thực hiện Chưa xây dựng được mô hình cộng đồng tự quản môi trường
Những hạn chế trên do nguồn ngân sách đầu tư cho các khu tái định cư hạn chế, phải ưu tiên tập trung cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, thủy lợi, cấp nước, ), hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống, nên vấn đề đầu tư cho môi trường chưa được quan tâm chú trọng Trước khi Luật bảo vệ môi trường 2014 thông qua, các dự án
di dân tái định cư không thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, dẫn đến dự án tái định cư thủy điện Sơn La không thực hiện đánh giá tác động môi trường trước khi triển khai Đội ngũ cán bộ làm công tác tái định cư cũng như quản lý về môi trường còn thiếu kỹ năng, kinh nghiệm họat động thực tế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (như hiểu biết phong tục tập quán, ngôn ngữ, tín ngưỡng), đã hạn chế rất nhiều đến hiệu quả công việc Thu nhập bình quân trong năm của các hộ gia đình còn thấp, dẫn đến ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao, và hiệu quả của công tác tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chưa được hiệu quả
Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý môi trường tại các khu tái
định cư thủy điện Sơn La
Trang 6Giải pháp ngắn hạn: Hiện nay, do chưa có hệ thống thu gom, xử lý rác thải, do đó,
cần phải xây dựng hệ thống phân loại, thu gom tập trung, vận chuyển, xử lý rác thải của các khu tái định cư và hệ thống nhà vệ sinh không gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, khó khăn về nguồn vốn đầu tư đang là trở ngại lớn nhất, do đó, chưa thể đầu tư hệ thống thu gom, xử lý chất thải tập trung cho vùng được Để giải quyết vấn đề này, trước mắt các địa phương cần thành lập đội vệ sinh môi trường (dọn đường làng, ngõ xóm, khơi thông cống tiêu, thoát nước thải, vận chuyển và thu gom rác thải) Bố trí các điểm tập kết rác tạm thời Phát động phong trào toàn dân dọn dẹp đường phố theo định kỳ nhằm thu gom lượng rác thải thải bừa bãi hiện nay tại các khu dân cư hiện nay tới nơi quy định Chính quyền địa phương cần bố trí hệ thống xe rác thu gom tại các điểm tập kết rác đến nơi xử lý
Giải pháp dài dạn: Để bảo vệ môi trường tốt nhất, phải xuất phát từ ý thức của
người dân sinh sống trên địa bàn, do đó, giải pháp trong dài hạn cần tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao ý thức của người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường Do
đó, cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng, bên cạnh đó, cần sớm ổn định đời sống người dân, để công tác giáo dục đạt hiệu quả Ngoài ra, trong dài hạn cần tính đến việc đầu tư hệ thống thu gom xử lý, tái chế rác thải cho địa phương
Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng: Để triển khai mô hình này, cần tiến hành
thành lập tổ chức tự quản về môi trường trực thuộc Ủy ban nhân dân xã hoặc thôn, thành phần gồm: Đại diện Ủy ban nhân dân xã (chủ tịch, phó chủ tịch) hoặc thôn (trưởng thôn) làm trưởng ban, đại diện của mặt trận tổ quốc, đại diện hội phụ nữ, đại diện Đoàn thanh niên, nhằm khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống, thực hiện các nhiệm vụ sau đây: Kiểm tra, đôn đốc các hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường; Tổ chức thu
gom, tập kết và xử lý rác thải, chất thải khác; Giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm, khu
phố, nơi công cộng; Xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước về bảo vệ môi trường; tuyên truyền, vận động nhân dân xoá bỏ các hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có hại cho môi
Trang 7trường; Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn